Bài 19. Quê hương

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Powerpoint
Người gửi: Thái Minh Brain
Ngày gửi: 17h:09' 15-02-2022
Dung lượng: 5.5 MB
Số lượt tải: 194
Nguồn: Powerpoint
Người gửi: Thái Minh Brain
Ngày gửi: 17h:09' 15-02-2022
Dung lượng: 5.5 MB
Số lượt tải: 194
Số lượt thích:
0 người
-Tế Hanh-
TIẾT 65,66:
Với những vần thơ bình dị mà gợi cảm, bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh đã vẽ ra một bức tranh tươi sáng, sinh động về một làng quê miền biển, trong đó nổi bật lên hình ảnh khoẻ khoắn, đầy sức sống của người dân làng chài và sinh hoạt lao động làng chài. Bài thơ còn cho thấy tình cảm quê hương trong sáng, tha thiết của nhà thơ.
- Trần Tế Hanh (1921- 2009)
- Quê quán: Quảng Ngãi.
Là nhà thơ góp mặt ở chặng cuối của phong trào thơ mới với những bài thơ mang nặng nỗi buồn và tình yêu quê hương thắm thiết.
- Sự nghiệp:
+ Sau năm 1975,ông chuyển sang sáng tác phục vụ cách mạng
+Năm 1996, ông được nhà nước trao tặng giải thường HCM về văn học Nghệ thuật.
Chim bay dọc biển đem tin cá
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới:
Nước bao vây cách biển nửa ngày sông.
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng,
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang.
Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…
Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.
“Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe”,
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!
- Ý nghĩa:Gợi khung cảnh thanh bình, yên ả, bộc lộ tình cảm gắn bó với quê hương
Xuất xứ:
a
In trong tập Hoa niên (1945)
Hoàn cảnh sáng tác;
b
-Bài thơ sáng tác năm 1939
-Mở đầu cho cảm hứng viết về quê hương củaTế Hanh.
Thể thơ:
c
- 8 chữ
- Nhịp thơ : 3/2/3, 3/5
Phần 3: Nỗi nhớ quê hương
(còn lại)
Phần 2: Bức tranh lao động của hàng chài. (14 câu thơ tiếp theo)
Phần 1: Giới thiệu chung về làng quê
(2 câu thơ đầu)
d)Bố cục: 3 phần.
“Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông.”
Lời giới thiệu tự nhiên, mộc mạc,
ngắn gọn, bình dị, chân thật như làng quê
-Nghề nghiệp: Chài lưới
-Vị trí : Cửa sông gần biển
Hai câu thơ đầu bằng từ ngữ mộc mạc, bình dị, tự nhiên, ngắn gọn, đầy đủ, tác giả cung cấp thông tin về quê hương ven biển của mình - về nghề và đặc điểm địa lí:
nghề chài lưới , như hòn đào nhỏ bị nước bao vây, cách biển nửa ngày sông.
a)Cảnh ra khơi:
“Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang.
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió...”
“Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng”
Thiên nhiên:
trời trong
gió nhẹ
sớm mai hồng
Miêu tả, liệt kê, tính từ
Thiên nhiên tươi đẹp, lý tưởng
Báo hiệu chuyến ra khơi đầy hứa hẹn
Nghệ thuật
Nội dung
Con người
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
CHIẾC THUYỀN
-NT: So sánh , ẩn dụ → Hình ảnh cánh buồm quen thuộc trở nên lớn lao và thiêng liêng. Nhà thơ như nhận ra đó chính là biểu tượng của linh hồn làng trài.
⇒ Bức tranh phong cảnh thiên nhiên tươi sáng và h/ả con người lao động đầy hứng khởi dào dạt sức sống.
B)Cảnh TRỞ VỀ:
“Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.
"Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe",
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.”
“Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.”
Hình ảnh bến đỗ
Nơi người trở về
Nơi người đón đợi
Nơi buôn bán
Nơi giao thông, thông tin
Không khí trở về
“Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.”
"Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe",
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
Kết quả
Cá đầy ghe
Cá tươi ngon
Cá thân bạc trắng
Câu thơ được đặt trong dấu ngoặc
kép Như lời cảm tạ trời yên biển lặng cho dân làng trở về an toàn, thắng lợi
Làn da ngăm rám nắng
Nồng thở vị xa xăm
Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;
Hình ảnh người dân chài
Dáng vẻ rất riêng của người dân chài
Hình ảnh người dân trài khoẻ mạnh vạm vỡ vừa được tả thực vừa lãng mạn trở nên có tầm vóc phi thường(nước da ngăm nhuộm nắng nhuộm gió; thân hình thấm đậm vị mặn mòi nồng toả" vị xa xăm" của biển khơi.
“Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ”
Con thuyền vô tri trở nên có hồn, cũng như người dân trài, con thuyền ấy cũng thấm đẫm vị mặn mòi của biển khơi. H/ả con thuyền ấy được miêu tả bởi một tâm hồn tinh tế , tài hoa và một tấm lòng gắn bó sâu nặng với quê hương.
Niềm tự hào, lòng thủy chung, gắn bó với quê hương
Thái độ ngợi ca sức sống, vẻ đẹp bình dị trong lao động.
“Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!”
Thiên nhiên, lao động, sinh hoạt toát lên vẻ đẹp trong sáng, khoẻ khoắn vừa chân thực, vừa lãng mạn.
Thơ trữ tình biểu cảm kết hợp miêu tả
Hình ảnh thơ sáng tạo
Biện pháp so sánh, nhân hóa.
TIẾT 65,66:
Với những vần thơ bình dị mà gợi cảm, bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh đã vẽ ra một bức tranh tươi sáng, sinh động về một làng quê miền biển, trong đó nổi bật lên hình ảnh khoẻ khoắn, đầy sức sống của người dân làng chài và sinh hoạt lao động làng chài. Bài thơ còn cho thấy tình cảm quê hương trong sáng, tha thiết của nhà thơ.
- Trần Tế Hanh (1921- 2009)
- Quê quán: Quảng Ngãi.
Là nhà thơ góp mặt ở chặng cuối của phong trào thơ mới với những bài thơ mang nặng nỗi buồn và tình yêu quê hương thắm thiết.
- Sự nghiệp:
+ Sau năm 1975,ông chuyển sang sáng tác phục vụ cách mạng
+Năm 1996, ông được nhà nước trao tặng giải thường HCM về văn học Nghệ thuật.
Chim bay dọc biển đem tin cá
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới:
Nước bao vây cách biển nửa ngày sông.
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng,
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang.
Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…
Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.
“Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe”,
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!
- Ý nghĩa:Gợi khung cảnh thanh bình, yên ả, bộc lộ tình cảm gắn bó với quê hương
Xuất xứ:
a
In trong tập Hoa niên (1945)
Hoàn cảnh sáng tác;
b
-Bài thơ sáng tác năm 1939
-Mở đầu cho cảm hứng viết về quê hương củaTế Hanh.
Thể thơ:
c
- 8 chữ
- Nhịp thơ : 3/2/3, 3/5
Phần 3: Nỗi nhớ quê hương
(còn lại)
Phần 2: Bức tranh lao động của hàng chài. (14 câu thơ tiếp theo)
Phần 1: Giới thiệu chung về làng quê
(2 câu thơ đầu)
d)Bố cục: 3 phần.
“Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông.”
Lời giới thiệu tự nhiên, mộc mạc,
ngắn gọn, bình dị, chân thật như làng quê
-Nghề nghiệp: Chài lưới
-Vị trí : Cửa sông gần biển
Hai câu thơ đầu bằng từ ngữ mộc mạc, bình dị, tự nhiên, ngắn gọn, đầy đủ, tác giả cung cấp thông tin về quê hương ven biển của mình - về nghề và đặc điểm địa lí:
nghề chài lưới , như hòn đào nhỏ bị nước bao vây, cách biển nửa ngày sông.
a)Cảnh ra khơi:
“Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang.
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió...”
“Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng”
Thiên nhiên:
trời trong
gió nhẹ
sớm mai hồng
Miêu tả, liệt kê, tính từ
Thiên nhiên tươi đẹp, lý tưởng
Báo hiệu chuyến ra khơi đầy hứa hẹn
Nghệ thuật
Nội dung
Con người
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
CHIẾC THUYỀN
-NT: So sánh , ẩn dụ → Hình ảnh cánh buồm quen thuộc trở nên lớn lao và thiêng liêng. Nhà thơ như nhận ra đó chính là biểu tượng của linh hồn làng trài.
⇒ Bức tranh phong cảnh thiên nhiên tươi sáng và h/ả con người lao động đầy hứng khởi dào dạt sức sống.
B)Cảnh TRỞ VỀ:
“Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.
"Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe",
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.”
“Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.”
Hình ảnh bến đỗ
Nơi người trở về
Nơi người đón đợi
Nơi buôn bán
Nơi giao thông, thông tin
Không khí trở về
“Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.”
"Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe",
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
Kết quả
Cá đầy ghe
Cá tươi ngon
Cá thân bạc trắng
Câu thơ được đặt trong dấu ngoặc
kép Như lời cảm tạ trời yên biển lặng cho dân làng trở về an toàn, thắng lợi
Làn da ngăm rám nắng
Nồng thở vị xa xăm
Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;
Hình ảnh người dân chài
Dáng vẻ rất riêng của người dân chài
Hình ảnh người dân trài khoẻ mạnh vạm vỡ vừa được tả thực vừa lãng mạn trở nên có tầm vóc phi thường(nước da ngăm nhuộm nắng nhuộm gió; thân hình thấm đậm vị mặn mòi nồng toả" vị xa xăm" của biển khơi.
“Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ”
Con thuyền vô tri trở nên có hồn, cũng như người dân trài, con thuyền ấy cũng thấm đẫm vị mặn mòi của biển khơi. H/ả con thuyền ấy được miêu tả bởi một tâm hồn tinh tế , tài hoa và một tấm lòng gắn bó sâu nặng với quê hương.
Niềm tự hào, lòng thủy chung, gắn bó với quê hương
Thái độ ngợi ca sức sống, vẻ đẹp bình dị trong lao động.
“Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!”
Thiên nhiên, lao động, sinh hoạt toát lên vẻ đẹp trong sáng, khoẻ khoắn vừa chân thực, vừa lãng mạn.
Thơ trữ tình biểu cảm kết hợp miêu tả
Hình ảnh thơ sáng tạo
Biện pháp so sánh, nhân hóa.
 







Các ý kiến mới nhất