Bài 15. Đập đá ở Côn Lôn

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Minh Anh
Ngày gửi: 16h:27' 29-04-2022
Dung lượng: 4.1 MB
Số lượt tải: 100
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Minh Anh
Ngày gửi: 16h:27' 29-04-2022
Dung lượng: 4.1 MB
Số lượt tải: 100
Số lượt thích:
0 người
Tiết 58 : văn bản : ĐẬP ĐÁ Ở CÔN LÔN
-Phan Châu Trinh-
I. TÌM HIỂU CHUNG
Chapter one
1. Tác giả
Phan Châu Trinh (1872 – 1926), hiệu là Tây Hồ, biệt hiệu Hy Mã, tự là Tử Cán quê ở làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ (nay thuộc xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh), tỉnh Quảng Nam.
Ông đỗ Phó bảng năm Tân Sửu (1901), làm quan một thời gian ngắn rồi từ quan, đi làm cách mạng. Phan Châu Trinh chủ trương cứu nước bằng cách lợi dụng thực dân Pháp, cải cách đối mới mọi mặt (duy tân), làm cho dân giàu nước mạnh, trên cơ sở đó tạo nền độc lập quốc gia.
Năm 1908 ông bị bắt đày đi Côn Đảo. Ba năm sau, khi được trả tự do, Phan Châu Trinh xin sang Pháp tìm cách thúc đẩy cải cách chính trị ở Đông Dương nhưng công việc không thành.
Năm 1952, Phan Châu Trinh về Sài Gòn, diễn thuyết được vài lần, sau đó ốm nặng rồi mất. Đám tang Phan Châu Trinh trở thành một phong trào vận động ái quốc rộng khắp cả nước.
Thông tin khác
Hoàn cảnh gia đình
- Cha ông là Phan Văn Bình, làm chức quản cơ sơn phòng, sau thì tham gia phong trào Cần Vương trong tỉnh, làm Chuyển vận sứ đồn A Bá, phụ trách việc quân lương.
-Mẹ ông là Lê Thị Lương, con gái nhà vọng tộc, thông thạo chữ Hán, ở làng Phú Lâm, huyện Tiên Phước
-Mẹ cụ mất sớm vào năm ông lên sáu tuổi. -Quê nhà bị quân Pháp đốt cháy trong cuộc trấn áp phong trào Cần Vương, nên ông phải theo cha, được cha dạy chữ và dạy võ. Sau khi cha mất ông trở về quê sống với anh là Phan Văn Cừ và tiếp tục đi học. Ông học giỏi, năm 27 tuổi, được tuyển vào trường tỉnh và học chung với Trần Quý Cáp, Huỳnh Thức Kháng, Nguyễn Đình Hiến, Phan Quang và Phạm Liệu.
Nguyên nhân cụ Phan Châu Trinh mất :
Khi bệnh tình trở nặng (tháng 12 năm 1925), túc trực thường xuyên cạnh Phan Châu Trinh là Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Nguyễn Sinh Sắc, Huỳnh Thúc Kháng.
Đang lúc Phan Châu Trinh nằm trên giường bệnh thì hay tin ông Ninh vừa bị mật thám Pháp đến vây bắt tại nhà vào lúc 11 giờ 30 trưa ngày 24 tháng 3 năm 1926. Ngay đêm hôm đó, lúc 21 giờ 30, ông qua đời tại khách sạn Chiêu Nam Lầu và được đem quàn tại Bá Huê lầu, số 54 đường Pellerin, Sài Gòn,[16] hưởng dương 54 tuổi.
Lời trăn trối cuối cùng của Phan Châu Trinh với Huỳnh Thúc Kháng, được thuật lại là:
"Độc lập của dân tộc ta sau này sở cậy có Nguyễn Ái Quốc".[17]
* Sự nghiệp văn chương của Phan Châu Trinh
-Phan Châu Trinh luôn có ý thức dùng văn chương để làm cách mạng. Những áng văn chính luận của ông đậm tính chất hùng biện, lập luận chặt chẽ, đanh thép, những bài thơ của ông dạt dào cảm xúc về đất nước, đồng bào; tất cả đều thấm nhuần tư tưởng yêu nước và tinh thần dân chủ.
-Thể loại: Phan Châu Trinh sáng tác cả văn xuôi chính luận và thơ trữ tình yêu nước cách mạng.
-Tác phẩm chính: Đầu Pháp chính phủ thư (1906); Thất điều trần (1922); Đạo đức và luân lí Đông Tây (1925)…
2. Tác phẩm
festivalPPTtemplate http://www.1ppt.com/jieri/
Hoàn cảnh sáng tác:
Bài thơ được viết trong thời gian tác giả bị đày ở Côn Đảo (4/1908- 6/1910)
b. Thể loại :
- Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
c. PTBĐ :
Biểu cảm
THỂ THƠ THẤT NGÔN BÁT CÚ ĐƯỜNG LUẬT
- Số câu : 8 câu/ bài
- Số chữ : 7 chữ/ câu
- Ngắt nhịp : 4/3 hoặc 2/2/3
- Gieo vần : ở các chữ cuối của câu 1,2,4,6,8.
- Đối : giữa câu 3 và câu 4 ; giữa câu 5 và câu 6.
-Luật : Bằng – Trắc.
-Bố cục : Đề- Thực- Luận- Kết
- Phần 1: Bốn câu thơ đầu: Công việc đập đá - tư thế, khí phách người tù.
1
- Phần 2: Bốn câu sau: Ý chí kiên cường của nhà cách mạng trong cảnh tù đày.
2
Bố cục :
Bốn câu thơ cuối: Cảm nghĩ từ công việc đập đá.
Bốn câu thơ đầu : Công việc đập đá và tư thế của người tù cách mạng.
CHATER TWO
Em hãy nêu những hiểu biết của mình về Đảo Côn Lôn?
* Giải nghĩa từ :
Côn Lôn: ( Côn Đảo )
+ Thuộc tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
+ Một hòn đảo nhỏ ở miền Đông Nam nước ta.
+ Cách bờ biển Vũng Tàu khoảng gần 100km.
II. PHÂN TÍCH
Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn,
Lừng lẫy làm cho lở núi non.
Bốn câu thơ đầu
*Câu 1-2 :
Tác giả đã nhấn mạnh từ ngữ nào ?
Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn,
Lừng lẫy làm cho lở núi non.
Tác giả đã nhấn mạnh rằng phận làm trai phải như thế nào?
Làm trai là quan niệm sống anh hùng của các bậc nam nhi dám chống chọi với gian nguy hiểm để làm nên sự nghiệp.
Trong hoàn cảnh tù đày, tác giả bày tỏ quan niệm làm trai.
→ Thể hiện lòng kiêu hãnh, bản lĩnh, tự khẳng định trách nhiệm của mình với non sông.
Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn,
Lừng lẫy làm cho lở núi non.
NT : + Cách dùng từ chọn lọc, đặc sắc.
+ Lối nói khoa trương, giọng điệu ngạo nghễ, hào sáng
Tư thế hiên ngang, kiêu hãnh, làm chủ của người tù cách mạng.
Bốn câu thơ đầu
* Câu 3-4 :
Xách búa đánh tan năm bảy đống,
Ra tay đập bể mấy trăm hòn.
Tác giả đã nhấn mạnh từ ngữ nào ?
Xách búa đánh tan năm bảy đống,
Ra tay đập bể mấy trăm hòn.
- Công việc : đập đá nặng nề, khó nhọc.
NT : + Đối
+ Động từ mạnh
+ Lối nói khoa trương, giọng thơ hùng tráng.
Thể hiện khí phách lẫm liệt, ngang tàng đã biến công việc khổ sai cưỡng bức thành công cuộc chinh phục thiên nhiên đầy dũng mãnh.
Dựng lên tượng đài uy nghi về người anh hùng.
Thể hiện khí phách lẫm liệt, ngang tàng đã biến công việc khổ sai cưỡng bức thành công cuộc chinh phục thiên nhiên đầy dũng mãnh.
Dựng lên tượng đài uy nghi về người anh hùng.
Dựng lên tượng đài uy nghi về người anh hùng.
1. Bốn câu thơ đầu
2. Bốn câu thơ cuối
Tháng ngày bao quản thân sành sỏi,
Mưa nắng càng bề dạ sắt son.
Những kẻ vá trời khi lỡ bước,
Gian nan chi kể việc con con.
Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì trong hai câu thơ sau ?
Nêu tác dụng của phép tu từ đó.
* Câu 5-6 :
Tháng ngày
bao quản
thân sành sỏi
Mưa nắng
càng bền
dạ sắt non
Ẩn dụ
Đối
Qua bút pháp nghệ thuật ẩn dụ, đối em hiểu ý nghĩa hai câu thơ như thế nào?
-> Nghệ thuật ẩn dụ, đối lập: những thử thách gian nan với sức chịu đựng dẻo dai, bền bỉ và ý chí chiến đấu sắt son của người chiến sĩ cách mạng.
* Câu 7-8 :
Những kẻ vá trời khi lỡ bước,
Gian nan chi kể việc con con.
Từ ngữ nào trong câu thơ gợi nhớ cho chúng ta đến một câu chuyện Thân thoại ?
Theo em kẻ vá trời là người như thế nào?
* Là những người có chí lớn của với sự nghiệp cứu nước. Thử thách chỉ là “việc con con”.
Những kẻ vá trời khi lỡ bước,
Gian nan chi kể việc con con.
NT : -
Sử dụng điển tích, điển cổ.
-Nghệ thuật đối, từ láy
-Thấy mình có tinh thần cứng cỏi trung kiên, không sờn lòng đổi chí trước gian lan thử thách, có sức chịu đựng cả về thể xác lẫn tinh thần.
3. Bốn câu thơ cuối
Tháng ngày bao quản thân sành sỏi,
Mưa nắng càng bề dạ sắt son.
Những kẻ vá trời khi lỡ bước,
Gian nan chi kể việc con con.
Tác giả đã nhấn mạnh từ ngữ nào ?
-> Nghệ thuật : đối, lối nói khoa trương lãng mạn, hình ảnh ẩn dụ, sử dụng các từ láy
Nhằm khẳng định thử thách, gian khổ càng tôi luyện ý chí bền bỉ, dẻo dai, càng hun đúc tinh thần sắt son, kiên định của người chiến sĩ Cách mạng.
III. TỔNG KẾT
Đập đá ở Côn Lôn giúp ta cảm nhận được một hình tượng đẹp lẫm liệt, ngang tàng của người anh hùng cứu nước dù gặp nguy nan nhưng vẫn không sờn lòng đổi chí.
1. Nội dung :
2. Nghệ thuật
- Bút pháp lãng mạn, giọng điệu hào hùng.
- Nghệ thuật đối lập, ẩn dụ.
Lối nói khoa trương lãng mạn, sử dụng các từ láy.
-Phan Châu Trinh-
I. TÌM HIỂU CHUNG
Chapter one
1. Tác giả
Phan Châu Trinh (1872 – 1926), hiệu là Tây Hồ, biệt hiệu Hy Mã, tự là Tử Cán quê ở làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ (nay thuộc xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh), tỉnh Quảng Nam.
Ông đỗ Phó bảng năm Tân Sửu (1901), làm quan một thời gian ngắn rồi từ quan, đi làm cách mạng. Phan Châu Trinh chủ trương cứu nước bằng cách lợi dụng thực dân Pháp, cải cách đối mới mọi mặt (duy tân), làm cho dân giàu nước mạnh, trên cơ sở đó tạo nền độc lập quốc gia.
Năm 1908 ông bị bắt đày đi Côn Đảo. Ba năm sau, khi được trả tự do, Phan Châu Trinh xin sang Pháp tìm cách thúc đẩy cải cách chính trị ở Đông Dương nhưng công việc không thành.
Năm 1952, Phan Châu Trinh về Sài Gòn, diễn thuyết được vài lần, sau đó ốm nặng rồi mất. Đám tang Phan Châu Trinh trở thành một phong trào vận động ái quốc rộng khắp cả nước.
Thông tin khác
Hoàn cảnh gia đình
- Cha ông là Phan Văn Bình, làm chức quản cơ sơn phòng, sau thì tham gia phong trào Cần Vương trong tỉnh, làm Chuyển vận sứ đồn A Bá, phụ trách việc quân lương.
-Mẹ ông là Lê Thị Lương, con gái nhà vọng tộc, thông thạo chữ Hán, ở làng Phú Lâm, huyện Tiên Phước
-Mẹ cụ mất sớm vào năm ông lên sáu tuổi. -Quê nhà bị quân Pháp đốt cháy trong cuộc trấn áp phong trào Cần Vương, nên ông phải theo cha, được cha dạy chữ và dạy võ. Sau khi cha mất ông trở về quê sống với anh là Phan Văn Cừ và tiếp tục đi học. Ông học giỏi, năm 27 tuổi, được tuyển vào trường tỉnh và học chung với Trần Quý Cáp, Huỳnh Thức Kháng, Nguyễn Đình Hiến, Phan Quang và Phạm Liệu.
Nguyên nhân cụ Phan Châu Trinh mất :
Khi bệnh tình trở nặng (tháng 12 năm 1925), túc trực thường xuyên cạnh Phan Châu Trinh là Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Nguyễn Sinh Sắc, Huỳnh Thúc Kháng.
Đang lúc Phan Châu Trinh nằm trên giường bệnh thì hay tin ông Ninh vừa bị mật thám Pháp đến vây bắt tại nhà vào lúc 11 giờ 30 trưa ngày 24 tháng 3 năm 1926. Ngay đêm hôm đó, lúc 21 giờ 30, ông qua đời tại khách sạn Chiêu Nam Lầu và được đem quàn tại Bá Huê lầu, số 54 đường Pellerin, Sài Gòn,[16] hưởng dương 54 tuổi.
Lời trăn trối cuối cùng của Phan Châu Trinh với Huỳnh Thúc Kháng, được thuật lại là:
"Độc lập của dân tộc ta sau này sở cậy có Nguyễn Ái Quốc".[17]
* Sự nghiệp văn chương của Phan Châu Trinh
-Phan Châu Trinh luôn có ý thức dùng văn chương để làm cách mạng. Những áng văn chính luận của ông đậm tính chất hùng biện, lập luận chặt chẽ, đanh thép, những bài thơ của ông dạt dào cảm xúc về đất nước, đồng bào; tất cả đều thấm nhuần tư tưởng yêu nước và tinh thần dân chủ.
-Thể loại: Phan Châu Trinh sáng tác cả văn xuôi chính luận và thơ trữ tình yêu nước cách mạng.
-Tác phẩm chính: Đầu Pháp chính phủ thư (1906); Thất điều trần (1922); Đạo đức và luân lí Đông Tây (1925)…
2. Tác phẩm
festivalPPTtemplate http://www.1ppt.com/jieri/
Hoàn cảnh sáng tác:
Bài thơ được viết trong thời gian tác giả bị đày ở Côn Đảo (4/1908- 6/1910)
b. Thể loại :
- Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
c. PTBĐ :
Biểu cảm
THỂ THƠ THẤT NGÔN BÁT CÚ ĐƯỜNG LUẬT
- Số câu : 8 câu/ bài
- Số chữ : 7 chữ/ câu
- Ngắt nhịp : 4/3 hoặc 2/2/3
- Gieo vần : ở các chữ cuối của câu 1,2,4,6,8.
- Đối : giữa câu 3 và câu 4 ; giữa câu 5 và câu 6.
-Luật : Bằng – Trắc.
-Bố cục : Đề- Thực- Luận- Kết
- Phần 1: Bốn câu thơ đầu: Công việc đập đá - tư thế, khí phách người tù.
1
- Phần 2: Bốn câu sau: Ý chí kiên cường của nhà cách mạng trong cảnh tù đày.
2
Bố cục :
Bốn câu thơ cuối: Cảm nghĩ từ công việc đập đá.
Bốn câu thơ đầu : Công việc đập đá và tư thế của người tù cách mạng.
CHATER TWO
Em hãy nêu những hiểu biết của mình về Đảo Côn Lôn?
* Giải nghĩa từ :
Côn Lôn: ( Côn Đảo )
+ Thuộc tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
+ Một hòn đảo nhỏ ở miền Đông Nam nước ta.
+ Cách bờ biển Vũng Tàu khoảng gần 100km.
II. PHÂN TÍCH
Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn,
Lừng lẫy làm cho lở núi non.
Bốn câu thơ đầu
*Câu 1-2 :
Tác giả đã nhấn mạnh từ ngữ nào ?
Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn,
Lừng lẫy làm cho lở núi non.
Tác giả đã nhấn mạnh rằng phận làm trai phải như thế nào?
Làm trai là quan niệm sống anh hùng của các bậc nam nhi dám chống chọi với gian nguy hiểm để làm nên sự nghiệp.
Trong hoàn cảnh tù đày, tác giả bày tỏ quan niệm làm trai.
→ Thể hiện lòng kiêu hãnh, bản lĩnh, tự khẳng định trách nhiệm của mình với non sông.
Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn,
Lừng lẫy làm cho lở núi non.
NT : + Cách dùng từ chọn lọc, đặc sắc.
+ Lối nói khoa trương, giọng điệu ngạo nghễ, hào sáng
Tư thế hiên ngang, kiêu hãnh, làm chủ của người tù cách mạng.
Bốn câu thơ đầu
* Câu 3-4 :
Xách búa đánh tan năm bảy đống,
Ra tay đập bể mấy trăm hòn.
Tác giả đã nhấn mạnh từ ngữ nào ?
Xách búa đánh tan năm bảy đống,
Ra tay đập bể mấy trăm hòn.
- Công việc : đập đá nặng nề, khó nhọc.
NT : + Đối
+ Động từ mạnh
+ Lối nói khoa trương, giọng thơ hùng tráng.
Thể hiện khí phách lẫm liệt, ngang tàng đã biến công việc khổ sai cưỡng bức thành công cuộc chinh phục thiên nhiên đầy dũng mãnh.
Dựng lên tượng đài uy nghi về người anh hùng.
Thể hiện khí phách lẫm liệt, ngang tàng đã biến công việc khổ sai cưỡng bức thành công cuộc chinh phục thiên nhiên đầy dũng mãnh.
Dựng lên tượng đài uy nghi về người anh hùng.
Dựng lên tượng đài uy nghi về người anh hùng.
1. Bốn câu thơ đầu
2. Bốn câu thơ cuối
Tháng ngày bao quản thân sành sỏi,
Mưa nắng càng bề dạ sắt son.
Những kẻ vá trời khi lỡ bước,
Gian nan chi kể việc con con.
Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì trong hai câu thơ sau ?
Nêu tác dụng của phép tu từ đó.
* Câu 5-6 :
Tháng ngày
bao quản
thân sành sỏi
Mưa nắng
càng bền
dạ sắt non
Ẩn dụ
Đối
Qua bút pháp nghệ thuật ẩn dụ, đối em hiểu ý nghĩa hai câu thơ như thế nào?
-> Nghệ thuật ẩn dụ, đối lập: những thử thách gian nan với sức chịu đựng dẻo dai, bền bỉ và ý chí chiến đấu sắt son của người chiến sĩ cách mạng.
* Câu 7-8 :
Những kẻ vá trời khi lỡ bước,
Gian nan chi kể việc con con.
Từ ngữ nào trong câu thơ gợi nhớ cho chúng ta đến một câu chuyện Thân thoại ?
Theo em kẻ vá trời là người như thế nào?
* Là những người có chí lớn của với sự nghiệp cứu nước. Thử thách chỉ là “việc con con”.
Những kẻ vá trời khi lỡ bước,
Gian nan chi kể việc con con.
NT : -
Sử dụng điển tích, điển cổ.
-Nghệ thuật đối, từ láy
-Thấy mình có tinh thần cứng cỏi trung kiên, không sờn lòng đổi chí trước gian lan thử thách, có sức chịu đựng cả về thể xác lẫn tinh thần.
3. Bốn câu thơ cuối
Tháng ngày bao quản thân sành sỏi,
Mưa nắng càng bề dạ sắt son.
Những kẻ vá trời khi lỡ bước,
Gian nan chi kể việc con con.
Tác giả đã nhấn mạnh từ ngữ nào ?
-> Nghệ thuật : đối, lối nói khoa trương lãng mạn, hình ảnh ẩn dụ, sử dụng các từ láy
Nhằm khẳng định thử thách, gian khổ càng tôi luyện ý chí bền bỉ, dẻo dai, càng hun đúc tinh thần sắt son, kiên định của người chiến sĩ Cách mạng.
III. TỔNG KẾT
Đập đá ở Côn Lôn giúp ta cảm nhận được một hình tượng đẹp lẫm liệt, ngang tàng của người anh hùng cứu nước dù gặp nguy nan nhưng vẫn không sờn lòng đổi chí.
1. Nội dung :
2. Nghệ thuật
- Bút pháp lãng mạn, giọng điệu hào hùng.
- Nghệ thuật đối lập, ẩn dụ.
Lối nói khoa trương lãng mạn, sử dụng các từ láy.
 







Các ý kiến mới nhất