Bài 5. Hoàng Lê nhất thống chí - Hồi thứ mười bốn

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Cao Tuấn
Ngày gửi: 20h:22' 16-11-2021
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 107
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Cao Tuấn
Ngày gửi: 20h:22' 16-11-2021
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 107
Số lượt thích:
0 người
MÔN NGỮ VĂN 9
TRƯỜNG THCS THỦY LIỄU GÒ QUAO – KIÊN GIANG
GIÁO VIÊN: NGUYỄN CAO TUẤN
Cho đoạn văn sau:”
…“Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi.”.
a) Đoạn văn trên trích trong tác phẩm nào? Do ai sáng tác?
b) Đây là lời thoại của ai? Lời thoại đó được nhân vật nói trong hoàn cảnh nào?
c) Qua lời thoại, nhân vật đã bộc lộ vẻ đẹp gì?
ĐÁP ÁN
a)- Tác phẩm: “Chuyện người con gái Nam Xương”.
- Tác giả : Nguyễn Dữ.
b)- Đây là lời thoại của nhân vật Vũ Nương.
- Lời thoại được nhân vật nói trong buổi tiễn chồng ra trận.
c) Qua lời thoại, Vũ Nương bộc lộ vẻ đẹp thùy mị, nết na của người phụ nữ bình dân, nàng chỉ mong muốn hạnh phúc gia đình giản dị, mong chồng được bình an để vợ chồng sum họp, mà không màng vinh hoa phú quý.
Kiểm tra bài cũ
Ngô gia văn phái
Văn bản – Tiết 18- 20
HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ
Văn bản:
HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ (NGÔ GIA VĂN PHÁI)-HỒI THỨ 14
(Đánh Ngọc Hồi, quân Thanh bị thua trận.
Bỏ Thăng Long, Chiêu Thống trốn ra ngoài)
1/ Tỏc gi?: Ngụ Gia Van Phỏi:
- Dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai – Hà Tây (cũ). Đó là dòng họ lớn nổi tiếng đỗ cao có tài văn học. Một số người trong gia đình đó đã viết chung tác phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí.
- Trong đó có hai tác giả chính là:
+ Ngô Thì Chí (1753 - 1788) - em ruột Ngô Thì Nhậm làm quan dưới thời Lê Chiêu Thống, tuyệt đối trung thành với nhà Lê, từng chạy theo Lê Chiêu Tống khi Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh. Dâng “Trung hưng sách” bàn kế khôi phục nhà Lê. Sau đó, được Lê Chiêu Thống cử đi Lạng Sơn chiêu tập những kẻ lưu vong lập nghĩa binh chống lại Tây Sơn. Trên đường đi, ông bị bệnh mất tại Bắc Ninh, viết 7 hồi đầu tiên.
+ Ngô Thì Du (1772 - 1840) làm quan dưới triều nhà Nguyễn, là tác giả của 7 hồi tiếp theo (trong đó có hồi thứ 14), anh em chú bác ruột với Ngô Thì Chí, học giỏi nhưng không đỗ đạt. Dưới triều Tây Sơn, ông sống ẩn ở Hà Nam. Thời nhà Nguyễn ông làm quan đến năm 1827 thì về nghỉ.
+ Ngoài ra còn 3 hồi cuối có thể do một số người khác trong dòng họ Ngô Thì viết vào khoảng đầu triều Nguyễn.
- Họ là những người rất trung thành với nhà Lê.
I. TÌM HIỂU CHUNG:
2.Tác phẩm
- Hoàn cảnh sáng tác:
Tác phẩm viết trong khoảng thời gian dài ở nhiều thời điểm khác nhau, trong giai đoạn đầy biến động của xã hội Việt Nam (khoảng cuối thế kỉ XVIII đầu TK XIX). Chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng, bão táp phong trào nông dân nổ ra ở khắp nơi, tiêu biểu là phong trào Tây Sơn.
- Xuất xứ:
Tác phẩm có 17 hồi (được học hồi thứ 14 do Ngô Thì Du viết)
- Đọc- chú thích:
Hịch
Chiếu
Cáo
Tấu
Chí: Ghi chép lại sự vật, sự việc.
Tiểu thuyết lịch sử.
b.Thể loại:
- Thể loại
- Phương thức biểu đạt:
Tự sự
-Ý nghĩa nhan đề:
Hoàng Lê nhất thống chí (An Nam thống nhất chí): ghi chép về sự thống nhất của vương triều nhà Lê vào thời điểm Tây Sơn diệt Trịnh, trả lại Bắc Hà cho vua Lê.
- Đại ý:
Miêu tả chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung và sự thất bại thảm hại của quân tướng nhà Thanh cùng số phận của bọn vua quan phản nước hại dân.
-Tác dụng:
+ Tạo tính chân thực.
+ Không gian truyện được mở rộng.
+ Người kể dễ dàng đan xen những suy nghĩ, bình luận làm câu chuyện thêm sinh động…
- Ngôi kể:
Thứ 3
- Bố cục:
Bố cục: 3 phần
Phần1
Từ đầu -> Năm Mậu Thân 1788:
Quang Trung chuẩn bị tiến quân ra Bắc.
Phần2
Tiếp ->kéo vào thành:
Cuộc hành quân thần tốc và những chiến thắng lẫy lừng.
Phần3
Còn lại:
Sự thảm bại của bè lũ bán nước, cướp nước.
Quân Thanh kéo vào chiếm thành Thăng Long, tướng Tây Sơn là Ngô Văn Sở lui quân về vùng núi Tam Điệp. Nhận được tin đó, Nguyễn Huệ rất tức giận, định thân chinh cầm quân đi đánh giặc ngay. Nhưng nghe lời khuyên can của các tướng lĩnh, Ngày 25, ông lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Quang Trung, tự mình đốc suất đại binh tiến quân ra Bắc để dẹp Thanh. Ngày 29 đến Nghệ An, vua gặp La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp để hỏi cơ mưu đánh giặc. Dọc đường đi, vua cho kén thêm lính, mở một cuộc duyệt binh lớn, rồi ra lời phủ dụ tướng sĩ. Ngày 30, đến Tam Điệp hội ngộ với cánh quân của tướng Sở, và Lân. Tại đây vua mở tiệc khao quân và hẹn đến mồng 7 Tết thắng giặc sẽ mở tiệc ăn mừng ở Thăng Long. Tối 30 Tết, Quang Trung chia quân làm năm đạo kéo quân ra Bắc. Ngày 3 Tết, đánh chiếm đồn Hà Hồi. Mờ sáng 5 Tết đánh đồn Ngọc Hồi, tướng giặc là Sầm Nghi Đống tự thắt cổ chết. Trưa mồng 5 Tết tiến quân vào Thăng Long. Trước khí thế như vũ bão của nghĩa quân Tây Sơn, tướng nhà Thanh là Tôn Sĩ Nghị vội vã tháo chạy về nước, Vua Lê Chiêu Thống cùng gia quyến chạy trốn theo trong sự nhục nhã kinh hoàng.
Tóm tắt:
- Quân Thanh kéo vào Thăng Long, tướng Tây Sơn là Ngô Văn Sở lui quân về vùng núi Tam Điệp.
Bảng liệt kê các sự việc chính
- Nhận tin báo, Nguyễn Huệ rất tức giận, định đi đánh giặc ngay.
- Lên ngôi hoàng đế,
- Đốc suất đại binh tiến quân ra Bắc
Đến Nghệ An:
- Gặp Nguyễn Thiếp.
-Tuyển thêm lính
- Tổ chức cuộc duyệt binh lớn,
- Ra lời phủ dụ tướng sĩ.
Đến Tam Điệp:
- Xử trí hai tướng Sở và Lân,
- Mở tiệc khao quân,
- Tối 30 Tết lên đường ra Bắc…
- Công phá đồn Hà Hồi.
- Mờ sáng đánh chiếm đồn Ngọc Hồi,
- Trưa tiến quân vào chiếm kinh thành Thăng Long.
1.Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ- Quang Trung:
Khi Bắc Bình Vương được tin cấp báo quân Thanh đã đến Thăng Long, Ông đã có phản ứng như thế nào?
Nghe tin: Giận lắm, họp tướng sĩ, định thân chinh cầm quân đi ngay.
Khi mọi người đến họp đã khuyên Ông điều gì? Ông đã hành động như thế nào?
Nghe lời tướng sĩ lên ngôi Hoàng đế, sau đó hạ lệnh xuất quân (25/12/1788).
Khi nghe mọi người đến họp khuyên Quang Trung đã có nghe lời tướng sĩ, lên ngôi Hoàng đế... Việc làm đó chứng tỏ Ông là con người như thế nào?
Thấu hiểu lẽ phải, có ý chí quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược.
II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:
1.Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ- Quang Trung:
- Thấu hiểu lẽ phải, có ý chí quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược.
Ngày 29 tháng 12 đến Nghệ An:
Ngày 29 tháng 12 Quang Trung đó đến địa danh nào? Ở đây Ông đó có những việc làm gì?
Gặp ngưười cống sĩ ở La Sơn hỏi việc đánh giặc.
Kén lính ở Nghệ An và mở cuộc duyệt binh lớn.
Sắp xếp đội ngũ và truyền cho quân sĩ ngồi nghe phủ dụ.
Chỉ trong vòng ngày 29 Quang Trung làm được bao nhiêu là việc lớn. Những việc làm đó cho thấy Ông là một người luôn hành động như thế nào?
Hành động mạnh mẽ, quyết đoán.
II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:
1.Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ- Quang Trung:
- Thấu hiểu lẽ phải, có ý chí quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược.
- Hành động mạnh mẽ, quyết đoán.
… “Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị. Người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác. Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương Bắc. Ở các thời ấy, Bắc, Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Đinh tới đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi nội thuộc xưa kia. Mọi việc lợi, hại, được, mất ấy đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước. Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông gương đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng. Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn. Chớ có quen theo thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai, chớ bảo là ta không nói trước!”.
“ Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa?
- Thông báo đất nước lâm nguy có giặc Thanh sang xâm lược.
Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị.
- Khẳng định chủ quyền của đất nước.
… Người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác. Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi.
- Nêu bật dã tâm xâm lược của giặc đã có từ lâu, lên án hành
động xâm lược phi nghĩa của giặc là trái với đạo trời.
… Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương Bắc. Ở các thời ấy, Bắc, Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Đinh tới đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi nội thuộc xưa kia. Mọi việc lợi, hại, được, mất ấy đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước.
- Tự hào về truyền thống đánh giặc cứu nước của ông cha ta.
Tin tưởng vào cuộc kháng chiến chính nghĩa sẽ tất thắng.
… Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông gương đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng. Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn.
- Kêu gọi tướng sĩ đoàn kết một lòng đánh giặc cứu nước.
Chớ có quen theo thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai, chớ bảo là ta không nói trước!”.
- Ra kỷ luật nghiêm với quân sĩ.
- Thông báo đất nước lâm nguy có giặc Thanh sang xâm lược.
- Khẳng định chủ quyền của đất nước.
- Nêu bật dã tâm xâm lược của giặc đã có từ lâu, lên án hành
động xâm lược phi nghĩa của giặc là trái với đạo trời.
- Tự hào về truyền thống đánh giặc cứu nước của ông cha ta.
Tin tưởng vào cuộc kháng chiến chính nghĩa sẽ tất thắng.
- Kêu gọi tướng sĩ đoàn kết một lòng đánh giặc cứu nước.
Ý nghĩa của lời phủ dụ: Lời phủ dụ thấu tình đạt lý như lời hịch, khích lệ, động viên tinh thần binh sĩ phấn khởi đánh giặc cứu nước.
- Ra kỷ luật nghiêm với quân sĩ.
II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:
1.Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ- Quang Trung:
- Thấu hiểu lẽ phải, có ý chí quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược.
- Hành động mạnh mẽ, quyết đoán.
- Viết lời phủ dụ thấu tình đạt lý như lời hịch, khích lệ, động viên tinh thần binh sĩ phấn khởi đánh giặc cứu nước.
->Trí tuệ, sáng suốt và nhạy bén.
Từ lời phủ dụ quân sĩ trên em thấy tài năng nào của Nguyễn Huệ được bộc lộ ?
Ngày 30 tháng 12 năm 1788:
Sau khi mở cuộc duyệt binh vào ngày 29 ở Nghệ An. Ngày hôm sau (30 Tết) Quang Trung đã có quyết định gì?
Hạ lệnh xuất quân đến Tam Điệp.
Mở tiệc khao quân.
Xử trí hai tướng Sở và Lân
Hoạch định kế sách đánh giặc và tính kế hoạch ngoại giao sau chiến tranh.
Tại Tam Điệp, Quang Trung đã có những việc làm nào?
Tối 30 Tết thì lên đường tiến quân ra Thăng Long.
- Sáng suốt trong việc dùng người.
- Có tầm nhìn xa trông rộng.
- Ý chí quyết chiến, quyết thắng.
II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:
1.Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ- Quang Trung:
- Thấu hiểu lẽ phải, có ý chí quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược.
- Hành động mạnh mẽ, quyết đoán.
- Viết lời phủ dụ thấu tình đạt lý như lời hịch, khích lệ, động viên tinh thần binh sĩ phấn khởi đánh giặc cứu nước. ->Trí tuệ, sáng suốt và nhạy bén.
- Sáng suốt trong việc xét đoán và dùng người.
- Ý chí quyết thắng và tầm nhìn xa trông rộng của một nhà chính trị có tư tưởng chuộng hòa bình.
- Ngày 30 tết mở tiệc khao quân. Đến tối 30 Tết kéo quân ra Thăng Long hẹn ngày 7 tháng giêng vào Thăng Long mở tiệc ăn mừng...
Đến Tam Điệp:
- Xử trí các tướng lĩnh
- Phương hướng chiến lược.
=> Năng lực tiên đoán chính xác của một nhà quân sự đại tài…
II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:
1.Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ- Quang Trung:
- Thấu hiểu lẽ phải, có ý chí quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược.
- Hành động mạnh mẽ, quyết đoán.
- Viết lời phủ dụ thấu tình đạt lý như lời hịch, khích lệ, động viên tinh thần binh sĩ phấn khởi đánh giặc cứu nước. ->Trí tuệ, sáng suốt và nhạy bén.
- Sáng suốt trong việc xét đoán và dùng người.
- Ý chí quyết thắng và tầm nhìn xa trông rộng của một nhà chính trị có tư tưởng chuộng hòa bình.
- Năng lực tiên đoán chính xác của một nhà quân sự đại tài…
+Phú Xuyên:
- Bắt sống toàn bộ bọn nghĩa binh cùng quân Thanh đi do thám mà vẫn giữ được bí mật.
+ Hà Hồi:
- Đánh nghi binh: bí mật bao vây kín làng, bắc loa truyền gọi
-> địch sợ hãi xin hàng.
Cách đánh giặc:
+ Ngọc Hồi:
+ Mũi chính:
- Quang Trung trực tiếp chỉ huy.
- Vua cưỡi voi đi đốc thúc, quân dàn trận chữ nhất, đánh giap lá cà.
+ Mũi phụ:
- Bao vây đường rút lui của giặc, cho voi giày đạp.
+ Kết quả: - Quân Thanh bỏ chạy tán loạn, giầy xéo lên nhau mà chết, Sầm Nghi Đống thắt cổ tự vẫn.
II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:
1.Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ- Quang Trung:
- Thấu hiểu lẽ phải, có ý chí quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược.
- Hành động mạnh mẽ, quyết đoán.
- Viết lời phủ dụ thấu tình đạt lý như lời hịch, khích lệ, động viên tinh thần binh sĩ phấn khởi đánh giặc cứu nước. ->Trí tuệ, sáng suốt và nhạy bén.
- Sáng suốt trong việc xét đoán và dùng người.
- Ý chí quyết thắng và tầm nhìn xa trông rộng của một nhà chính trị có tư tưởng chuộng hòa bình.
- Năng lực tiên đoán chính xác của một nhà quân sự đại tài…
- Đánh trận với kế sách bí mật, bất ngờ đảm bảo thắng lợi mà không hao binh tổn tướng.
Quang Trung là bậc kỳ tài quân sự, văn võ song toàn.
Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống được miêu tả như thế nào? Cùng là miêu tả hai cuộc tháo chạy nhưng cách miêu tả khác nhau ra sao?
2. Số phận thảm bại của bọn cướp nước và lũ bán nước:
Hình ảnh quân nhà Thanh vượt sông Hồng
hoảng sợ bỏ chạy về nước
=> Thất bại thảm hại.
2. Số phận thảm bại của bọn cướp nước và lũ bán nước:
a. Hình ảnh bọn cướp nước:
- Khi tiến vào nước ta:
+ Vào Thăng Long như vào chỗ không người.
+ Quân lính thoả sức cướp bóc, ức hiếp dân ta.
- Khi quân Tây Sơn đánh:
+ Rụng rời sợ hãi, xin hàng.
+ Bỏ chạy tán loạn.
+ Sầm Nghi Đống thắt cổ chết.
+ Tôn Sĩ Nghị không kịp mặc giáp, cưỡi ngựa không kịp đóng yên chạy trốn.
b. Hình ảnh vua quan nhà Lê:
- Cầu viện quân Thanh: Thấy quân Thanh không đề phòng, vua Lê rất lo sợ.
- Khi quân Thanh bỏ chạy:
+ Vua quan cùng đưa Thái hậu chạy trốn theo.
+ Nhờ viên thổ hào cho ăn, ở.
+ Đến cửa ải: nhìn nhau chảy nước mắt.
c. Nghệ thuật:
Kể chuyện xen kẽ miêu tả một cách sinh động.
Cả 2 cuộc tháo chạy đều tả thực, với những chi tiết cụ thể, nhưng âm hưởng khác nhau:
+ Đoạn miêu tả quân Thanh: nhịp điệu nhanh, mạnh, hối hả - thể hiện sự hả hê sung sướng của người thắng trận.
+ Đoạn miêu tả vua Lê Chiêu Thống: nhịp điệu chậm hơn, âm hưởng có phần ngậm ngùi chua xót.
III. Tổng kết:
1. Nội dung: Ghi nhớ (sgk)
2. Nghệ thuật:
- Lựa chọn trình tự kể theo diễn biến các sự kiện lịch sử
- Khắc họa nhân vật lịch sử với ngôn ngữ kể, tả chân thực, sinh động.
- Có giọng điệu trần thuật thể hiện thái độ của các tác giả với vương triều nhà Lê, với chiến thắng của dân tộc và với bọn giặc cướp nước.
3. Ý nghĩa:
Văn bản ghi lại hiện thực lịch sử hào hùng của dân tộc ta và hình ảnh người anh hùng Nguyễn Huệ trong chiến tháng mùa xuân năm Kỉ Dậu (1789).
1753-1792
Tượng đài Quang Trung ở Bình Định
HƯỚNG DẪN VỀ NHÀ :
- Học bài, ghi nhớ (SGK)
- Đọc lại truyện.
- Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về hình ảnh Nguyễn Huệ - Quang Trung.
- Soạn : “Truyện Kiều”- Nguyễn Du
TRƯỜNG THCS THỦY LIỄU GÒ QUAO – KIÊN GIANG
GIÁO VIÊN: NGUYỄN CAO TUẤN
Cho đoạn văn sau:”
…“Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi.”.
a) Đoạn văn trên trích trong tác phẩm nào? Do ai sáng tác?
b) Đây là lời thoại của ai? Lời thoại đó được nhân vật nói trong hoàn cảnh nào?
c) Qua lời thoại, nhân vật đã bộc lộ vẻ đẹp gì?
ĐÁP ÁN
a)- Tác phẩm: “Chuyện người con gái Nam Xương”.
- Tác giả : Nguyễn Dữ.
b)- Đây là lời thoại của nhân vật Vũ Nương.
- Lời thoại được nhân vật nói trong buổi tiễn chồng ra trận.
c) Qua lời thoại, Vũ Nương bộc lộ vẻ đẹp thùy mị, nết na của người phụ nữ bình dân, nàng chỉ mong muốn hạnh phúc gia đình giản dị, mong chồng được bình an để vợ chồng sum họp, mà không màng vinh hoa phú quý.
Kiểm tra bài cũ
Ngô gia văn phái
Văn bản – Tiết 18- 20
HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ
Văn bản:
HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ (NGÔ GIA VĂN PHÁI)-HỒI THỨ 14
(Đánh Ngọc Hồi, quân Thanh bị thua trận.
Bỏ Thăng Long, Chiêu Thống trốn ra ngoài)
1/ Tỏc gi?: Ngụ Gia Van Phỏi:
- Dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai – Hà Tây (cũ). Đó là dòng họ lớn nổi tiếng đỗ cao có tài văn học. Một số người trong gia đình đó đã viết chung tác phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí.
- Trong đó có hai tác giả chính là:
+ Ngô Thì Chí (1753 - 1788) - em ruột Ngô Thì Nhậm làm quan dưới thời Lê Chiêu Thống, tuyệt đối trung thành với nhà Lê, từng chạy theo Lê Chiêu Tống khi Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh. Dâng “Trung hưng sách” bàn kế khôi phục nhà Lê. Sau đó, được Lê Chiêu Thống cử đi Lạng Sơn chiêu tập những kẻ lưu vong lập nghĩa binh chống lại Tây Sơn. Trên đường đi, ông bị bệnh mất tại Bắc Ninh, viết 7 hồi đầu tiên.
+ Ngô Thì Du (1772 - 1840) làm quan dưới triều nhà Nguyễn, là tác giả của 7 hồi tiếp theo (trong đó có hồi thứ 14), anh em chú bác ruột với Ngô Thì Chí, học giỏi nhưng không đỗ đạt. Dưới triều Tây Sơn, ông sống ẩn ở Hà Nam. Thời nhà Nguyễn ông làm quan đến năm 1827 thì về nghỉ.
+ Ngoài ra còn 3 hồi cuối có thể do một số người khác trong dòng họ Ngô Thì viết vào khoảng đầu triều Nguyễn.
- Họ là những người rất trung thành với nhà Lê.
I. TÌM HIỂU CHUNG:
2.Tác phẩm
- Hoàn cảnh sáng tác:
Tác phẩm viết trong khoảng thời gian dài ở nhiều thời điểm khác nhau, trong giai đoạn đầy biến động của xã hội Việt Nam (khoảng cuối thế kỉ XVIII đầu TK XIX). Chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng, bão táp phong trào nông dân nổ ra ở khắp nơi, tiêu biểu là phong trào Tây Sơn.
- Xuất xứ:
Tác phẩm có 17 hồi (được học hồi thứ 14 do Ngô Thì Du viết)
- Đọc- chú thích:
Hịch
Chiếu
Cáo
Tấu
Chí: Ghi chép lại sự vật, sự việc.
Tiểu thuyết lịch sử.
b.Thể loại:
- Thể loại
- Phương thức biểu đạt:
Tự sự
-Ý nghĩa nhan đề:
Hoàng Lê nhất thống chí (An Nam thống nhất chí): ghi chép về sự thống nhất của vương triều nhà Lê vào thời điểm Tây Sơn diệt Trịnh, trả lại Bắc Hà cho vua Lê.
- Đại ý:
Miêu tả chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung và sự thất bại thảm hại của quân tướng nhà Thanh cùng số phận của bọn vua quan phản nước hại dân.
-Tác dụng:
+ Tạo tính chân thực.
+ Không gian truyện được mở rộng.
+ Người kể dễ dàng đan xen những suy nghĩ, bình luận làm câu chuyện thêm sinh động…
- Ngôi kể:
Thứ 3
- Bố cục:
Bố cục: 3 phần
Phần1
Từ đầu -> Năm Mậu Thân 1788:
Quang Trung chuẩn bị tiến quân ra Bắc.
Phần2
Tiếp ->kéo vào thành:
Cuộc hành quân thần tốc và những chiến thắng lẫy lừng.
Phần3
Còn lại:
Sự thảm bại của bè lũ bán nước, cướp nước.
Quân Thanh kéo vào chiếm thành Thăng Long, tướng Tây Sơn là Ngô Văn Sở lui quân về vùng núi Tam Điệp. Nhận được tin đó, Nguyễn Huệ rất tức giận, định thân chinh cầm quân đi đánh giặc ngay. Nhưng nghe lời khuyên can của các tướng lĩnh, Ngày 25, ông lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Quang Trung, tự mình đốc suất đại binh tiến quân ra Bắc để dẹp Thanh. Ngày 29 đến Nghệ An, vua gặp La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp để hỏi cơ mưu đánh giặc. Dọc đường đi, vua cho kén thêm lính, mở một cuộc duyệt binh lớn, rồi ra lời phủ dụ tướng sĩ. Ngày 30, đến Tam Điệp hội ngộ với cánh quân của tướng Sở, và Lân. Tại đây vua mở tiệc khao quân và hẹn đến mồng 7 Tết thắng giặc sẽ mở tiệc ăn mừng ở Thăng Long. Tối 30 Tết, Quang Trung chia quân làm năm đạo kéo quân ra Bắc. Ngày 3 Tết, đánh chiếm đồn Hà Hồi. Mờ sáng 5 Tết đánh đồn Ngọc Hồi, tướng giặc là Sầm Nghi Đống tự thắt cổ chết. Trưa mồng 5 Tết tiến quân vào Thăng Long. Trước khí thế như vũ bão của nghĩa quân Tây Sơn, tướng nhà Thanh là Tôn Sĩ Nghị vội vã tháo chạy về nước, Vua Lê Chiêu Thống cùng gia quyến chạy trốn theo trong sự nhục nhã kinh hoàng.
Tóm tắt:
- Quân Thanh kéo vào Thăng Long, tướng Tây Sơn là Ngô Văn Sở lui quân về vùng núi Tam Điệp.
Bảng liệt kê các sự việc chính
- Nhận tin báo, Nguyễn Huệ rất tức giận, định đi đánh giặc ngay.
- Lên ngôi hoàng đế,
- Đốc suất đại binh tiến quân ra Bắc
Đến Nghệ An:
- Gặp Nguyễn Thiếp.
-Tuyển thêm lính
- Tổ chức cuộc duyệt binh lớn,
- Ra lời phủ dụ tướng sĩ.
Đến Tam Điệp:
- Xử trí hai tướng Sở và Lân,
- Mở tiệc khao quân,
- Tối 30 Tết lên đường ra Bắc…
- Công phá đồn Hà Hồi.
- Mờ sáng đánh chiếm đồn Ngọc Hồi,
- Trưa tiến quân vào chiếm kinh thành Thăng Long.
1.Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ- Quang Trung:
Khi Bắc Bình Vương được tin cấp báo quân Thanh đã đến Thăng Long, Ông đã có phản ứng như thế nào?
Nghe tin: Giận lắm, họp tướng sĩ, định thân chinh cầm quân đi ngay.
Khi mọi người đến họp đã khuyên Ông điều gì? Ông đã hành động như thế nào?
Nghe lời tướng sĩ lên ngôi Hoàng đế, sau đó hạ lệnh xuất quân (25/12/1788).
Khi nghe mọi người đến họp khuyên Quang Trung đã có nghe lời tướng sĩ, lên ngôi Hoàng đế... Việc làm đó chứng tỏ Ông là con người như thế nào?
Thấu hiểu lẽ phải, có ý chí quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược.
II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:
1.Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ- Quang Trung:
- Thấu hiểu lẽ phải, có ý chí quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược.
Ngày 29 tháng 12 đến Nghệ An:
Ngày 29 tháng 12 Quang Trung đó đến địa danh nào? Ở đây Ông đó có những việc làm gì?
Gặp ngưười cống sĩ ở La Sơn hỏi việc đánh giặc.
Kén lính ở Nghệ An và mở cuộc duyệt binh lớn.
Sắp xếp đội ngũ và truyền cho quân sĩ ngồi nghe phủ dụ.
Chỉ trong vòng ngày 29 Quang Trung làm được bao nhiêu là việc lớn. Những việc làm đó cho thấy Ông là một người luôn hành động như thế nào?
Hành động mạnh mẽ, quyết đoán.
II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:
1.Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ- Quang Trung:
- Thấu hiểu lẽ phải, có ý chí quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược.
- Hành động mạnh mẽ, quyết đoán.
… “Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị. Người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác. Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương Bắc. Ở các thời ấy, Bắc, Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Đinh tới đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi nội thuộc xưa kia. Mọi việc lợi, hại, được, mất ấy đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước. Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông gương đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng. Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn. Chớ có quen theo thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai, chớ bảo là ta không nói trước!”.
“ Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa?
- Thông báo đất nước lâm nguy có giặc Thanh sang xâm lược.
Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị.
- Khẳng định chủ quyền của đất nước.
… Người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác. Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi.
- Nêu bật dã tâm xâm lược của giặc đã có từ lâu, lên án hành
động xâm lược phi nghĩa của giặc là trái với đạo trời.
… Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương Bắc. Ở các thời ấy, Bắc, Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Đinh tới đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi nội thuộc xưa kia. Mọi việc lợi, hại, được, mất ấy đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước.
- Tự hào về truyền thống đánh giặc cứu nước của ông cha ta.
Tin tưởng vào cuộc kháng chiến chính nghĩa sẽ tất thắng.
… Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông gương đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng. Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn.
- Kêu gọi tướng sĩ đoàn kết một lòng đánh giặc cứu nước.
Chớ có quen theo thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai, chớ bảo là ta không nói trước!”.
- Ra kỷ luật nghiêm với quân sĩ.
- Thông báo đất nước lâm nguy có giặc Thanh sang xâm lược.
- Khẳng định chủ quyền của đất nước.
- Nêu bật dã tâm xâm lược của giặc đã có từ lâu, lên án hành
động xâm lược phi nghĩa của giặc là trái với đạo trời.
- Tự hào về truyền thống đánh giặc cứu nước của ông cha ta.
Tin tưởng vào cuộc kháng chiến chính nghĩa sẽ tất thắng.
- Kêu gọi tướng sĩ đoàn kết một lòng đánh giặc cứu nước.
Ý nghĩa của lời phủ dụ: Lời phủ dụ thấu tình đạt lý như lời hịch, khích lệ, động viên tinh thần binh sĩ phấn khởi đánh giặc cứu nước.
- Ra kỷ luật nghiêm với quân sĩ.
II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:
1.Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ- Quang Trung:
- Thấu hiểu lẽ phải, có ý chí quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược.
- Hành động mạnh mẽ, quyết đoán.
- Viết lời phủ dụ thấu tình đạt lý như lời hịch, khích lệ, động viên tinh thần binh sĩ phấn khởi đánh giặc cứu nước.
->Trí tuệ, sáng suốt và nhạy bén.
Từ lời phủ dụ quân sĩ trên em thấy tài năng nào của Nguyễn Huệ được bộc lộ ?
Ngày 30 tháng 12 năm 1788:
Sau khi mở cuộc duyệt binh vào ngày 29 ở Nghệ An. Ngày hôm sau (30 Tết) Quang Trung đã có quyết định gì?
Hạ lệnh xuất quân đến Tam Điệp.
Mở tiệc khao quân.
Xử trí hai tướng Sở và Lân
Hoạch định kế sách đánh giặc và tính kế hoạch ngoại giao sau chiến tranh.
Tại Tam Điệp, Quang Trung đã có những việc làm nào?
Tối 30 Tết thì lên đường tiến quân ra Thăng Long.
- Sáng suốt trong việc dùng người.
- Có tầm nhìn xa trông rộng.
- Ý chí quyết chiến, quyết thắng.
II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:
1.Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ- Quang Trung:
- Thấu hiểu lẽ phải, có ý chí quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược.
- Hành động mạnh mẽ, quyết đoán.
- Viết lời phủ dụ thấu tình đạt lý như lời hịch, khích lệ, động viên tinh thần binh sĩ phấn khởi đánh giặc cứu nước. ->Trí tuệ, sáng suốt và nhạy bén.
- Sáng suốt trong việc xét đoán và dùng người.
- Ý chí quyết thắng và tầm nhìn xa trông rộng của một nhà chính trị có tư tưởng chuộng hòa bình.
- Ngày 30 tết mở tiệc khao quân. Đến tối 30 Tết kéo quân ra Thăng Long hẹn ngày 7 tháng giêng vào Thăng Long mở tiệc ăn mừng...
Đến Tam Điệp:
- Xử trí các tướng lĩnh
- Phương hướng chiến lược.
=> Năng lực tiên đoán chính xác của một nhà quân sự đại tài…
II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:
1.Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ- Quang Trung:
- Thấu hiểu lẽ phải, có ý chí quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược.
- Hành động mạnh mẽ, quyết đoán.
- Viết lời phủ dụ thấu tình đạt lý như lời hịch, khích lệ, động viên tinh thần binh sĩ phấn khởi đánh giặc cứu nước. ->Trí tuệ, sáng suốt và nhạy bén.
- Sáng suốt trong việc xét đoán và dùng người.
- Ý chí quyết thắng và tầm nhìn xa trông rộng của một nhà chính trị có tư tưởng chuộng hòa bình.
- Năng lực tiên đoán chính xác của một nhà quân sự đại tài…
+Phú Xuyên:
- Bắt sống toàn bộ bọn nghĩa binh cùng quân Thanh đi do thám mà vẫn giữ được bí mật.
+ Hà Hồi:
- Đánh nghi binh: bí mật bao vây kín làng, bắc loa truyền gọi
-> địch sợ hãi xin hàng.
Cách đánh giặc:
+ Ngọc Hồi:
+ Mũi chính:
- Quang Trung trực tiếp chỉ huy.
- Vua cưỡi voi đi đốc thúc, quân dàn trận chữ nhất, đánh giap lá cà.
+ Mũi phụ:
- Bao vây đường rút lui của giặc, cho voi giày đạp.
+ Kết quả: - Quân Thanh bỏ chạy tán loạn, giầy xéo lên nhau mà chết, Sầm Nghi Đống thắt cổ tự vẫn.
II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:
1.Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ- Quang Trung:
- Thấu hiểu lẽ phải, có ý chí quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược.
- Hành động mạnh mẽ, quyết đoán.
- Viết lời phủ dụ thấu tình đạt lý như lời hịch, khích lệ, động viên tinh thần binh sĩ phấn khởi đánh giặc cứu nước. ->Trí tuệ, sáng suốt và nhạy bén.
- Sáng suốt trong việc xét đoán và dùng người.
- Ý chí quyết thắng và tầm nhìn xa trông rộng của một nhà chính trị có tư tưởng chuộng hòa bình.
- Năng lực tiên đoán chính xác của một nhà quân sự đại tài…
- Đánh trận với kế sách bí mật, bất ngờ đảm bảo thắng lợi mà không hao binh tổn tướng.
Quang Trung là bậc kỳ tài quân sự, văn võ song toàn.
Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống được miêu tả như thế nào? Cùng là miêu tả hai cuộc tháo chạy nhưng cách miêu tả khác nhau ra sao?
2. Số phận thảm bại của bọn cướp nước và lũ bán nước:
Hình ảnh quân nhà Thanh vượt sông Hồng
hoảng sợ bỏ chạy về nước
=> Thất bại thảm hại.
2. Số phận thảm bại của bọn cướp nước và lũ bán nước:
a. Hình ảnh bọn cướp nước:
- Khi tiến vào nước ta:
+ Vào Thăng Long như vào chỗ không người.
+ Quân lính thoả sức cướp bóc, ức hiếp dân ta.
- Khi quân Tây Sơn đánh:
+ Rụng rời sợ hãi, xin hàng.
+ Bỏ chạy tán loạn.
+ Sầm Nghi Đống thắt cổ chết.
+ Tôn Sĩ Nghị không kịp mặc giáp, cưỡi ngựa không kịp đóng yên chạy trốn.
b. Hình ảnh vua quan nhà Lê:
- Cầu viện quân Thanh: Thấy quân Thanh không đề phòng, vua Lê rất lo sợ.
- Khi quân Thanh bỏ chạy:
+ Vua quan cùng đưa Thái hậu chạy trốn theo.
+ Nhờ viên thổ hào cho ăn, ở.
+ Đến cửa ải: nhìn nhau chảy nước mắt.
c. Nghệ thuật:
Kể chuyện xen kẽ miêu tả một cách sinh động.
Cả 2 cuộc tháo chạy đều tả thực, với những chi tiết cụ thể, nhưng âm hưởng khác nhau:
+ Đoạn miêu tả quân Thanh: nhịp điệu nhanh, mạnh, hối hả - thể hiện sự hả hê sung sướng của người thắng trận.
+ Đoạn miêu tả vua Lê Chiêu Thống: nhịp điệu chậm hơn, âm hưởng có phần ngậm ngùi chua xót.
III. Tổng kết:
1. Nội dung: Ghi nhớ (sgk)
2. Nghệ thuật:
- Lựa chọn trình tự kể theo diễn biến các sự kiện lịch sử
- Khắc họa nhân vật lịch sử với ngôn ngữ kể, tả chân thực, sinh động.
- Có giọng điệu trần thuật thể hiện thái độ của các tác giả với vương triều nhà Lê, với chiến thắng của dân tộc và với bọn giặc cướp nước.
3. Ý nghĩa:
Văn bản ghi lại hiện thực lịch sử hào hùng của dân tộc ta và hình ảnh người anh hùng Nguyễn Huệ trong chiến tháng mùa xuân năm Kỉ Dậu (1789).
1753-1792
Tượng đài Quang Trung ở Bình Định
HƯỚNG DẪN VỀ NHÀ :
- Học bài, ghi nhớ (SGK)
- Đọc lại truyện.
- Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về hình ảnh Nguyễn Huệ - Quang Trung.
- Soạn : “Truyện Kiều”- Nguyễn Du
 







Các ý kiến mới nhất