Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Bài 4. Chuyện người con gái Nam Xương

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Thanh
Ngày gửi: 16h:35' 10-11-2021
Dung lượng: 27.2 MB
Số lượt tải: 37
Số lượt thích: 0 người
Trong văn học dân gian và văn học viết của nước ta, người phụ nữ bình dân đã nêu cao những giá trị cao đẹp về đạo đức , phẩm chất. Nhưng sống trong xã hội phong kiến đầy rẫy những bất công , oan trái , họ phải chịu nhiều đau khổ và bất hạnh . Đọc " Chuyện người con gái Nam Xương " của Nguyễn Dữ ta thuơng Vũ Thị Thiết phải chịu nỗi oan khuất và để giải nỗi oan , nàng đã tìm tới cái chết thật thương tâm. Nguyên nhân vì sao mà nàng lại chọn cái chết, cô trò chúng ta sẽ tìm hiểu bài học này nhé!
Lời dẫn vào bài
Chuyện người con gái
Nam Xương
( Trích Truyền kì mạn lục )
NGUYỄN DỮ
I. TÌM HIỂU CHUNG
1. Tác giả
Nguyễn Dữ (chưa rõ năm sinh, năm mất), quê ở Hải Dương.

Nguyễn Dữ sống vào nửa đầu thế kỷ XVI, là thời kỳ Triều đình nhà Lê đã bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến Lê, Mạc, Trịnh tranh giành quyền lực, gây ra những cuộc nội chiến kéo dài.

Ông học rộng, tài cao nhưng chỉ làm quan một năm rồi cáo về, sống ẩn dật ở vùng núi Thanh Hoá. Đó là cách phản kháng của nhiều tri thức tâm huyết đương thời.
a. Xuất xứ: trích “Truyền kì mạn lục
“Chuyện người con gái Nam Xương” là truyện thứ 16 trong số 20 truyện nằm trong tác phẩm nổi tiếng nhất của Nguyễn Dữ “Truyền kỳ mạn lục” (ghi chép tản mạn những truyện kỳ lạ vẫn được lưu truyền). Viết bằng chữ Hán.
Truyện có nguồn gốc từ một truyện cổ dân gian trong kho tàng cổ tích Việt Nam “Vợ chàng Trương”.
được đánh giá là “Thiên cổ kì bút” (áng văn hay ngàn đời).
I. TÌM HIỂU CHUNG
2. Tác phẩm
a. Xuất xứ: trích “Truyền kì mạn lục
b. Thể loại: truyện truyền kì
Truyện truyền kì thường mô phỏng những cốt truyện từ dân gian hoặc dã sử. Sau đó, được tác giả sắp xếp lại tình tiết, bồi đắp thêm cho đời sống các nhân vật, đặc bệt là xen kẽ các yếu tố kì ảo…
I. TÌM HIỂU CHUNG
2. Tác phẩm
Là loại văn xuôi tự sự có nguồn gốc từ Trung Quốc và thịnh hành từ thời Đường,
Đền Vũ Điện (Đền Bà Vũ, miếu vợ chàng Trương), thuộc thôn Vũ Điện, xã Chân Lý, huyện Lý Nhân, Hà Nam.
c. Bố cục:
- Đoạn 1:… của mình: Cuộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ Nương, sự xa cách vì chiến tranh và phẩm hạnh của nàng trong thời gian xa cách.
- Đoạn 2: … qua rồi: Nỗi oan khuất và cái chết bi thảm của Vũ Nương.
- Đoạn 3: Còn lại: Cuộc gặp gỡ giữa Vũ Nương và Phan Lang trong đội Linh Phi. Vũ Nương được giải oan.
I. TÌM HIỂU CHUNG
2. Tác phẩm
Vũ Thị Thiết (Vũ Nương) là người phụ nữ nhan sắc, đức hạnh. Chồng nàng là Trương Sinh phải đi lính sau khi cưới ít lâu. Nàng ở nhà, một mình vừa nuôi con nhỏ vừa chăm sóc mẹ chồng đau ốm rồi làm ma chu đáo khi bà mất. Trương Sinh trở về, nghe lời con, nghi vợ thất tiết nên đánh đuổi đi. Vũ Nương uất ức gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn, được thần Rùa Linh Phi và các tiên nữ cứu. Sau đó Trương Sinh mới biết vợ bị oan. Ít lâu sau, Vũ Nương gặp Phan Lang, người cùng làng chết đuối được Linh Phi cứu. Khi Lang trở về, Vũ Nương nhờ gửi chiếc hoa vàng nhắn chàng Trương lập đàn giải oan cho nàng. Trương Sinh nghe theo, Vũ Nương ẩn hiện giữa dòng, nói vọng vào bờ lời tạ từ rồi biến mất.
Tóm tắt tác phẩm
I. TÌM HIỂU CHUNG
2. Tác phẩm
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
1. Nhân vật Vũ Nương
Giới thiệu
- Vũ nương được giới thiệu là người phụ nữ thùy mị, nết na, tư dung tốt đẹp.
- Chính vì cảm kích trước vẻ đẹp của nàng mà Trương Sinh đã xin mẹ “đem 100 lạng vàng cưới về”. Chi tiết này đã tô đậm vẻ đẹp nhan sắc và phẩm chất của nàng.
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
1. Nhân vật Vũ Nương
a. Vũ Nương là người phụ nữ có nhiều phẩm chất tốt đẹp:
Trong quan hệ với chồng:
Là người vợ thủy chung, luôn giữ gìn khuôn phép, yêu thương chồng hết mực, khát khao có một mái ấm gia đìnhg hạnh phúc:

Khi xây dựng gia đình, gắn kết cuộc đời với Trương Sinh, biết chồng có tính đa nghi, nàng luôn “giữ gìn khuôn phép, không từng lúc nào để vợ chồng phải thất hoà”

khao khát và luôn có ý thức xây dưng vun vén cho mái ấm gia đình, giữ gìn hạnh phúc cho trọn vẹn đó cũng là ước mơ chung của bất cứ người phụ nữ nào.
Trong cuộc sống vợ chồng
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
1. Nhân vật Vũ Nương
a. Vũ Nương là người phụ nữ có nhiều phẩm chất tốt đẹp:
Trong quan hệ với chồng:
Khi tiễn chồng đi lính
Nàng đặt hạnh phúc gia đình lên trên tất cả, khi chồng nàng phải đi lính, Vũ Nương rót chén rượu đầy với lời tiễn biệt đầy cảm động: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng mong được đeo ấn, phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang dượcc hai chữ bình yên”
=> Ước mong đó thật giản dị nhưng ẩn chứa sau đó là niềm khao khát và ý thức trân trọng giữ gìn mái ấm hạnh phúc gia đình mà nàng đang có. Mặt khác nó cũng khẳng định được tấm lòng thuỷ chung yêu thương và lo lắng cho chồng của Vũ Nương.
Nàng cảm thông cho những vất vả của chồng nơi biên ải: chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường…
Những tháng ngày Trương sinh đi lính, nàng luôn mong nhớ đợi chờ: “Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rũ bãi hoan, lại thổn thức tâm tình”
=> Phép ẩn dụ tượng trưng đã diễn tả đầy đủ được nỗi mong nhớ tháng ngày như biển trời cũng như đức hi sinh và tinh thần chịu đựng của người chinh phụ.
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
1. Nhân vật Vũ Nương
a. Vũ Nương là người phụ nữ có nhiều phẩm chất tốt đẹp:
Trong quan hệ với chồng:
Vũ Nương tỏ ra làn người vợ thủy chung, yêu thương chồng hết mực, luôn nhớ nhung chồng: “Mỗi khi bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được”
Nàng mơ về một tương lai gần sẽ lại bên chồng như hình với bóng: Dỗ con nàng chỉ cái bóng trên vách mà rằng cha Đản
Khi xa chồng
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
1. Nhân vật Vũ Nương
a. Vũ Nương là người phụ nữ có nhiều phẩm chất tốt đẹp:
Trong quan hệ với chồng:
Khi bị chồn nghi oan
- Khi bị chồng nghi oan, nàng hết sức phân trần để chồng hiểu. Qua những lời nói tha thiết đó, ta thấy được thái độ trân trọng và mong muốn được chồng thấu hiểu của nàng.
+ Nàng nhắc đến thân phận của mình: thiếp vốn con kẻ khó được nương tựa nhà giàu
+ Nàng khẳng định tấm lòng chung thủy: cách biệt ba năm giữ gìn một tiết
+ Nàng xin chồng đừng nghi oan: dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ
 Nàng đã hết lời tha thiết, hết lòng nhún nhường để cứu vãn, hàn gắn hạnh phúc gia đình
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
1. Nhân vật Vũ Nương
a. Vũ Nương là người phụ nữ có nhiều phẩm chất tốt đẹp:
Trong quan hệ với chồng:
Khi bị chồn nghi oan

Khi không còn hi vọng
+ Hạnh phúc gia đình, thú vui nghi gia, nghi thất là niềm khao khát và tôn thờ cả đời giờ đã tan vỡ
+ Tình yêu giờ đây đã được cụ thể hóa bằng những hình ảnh ước lệ: bình rơi, tram gẫy, mây tạnh mưa tan, sẽ rũ trong ao, liễu tàn trước gió
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
1. Nhân vật Vũ Nương
a. Vũ Nương là người phụ nữ có nhiều phẩm chất tốt đẹp:
Trong quan hệ với chồng:
Khi bị chồn nghi oan
Khi không còn hi vọng, nàng mượn bến Hoàng Giang để chứng minh tấm lòng trong sạch của mình.

+ Vũ Nương đã mượn bến Hoàng Giang để giãi tỏ tấm lòng trong trắng mà minh oan cho mình: thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho tôm cá, trên xin làm cơm cho diều quạ.
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
1. Nhân vật Vũ Nương
a. Vũ Nương là người phụ nữ có nhiều phẩm chất tốt đẹp:
Trong quan hệ với chồng:
Khi bị chồn nghi oan

Hành động kết liễu cuộc đời là hành động quyết liệt cuối cùng để bảo vệ phẩm giá của nàng.
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
1. Nhân vật Vũ Nương
a. Vũ Nương là người phụ nữ có nhiều phẩm chất tốt đẹp:
Trong quan hệ với chồng:
Khi ở dưới thủy cung
+ ở chốn làn mây cung nước nhưng nàng vẫn một lòng hướng về chồng con, quê hương và khao khát được đoàn tụ.
+ Nàng nhận ra Phan Lang người cùng làng
+ Nghe Phan Lang kể về chuyện gia đình của mình mà ứa nước mắt, xót thương.
+ Nàng khao khát được trả lại phẩm giá, danh dự: Gửi chiếc thoa vàng, nhờ Phan Lang nói với Trương Sinh lập đàn giải oan cho mình.
+ Nàng là người trọng tình, trọng nghĩa: dù thương nhớ chồng con, khao khát được đoàn tụ nhưng vẫn giữ lời hứa sống chết bên Linh Phi
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
1. Nhân vật Vũ Nương
a. Vũ Nương là người phụ nữ có nhiều phẩm chất tốt đẹp:
Trong quan hệ với mẹ chồng:
Nàng là một người con dâu hiếu thảo.
Vũ nương thay Trương Sinh làm tròn bổn phận của một người con: chăm sóc mẹ chồng khi già yếu, ốm đau“Lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn, thuốc thang, lễ bái thần phật”.
Khi mẹ chồng mất, nàng hết lòng thương xót “Phàm việc ma chay tế lễ như đối với cha mẹ để mình”.
Lời trăn trối của mẹ chồng trước khi mất đã khẳng định long hiếu thảo, tình cảm chân thành và công lao to lớn của Vũ Nương: “ Xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
1. Nhân vật Vũ Nương
a. Vũ Nương là người phụ nữ có nhiều phẩm chất tốt đẹp:
Trong quan hệ với con:
Ở nhà, Vũ Nương một mình vượt cạn, sinh bé Đản, vừa thực hiện thiên chức của người mẹ chăm sóc nuôi dưỡng con nhỏ, lại vừa thay chồng thực hiện chức trách của người cha dạy dỗ bé Đản.
Nàng còn là một người mẹ tâm lí, không chỉ chăm lo cho con về mặt vật chất, mà còn cả về mặ tinh thần: bé Đản sinh ra chưa biết mặt cha, lo con thiếu thốn tình cảm của cha nên chỉ vào cái bóng của mình trên vách mà bảo “ cha Đản”.
* Đánh giá: Vũ Nương không chỉ hoàn thành tốt trách nhiệm của một người vợ, người con, người mẹ, người cha mà còn là người trụ cột gia đình, người đem lại ngọn lửa ấm áp tình yêu thương thắp lên trong ngôi nhà vắng bóng đàn ông trụ cột. Nàng xứng đáng được hưởng những gì hạnh phúc, tuyệt vời nhất. Nhưng trớ trêu thay, hạnh phúc đã không mỉm cười với nàng.
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
1. Nhân vật Vũ Nương
b. Vũ Nương là người phụ nữ bất hạnh:
- Bị chồng nghi oan, đánh đập, đuổi đi
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
1. Nhân vật Vũ Nương
b. Vũ Nương là người phụ nữ bất hạnh:
Khi Trương Sinh trở về tưởng chừng như hạnh phúc sẽ mỉm cười với Vũ Nương nhưng đó lại là lúc những oan khuất đổ ập xuống cuộc đời và số phận nàng. Dù vậy trong nỗi oan khất tày trời thì những phẩm chất tốt đẹp của nàng càng có cơ hội toả sáng, đặc biệt là tấm lòng trinh bạch.
+ Thấy hạnh phúc đang có nguy cơ đứng trước bờ vực thẳm nàng cố phân trần, níu giữ, nàng cố phân trần trước thái độ độc đoán, gia trưởng nhất quyết đuổi đi của Trương Sinh : “Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết, tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót, đâu có sự hư thân mất nết như chàng nghĩ, dám mong bày tỏ để cởi mối nghi ngờ, xin chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp”.
+ Không thể tự minh oan cho mình được, nàng giã bày: “Thiếp nếu đoan trang giữ tiết trinh bạch gìn lòng vào nước xin làm ngọc Mỵ nương, xuống đất xin làm cỏ ngu mĩ, nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm,ủtên xin làm cơm cho diêù quạ và xin khắp mọi người phỉ nhổ”
 Tất cả những lời bộc bạch ấy đã gop phần minh chứng cho những phẩm hạnh tốp đẹp và tấm lòng trinh bạch thuỷ chung của Vũ Nương.
- Dù sống dưới thuỷ cung (ở một thế giới khác) nhưng nàng vẫn luôn hướng về chồng con. Điều này được thể hiện rõ trong câu chuyện giữa nàng với Phan Lang “Vả chăng, ngựa Hồ gầm gió Bắc, chim Việt đậu cành Nam. Cảm vì nỗi ấy , tôI tất phảI tìm về có ngày”. => Đó là tấm lòng nhân nghĩa, vị tha, nhân hậu và rất cao thượng của nàng, ngay cả đối với Trương Sinh –kẻ đã phụ bạc và ruồng rẫy nàng, vứt bỏ nàng không mảy may thương tiếc. Phẩm chất đáng quý đó đại diện cho biết bao người phụ nữ Việt Nam từ xưa tới nay.
- Chi tiết cuối truyện, Vũ Nương hiện về với câu nói : “Thiếp cảm ơn đức Linh Phi, Đa tạ tình chàng… không thể về nhân gian được nữa” Có ý nghĩa khắc sâu phẩm chất nhân hậu rộng lượng của người phụ nữ việt Nam: Sống nội tâm, có trước, có sau.
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
1. Nhân vật Vũ Nương
c. Nguyên nhân cái chết của Vũ Nương:
Trực tiếp
Gián tiếp
Chiếc bóng trên vách khiến bé Đản ngộ nhận đó là cha mình, khi người cha thật trở về thì không chịu nhận và vô tình gây ra hiểu lầm dẫn đến người mẹ bị nghi oan.
Tính cách cảu Trương Sinh: đa nghi, độc đoán, gia trưởng.
Cuộc hôn nhân không bình đẳng: Vũ Nương vốn là “ con kẻ khó” được Trương Sinh đem trăm lạng vàng mà cưới về. Hơn nữa xã hội cũ “ trọng nam khinh nữ”, người phụ nữ trong gia đình không có tiếng nói, Vũ Nương không thể minh oan cho mình.
- Chiến tranh phong kiến: Trương Sinh phải đi lính, nên không có cơ hội hiểu vợ.
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
2. Nhân vật Trương Sinh
Trước khi đi lính
Sau khi đi lính
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
2. Nhân vật Trương Sinh
- Xuất thân: Con nhà hào phú, không có học
- Hôn nhân: Xin lấy Vũ Nương vì mến dung hạnh  Cuộc hôn nhân khôn bình đẳng
- Bản tính: Đa nghi, phòng ngừa quá sức
Trước khi đi lính
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
2. Nhân vật Trương Sinh
Sau khi đi lính
- Hoàn cảnh: Đi lính vì không có học
- Nỗi đau: Xa lìa mẹ già, vợ dại, con thơ
- Bi kịch: Mất mẹ, kích động trước lời của con  Hiểu lầm vợ  Ghen mù quáng  Vợ chết oan  Không tỉnh ngộ, chỉ động lòng thương
TRƯƠNG SINH là hiện thân của chế độ phụ quyền phong kiến bất công, sự độc đoán đã giết chết tình người và dẫn đến bi kịch
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
3. Những đặc sắc nghệ thuật
Yếu tố kì ảo – Chi tiết
Vũ Nương được các tiên nữ rẽ nước cho xuống động rùa dưới thủy cung
Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa
Phan Lang vào động rùa của Linh Phi
Vũ Nương hiện về sau khi Trương Sinh lập đàn giải oan cho nàng ở bến sông Hoàng Giang
Yếu tố kì ảo – Ý nghĩa
Tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện
Hoàn chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của Vũ Nương
Kết thúc phần nào có hậu  Ở hiền gặp lành
Lên án chế độ phong kiến + Khẳng định niềm cảm thương của tác giả
01
Khi Trương Sinh đi vắng
Khi Trương Sinh bế con ra viếng mẹ
02
Khi Vũ Nương đã chết
03
Chi tiết cái bóng – Vị trí xuất hiện
01
Thể hiện tình yêu thương con của Vũ Nương
Chi tiết “thắt nút”, đẩy mâu thuẫn lên đỉnh điểm
02
Chi tiết “mở nút”, hóa giải nỗi oan cho Vũ Nương
03
Chi tiết cái bóng – Ý nghĩa
Đánh giá
Bóc trần bản chất gia trưởng của người đàn ông trong xã hội phong kiến.
Thể hiện số phận đau khổ, bất hạnh của người phụ nữ.
III. TỔNG KẾT
3. Những đặc sắc nghệ thuật
a. Giá trị hiện thực
Phản ánh một cách chân thực số phận bất hạnh của người phụ nữ dưới chế độ PK
Lên án hiên thực xã hội phong kiến đầy những bất công, lễ giáo hà khắc, trọng nam khinh nữ.
Lên án: chiến tranh phi nghĩa dẫn đến cảnh chia lì
III. TỔNG KẾT
3. Những đặc sắc nghệ thuật
b. Giá trị nhân đạo
Khám phá, bên vực, trân trọng những vẻ đẹp phẩm chất của người phụ nữ.
Thể hiện niềm tin vào một tương lai tốt đẹp. Đề cao một quan niệm trong dân gian: ở hiền gặp lành
Nghệ thuật
Xây dựng nhân vật
Xây dựng tình huống
Ngôn ngữ đối thoại, lời tự bạch làm nổi bật tâm lí và tính cách nhân vật
Nhân vật mang tính điển hình
Ý nghĩa của chi tiết “cái bóng” – chi tiết mở nút, thắt nút
Vận dụng những yếu tố tưởng tượng kì ảo có tác dụng đặc sắc
Trên cơ sở tình huống có sẵn, tác giả đã thêm bớt diễn biến  tình huống tăng tính bi kịch
Nội dung
Giá trị hiện thực
Giá trị nhân đạo
Tố cáo xã hội phong kiến nam quyền, bất công
Chiến tranh phi nghĩa loạn lạc đã chia cắt gia đình gây nên bi kịch cho người dân
Thể hiện niềm cảm thương đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến
Khẳng định vẻ đẹp truyền thống và phẩm chất của người phụ nữ VN
Lại bài viếng Vũ thị
Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương,
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương.
Bóng đèn dầu nhẫn đừng nghe trẻ,
Cung nước chi cho lụy đến nàng.
Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt,
Giải oan chẳng lọ mấy đàn tràng.
Qua đây bàn bạc mà chơi vậy,
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng.
Lê Thánh Tông
Có 11 câu hỏi liên quan đến tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương.
- Người chơi sẽ có 10 giây để trả lời mỗi câu hỏi.
Điểm số sẽ được lưu vào sổ điểm.
THỂ LỆ
Văn bản Chuyện người con gái Nam Xương trích từ tác phẩm nào?
ANS
BACK
TIME
20
Truyền kì mạn lục
Trong phần đầu tác phẩm Vũ Nương được giới thiệu như thế nào?
ANS
BACK
TIME
20
Nết na, thùy mị, tư dung tốt đẹp.
Vì sao Trương Sinh đem trăm lạng vàng cưới Vũ Nương về?
ANS
BACK
TIME
20
Mến vì dung hạnh.
Nguyên nhân chính khiến Trương Sinh đẩy Vũ Nương phải chọn cái chết?
ANS
BACK
TIME
20
Ghen tuông quá mức.
Các cụm từ “sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió, én lìa đàn, hoa rụng cuống…” có ý nghĩa gì?
ANS
BACK
TIME
20
Chỉ sự chia lìa, tan vỡ.
Vũ Nương đã gieo mình tự vẫn ở đâu?
ANS
BACK
TIME
20
Sông Hoàng Giang
Theo lời than của Vũ Nương, nếu nàng trong sạch, khi chết sẽ hóa thân như thế nào?
ANS
BACK
TIME
20
Vào nước làm ngọc Mị Nương, xuống đất làm cỏ Ngu mĩ.
Phan Lang có mối quan hệ như thế nào với Vũ Nương?
ANS
BACK
TIME
20
Người cùng làng.
Vũ Nương đã gửi Phan Lang mang vật gì về cho Trương Sinh?
ANS
BACK
TIME
20
Chiếc hoa vàng
Nhận xét về số phận người phụ nữ được thể hiện trong tác phẩm?
ANS
BACK
TIME
20
Oan trái, bất hạnh
Nghệ thuật đặc sắc nhất của tác phẩm là gì?
ANS
BACK
TIME
20
Kết hợp yếu tố thực và yếu tố kì ảo.
ĐỀ ĐỌC- HIỂU SỐ 1:
Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
“ Vũ Thị Thiết, người con gái Nam Xương, tính tình đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp. Trong làng có chàng Trương Sinh, mến vì dung hạnh, xin mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Song Trương Sinh có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức. Nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải bất hòa. Cuộc sum vầy chưa được bao lâu thì xảy ra việc triều đình bắt lính đi đánh giặc Chiêm. Trương tuy con hào phú nhưng không có học, nên phải ghi trong sổ lính vào loại đầu”.

Câu 1: Cho biết tên văn bản, tác giả có chứa đoạn trích trên?
Câu 2: Đoạn trích trên được viết theo phương thức biểu đạt nào?
Câu 3: Nội dung của đoạn trích trên là gì?
Câu 4: Giải thích cụm từ “tư dung tốt đẹp” và từ “dung hạnh” được sử dụng trong hai câu đầu đoạn trích.
Câu 5: Em hãy chỉ ra phương thức liên kết trong đoạn văn trên?
Câu 6: Tìm thành phần biệt lập được sử dụng trong đoạn trích trên?
Hướng dẫn trả lời
Câu 1: Văn bản: Chuyện người con gái Nam Xương- Nguyễn Dữ
Câu 2: Đoạn trích trên được viết theo phương thức tự sự.
Câu 3: Nội dung chính: giới thiệu về nhân vật Vũ Nương - người con gái đẹp người đẹp nết được Trương Sinh, con nhà hào phú, cưới về làm vợ.
Câu 4: 
- Tư dung tốt đẹp: nhan sắc và dáng vẻ tốt đẹp.
    - Dung hạnh: chỉ nhan sắc và đức hạnh.
Ý nói Vũ Nương là người con gái không chỉ đẹp về ngoại hình, dung nhan mà còn có đức hạnh.
Câu 5: Phương thức liên kết trong đoạn văn trên: phép nối, phép lặp, phép thế.
    - Phép nối: từ ngữ để nối “song”.
    - Phép thế: từ “nàng”, “vợ” thay thế cho từ “Vũ Nương”.
    - Phép lặp: từ “Trương Sinh”.
Câu 6: Thành phần biệt lập: thành phần phụ chú (người con gái quê ở Nam Xương), nhằm bổ sung thông tin về quê quán cho nhân vật được kể.
ĐỀ ĐỌC- HIỂU SỐ 2:
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Nàng bất đắc dĩ nói:
- Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng, vì có cái thú vui nghi gia nghi thất. Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió; khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồm xa, đâu còn có thể lên núi Vọng Phu kia nữa.
( Chuyện người con gái Nam Xương- Nguyễn Dữ)
Câu 1: Vũ Nương nói câu nói trên trong hoàn cảnh nào?
Câu 2: Cụm từ “thú vui nghi gia nghi thất” có nghĩa là gì?
Câu 3: Nêu hàm ý của câu văn: Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió; khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cát én lìa đàn, nước thấm buồm xa, đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa. 
Câu 4: Chỉ ra phép tu từ được sử dụng trong đoạn văn trên, nêu tác dụng?
Hướng dẫn trả lời
Câu 1: Vũ Nương nói câu trên khi bị chồng nghi oan nàng hai lòng, không chung thủy.
Câu 2: Thú vui nghi gia nghi thất: ý nói nên cửa nên nhà, thành vợ thành chồng, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình.
Câu 3: Hàm ý: Vũ Nương đau khổ tới tột cùng vì hạnh phúc lứa đôi tan vỡ, ngay cả việc chờ đợi chồng, trông ngóng chồng như trước kia cũng không thể. Vũ Nương thất vọng khi bị Trương Sinh ruồng bỏ, tình vợ chồng gắn bó bấy lâu tan vỡ.
Câu 4: Trong câu nói của Vũ Nương có nhiều hình ảnh mang tính ẩn dụ:
    + Bình rơi trâm gãy.
    + Sen rũ trong ao.
    + Liễu tàn trước gió.
    + Kêu xuân cái én lìa đàn.
    + Nước thẳm buồm xa.
+ Lên núi vọng phu.
- Chọn phân tích hình ảnh ẩn dụ “trâm gãy bình tan” hình ảnh của sự chia lìa, tan vỡ, mượn hình ảnh trâm gãy, bình tan để nói về hiện trạng tình vợ chồng của Vũ Nương nay đã tan vỡ.
ĐỀ ĐỌC- HIỂU SỐ 3:
Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi bên dưới:
“ Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngày chứng giám. Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ, và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ”.
Câu 1: Lời nói của Vũ Nương chứng tỏ điều gì về nhân vật này?
Câu 2: Nguyên nhân nào dẫn tới cái chết của Vũ Nương?
Câu 3: Trong “Chuyện người con gái Nam Xương”, chi tiết cái bóng có ý nghĩa gì?
Câu 4: Viết đoạn văn quy nạp (khoảng 10 câu - 12 câu) có sử dụng phép lặp và một câu có thành phần biệt lập, cảm nhận của em về nhân vật Vũ Nương.
Hướng dẫn trả lời
Câu 1: Lời nói của Vũ Nương chứng tỏ nàng là người ngay thẳng, trong sạch.
    - Lời than của nàng trước trời cao, sông thẳm là sự minh chứng cho tấm lòng trinh bạch, nàng muốn được thần sông chứng giám cho nỗi oan khuất cũng như ghi nhận đức hạnh của nàng.
Câu 2: Nguyên nhân dẫn tới cái chết của Vũ Nương
    - Nguyên nhân trực tiếp: lời nói ngây thơ của đứa con (bé Đản), bé Đản không chịu nhận Trương Sinh là cha.
    - Nguyên nhân gián tiếp:
       + Do người chồng tính tình đa nghi, hay ghen, gia trưởng.
       + Cách cư xử nóng nảy, hồ đồ, phũ phàng của Trương Sinh.
       + Chiến tranh phi nghĩa nổ ra, gây ra sinh li từ biệt.
      + Do xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, lời nói của người phụ nữ không được coi trọng.
Câu 3: 
Cái bóng trong câu chuyện có ý nghĩa đặc biệt vì đây là chi tiết tạo nên cách thắt nút, mở nút hết sức bất ngờ.
- Cái bóng có ý nghĩa thắt nút câu chuyện vì :
+ Đối với Vũ Nương: Trong những ngày chồng đi xa, vì thương nhớ chồng, vì không muốn con nhỏ thiếu vắng bóng người cha nên hàng đêm, Vũ Nương đã chỉ bóng mình trên tường, nói dối con đó là cha nó. Lời nói dối của Vũ Nương với mục đích hoàn toàn tốt đẹp.
+ Đối với bé Đản: Mới 3 tuổi, còn ngây thơ, chưa hiểu hết những điều phức tạp nên đã tin là có một người cha đêm nào cũng đến, mẹ đi cũng đi, mẹ ngồi cũng ngồi, nhưng nín thin thít và không bao giờ bế nó.
+ Đối với Trương Sinh: Lời nói của bé Đản về người cha khác (chính là cái bóng) đã làm nảy sinh sự nghi ngờ vợ không thuỷ chung, nảy sinh thái độ ghen tuông và lấy đó làm bằng chứng để về nhà mắng nhiếc, đánh đuổi Vũ Nương đi để Vũ Nương phải tìm đến cái chết đầy oan ức.
- Cái bóng cũng là chi tiết mở nút câu chuyện.
Chàng Trương sau này hiểu ra nỗi oan của vợ cũng chính là nhờ cái bóng của chàng trên tường được bé Đản gọi là cha.
Bao nhiêu nghi ngờ, oan ức của Vũ Nương đều được hoá giải nhờ cái bóng.
- Chính cách thắt, mở nút câu chuyện bằng chi tiết cái bóng đã làm cho cái chết của Vũ Nương thêm oan ức, giá trị tố cáo đối với xã hội phong kiến nam quyền đầy bất công với người phụ nữ càng thêm sâu sắc hơn.
Câu 4: Đoạn văn tham khảo:
    Vũ Nương, người con gái đức hạnh, luôn giữ gìn khuôn phép dù Trương Sinh có đa nghi và phòng ngừa quá sức thì gia đình vẫn chưa bao giờ xảy ra tranh chấp, bất hòa. Khi chiến tranh nổ ra, chồng nàng phải ra trận, Vũ Nương tiễn chồng ra trận vẫn ân cần dặn dò chồng những lời ân tình, mong ngày về chồng mang theo hai chữ bình an. Ở nhà, nàng một mực giữ tiết, chăm sóc chu toàn gia đình, những mong sớm có ngày đoàn tụ với chồng. Nào đâu, sóng gió ập tới, lời nói ngây thơ của đứa con bé bỏng đã khiến tính đa nghi của chồng nàng nổi dậy. Bị chồng ruồng rẫy, hắt hủi, nàng nói tới thân phận của mình và khẳng định tấm lòng thủy chung trong trắng nhưng mối nghi ngờ ở Trương Sinh vẫn khôn nguôi. Không còn lại gì, lòng nàng dâng trào nỗi thất vọng tột cùng, nỗi đau đớn ê chề bởi hạnh phúc gia đình không có cách nào hàn gắn nổi. Nỗi oan khuất trời không thấu, khiến mọi sự chịu đựng, hy sinh trước đó đều vô nghĩa. Nàng giải thích trong sự bất lực và tuyệt vọng đắng cay trước sự đối xử nhẫn tâm của chồng.
- Phép lặp: Vũ Nương
 
Gửi ý kiến