Bài 1. Các phương châm hội thoại

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hứa Nguyễn Duy
Ngày gửi: 12h:56' 02-09-2022
Dung lượng: 7.1 MB
Số lượt tải: 381
Nguồn:
Người gửi: Hứa Nguyễn Duy
Ngày gửi: 12h:56' 02-09-2022
Dung lượng: 7.1 MB
Số lượt tải: 381
Số lượt thích:
0 người
CÁC PHƯƠNG CHÂM HỘI THOẠI
CHỦ ĐỀ
I. Phương châm về lượng:
1.Đoạn đối thoại giữa An và Ba:
- Điều An muốn biết là địa điểm học bơi cụ thể.
- Câu trả lời của Ba chỉ có nội dung hiển nhiên bơi (dưới nước), không có lượng tin cần thiết đáp ứng nhu cầu người đối thoại.
→ Cần chú ý nói đủ nội dung khi giao tiếp.
2.Truyện “Lợn cưới,áo mới”:
- Truyện cười “Lợn cưới, áo mới” gây cười ở câu trả lời của hai anh chàng có tính khoe khoang. Cả hai chàng đều ra sức trả lời thừa thông tin người hỏi cần biết.
- Các nguyên tắc cần tuân thủ khi giao tiếp:
+ Lời nói phải có thông tin, thông tin ấy phù hợp với mục đích giao tiếp.
+ Nội dung lời nói phải đủ (không thừa, không thiếu).
→ Nội dung lời nói đúng như yêu cầu giao tiếp, không thừa, không thiếu.
II. Phương châm về chất:
- Phê phán tính nói khoác, nói không đúng sự thật.
- Câu chuyện trên nhắc nhở chúng ta: khi nói, nội dung lời nói phải nói đúng sự thật, không nói những điều mình không tin là đúng, không có căn cứ chính xác.
III. Luyện tập:
Câu 1:
a, Thừa cụm từ “nuôi ở nhà” bởi từ “gia súc” đã bao hàm nghĩa vật nuôi trong nhà.
b, Thừa cụm từ “có hai cánh” vì tất cả các loài chim đều có hai cánh.
a, Nói có căn cứ chắc chắn: nói có sách, mách có chứng.
b, Nói sai sự thật một cách cố ý nhằm che giấu điều gì đó: nói dối.
c, Nói một cách hú họa, không có căn cứ: nói mò.
d, Nói nhảm nhí, vu vơ: nói nhăng nói cuội.
e, Nói khoác lác, làm ra vẻ tài giỏi: nói trạng.
-Câu hỏi “rồi có nuôi được không?” người nói không tuân thủ phương châm hội thoại về lượng.
- Trong câu trả lời “bà tôi sinh ra bố tôi cũng đẻ non trước hai tháng đấy!” dĩ nhiên là nuôi được sau đó mới sinh ra anh bạn này, đó cũng chính là chỗ tạo ra tiếng cười.
a, Đôi khi người nói phải dùng tới những cách diễn đạt như “tôi được biết”, “tôi tin rằng”, “nếu tôi không lầm thì”, “tôi nghe nói”, “theo tôi nghĩ”, “hình như là”…để đảm bảo tuân thủ phương châm hội thoại về chất. Người nói cũng phải dùng cách nói đảm bảo người nghe biết xác thực nhận định, thông tin mà mình được kiểm chứng.
b, Đôi khi người nói: như đã trình bày, mọi người đều biết. Cách nói này đều đảm bảo phương châm về lượng, mục đích nhấn mạnh ý, chuyển ý, dẫn ý, người nói cần nhắc một nội dung nào đó đã nói, giả định là mọi người đã, sẽ biết.
- Ăn đơm nói đặt: nói theo cách vu khống, đặt điều, bịa chuyện cho người khác.
- Ăn ốc nói mò: nói không căn cứ.
- Ăn không nói có: nói theo cách vu khống, bịa đặt.
- Cãi chày cãi cối: cố tranh cãi, không có lý lẽ thuyết phục, đúng đắn.
- Khua môi múa mép: nói ba hoa, khoác lác.
- Nói dơi nói chuột: nói lăng nhăng, linh tinh, không xác thực.
- Hứa hươu hứa vượn: hứa hẹn lấy lòng nhưng không thực hiện.
Các phương châm hội thoại (tiếp theo)-Tiết 2
-Thành ngữ “Ông nói gà, bà nói vịt” chỉ hiện tượng không thống nhất, không hiểu người khác nói gì dẫn đến tình trạng trật khớp, lệch lạc trong giao tiếp.
-> Để tránh tình trạng, khi hội thoại phải nói đúng đề tài giao tiếp, nói đúng vấn đề quan tâm.
-> Đó chính là phương châm quan hệ trong hội thoại.
1.
- Dây cà ra dây muống – nói lan man, dài dòng, không có trọng tâm.
- Lúng búng như ngậm hột thị - nói ấp úng, không rõ ràng, thiếu rành mạch.
- Nói như thế không đạt được hiệu quả giao tiếp: không thể hiện được nội dung muốn truyền đạt, gây khó khăn cho người tiếp nhận.
→ Trong hội thoại cần chú ý nói ngắn gọn, rõ ràng, rành mạch.
2.
Tôi đồng ý với những nhận định về truyện ngắn của ông ấy.
- Trong câu trên, cụm từ “ông ấy” có thể hiểu được hai cách: nhận định của ông ấy về truyện ngắn, nhận định truyện ngắn của ông ấy viết. Như vậy, nội dung câu nói mơ hồ, người nghe khó xác định được điều muốn nói.
- Để người nghe không hiểu lầm, phải thêm từ ngữ cho cách nói rõ ràng hơn.
Ví dụ:
+ Tôi đồng ý với những nhận định về truyện ngắn mà ông ấy mới sáng tác.
+ Tôi đồng ý với những nhận định truyện ngắn khá sâu sắc của ông ấy.
→ Như vậy, khi giao tiếp cần phải tránh cách nói mơ hồ, không rõ ràng, dễ gây hiểu lầm.
a. Trong mẫu chuyện Người ăn xin, cả hai nhân vật, người ăn xin và cậu bé trong câu chuyện đều cảm thấy mình nhận được từ người kia một điều gì đó.
- Nhân vật “tôi” không khinh miệt người nghèo khổ, khốn khó mặc dù không có gì để cho.
- Ông lão ăn xin cảm thấy được tôn trọng, chia sẻ, cả hai người đều thấy hài lòng.
b, Có thể rút ra bài học quý từ câu chuyện: trong giao tiếp cần tế nhị, tôn trọng người khác.
a, Câu tục ngữ thể hiện thái độ lịch sự, quý mến cách ứng xử đẹp có giá trị hơn vật chất.
b, Lời nói thanh nhã, lịch sự mang lại hiệu quả lớn.
c, Vật quý giá (chiếc kim vàng) không ai nỡ chuyển thành vật tầm thường (uốn làm lưỡi câu). Ý muốn nói những người lịch thiệp cần biết cách nói năng cho tương xứng với giá trị của bản thân.
→ Tựu trung, các câu tục ngữ khuyên mọi người lịch sự, nhã nhặn khi giao tiếp.
Một số câu tục ngữ có chung nội dung:
- Chim khôn kêu tiếng rảnh rang,
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.
- Vàng thì thử lửa thử than,
Chuông thì thử tiếng, người ngoan thử lời.
->Các biện pháp liên quan trực tiếp đến phương châm lịch sự, trong hội thoại: nói giảm, nói tránh.
a, Nói mát.
b, Nói hớt.
c, Nói móc.
d, Nói leo.
e, Nói ra đầu đũa.
->Các từ ngữ đều chỉ những cách liên quan đến phương châm lịch sự và phương châm cách thức.
a, Nhân tiện đây xin hỏi: khi người nói muốn hỏi về một vấn đề không đúng đề tài đang trao đổi, tránh người nghe hiểu mình không tuân thủ phương châm quan hệ.
b, Cực chẳng đã tôi phải nói, tôi nói điều này có gì không phải mong anh bỏ qua, biết là làm anh không vui, nhưng…; xin lỗi anh có thể không hài lòng nhưng thành thực mà nói… để giảm nhẹ sự đụng chạm, tuân thủ phương châm lịch sự.
c, Đừng nói leo, đừng ngắt lời như thế, đừng nói cái giọng đó với tôi… báo hiệu cho người đối thoại biết là họ không tuân thủ phương châm lịch sử.
- Giải thích nghĩa các thành ngữ:
+ Nói băm nói bổ: nói bốp chát, xỉa xói, thô bạo.
+ Nói như đấm vào tai: nói mạnh, trái ý người khác, khó nghe.
+ Điều nặng tiếng nhẹ: nói trách móc, chì chiết.
+ Nửa úp, nửa mở: thái độ mập mờ, không nói hết ý.
+ Mồm loa tép nhảy: lắm lời, đanh đá, nói át người khác.
+ Đánh trống lảng: né tránh vấn đề nào đó đang được bàn luận.
*Các phương châm liên quan:
+ Phương châm lịch sự: nói băm nói bổ, nói như đấm vào tai, điều nặng tiếng nhẹ, mồm loa mép giải, nói như dùi đục chấm mắm cáy.
+Phương châm cách thức: nửa úp nửa mở.
+ Phương châm quan hệ: đánh trống lảng.
Các phương châm hội thoại (tiếp theo)-Tiết 3
- Truyện cười “Chào hỏi” liên quan đến phương châm lịch sự.
- Anh chàng rể đã không quan tâm đến tình huống giao tiếp cụ thể.
+ Câu hỏi thăm của anh hoàn toàn lịch sự nhưng lại bị coi là thiếu lịch sự, tế nhị khi làm phiền tới người khác.
→ Cần chú ý tới tình huống giao tiếp cho phù hợp.
1. Chỉ có tình huống truyện “người ăn xin” tuân thủ phương châm lịch sự, còn lại đều không tuân thủ phương châm hội thoại.
2.
- Trường hợp trên, phương châm về lượng bị vi phạm. Thông tin mà Ba cũng cấp không đủ về lượng đặt ra trong câu hỏi của An, câu trả lời của Ba chung chung.
- Nếu trả lời thông tin sai, sẽ vi phạm phương châm về chất.
->Tránh vi phạm phương châm về chất, Ba đã chọn trả lời chung chung, không cụ thể, chấp nhận sự vi phạm phương châm về lượng.
3. Bác sĩ không tuân thủ phương châm về chất.
Mục đích: tạo niềm tin, nghị lực cho người bệnh.
- Để đạt được mục đích quan trọng hơn, người ta có thể không tuân thủ một phương châm hội thoại nào đó.
4. Câu nói “tiền bạc chỉ là tiền bạc” không đem lại thông tin mới, nhưng xét hàm ý, câu nói này hàm chứa: có những thứ còn quan trọng hơn tiền bạc.
→ Khi nói, để gây sự chú ý, muốn thể hiện ngụ ý nào đó, người nói có thể không tuân thủ phương châm hội thoại.
Người bố không chú ý tới phương châm cách thức:
+ Đứa con 5 tuổi (chưa học lớp 1) không thể nhận biết được tuyển tập truyện ngắn của Nam Cao”.
+ Với đối tượng này, câu nói đó mơ hồ.
→ Câu trả lời của người bố không đảm bảo mối quan hệ phương châm hội thoại và tình huống giao tiếp.
->Lời nói của Chân, Tay với lão Miệng không tuân thủ phương châm lịch sự.
->Việc không tuân thủ như vậy không có lý do chính đáng, không có căn cứ.
CHỦ ĐỀ
I. Phương châm về lượng:
1.Đoạn đối thoại giữa An và Ba:
- Điều An muốn biết là địa điểm học bơi cụ thể.
- Câu trả lời của Ba chỉ có nội dung hiển nhiên bơi (dưới nước), không có lượng tin cần thiết đáp ứng nhu cầu người đối thoại.
→ Cần chú ý nói đủ nội dung khi giao tiếp.
2.Truyện “Lợn cưới,áo mới”:
- Truyện cười “Lợn cưới, áo mới” gây cười ở câu trả lời của hai anh chàng có tính khoe khoang. Cả hai chàng đều ra sức trả lời thừa thông tin người hỏi cần biết.
- Các nguyên tắc cần tuân thủ khi giao tiếp:
+ Lời nói phải có thông tin, thông tin ấy phù hợp với mục đích giao tiếp.
+ Nội dung lời nói phải đủ (không thừa, không thiếu).
→ Nội dung lời nói đúng như yêu cầu giao tiếp, không thừa, không thiếu.
II. Phương châm về chất:
- Phê phán tính nói khoác, nói không đúng sự thật.
- Câu chuyện trên nhắc nhở chúng ta: khi nói, nội dung lời nói phải nói đúng sự thật, không nói những điều mình không tin là đúng, không có căn cứ chính xác.
III. Luyện tập:
Câu 1:
a, Thừa cụm từ “nuôi ở nhà” bởi từ “gia súc” đã bao hàm nghĩa vật nuôi trong nhà.
b, Thừa cụm từ “có hai cánh” vì tất cả các loài chim đều có hai cánh.
a, Nói có căn cứ chắc chắn: nói có sách, mách có chứng.
b, Nói sai sự thật một cách cố ý nhằm che giấu điều gì đó: nói dối.
c, Nói một cách hú họa, không có căn cứ: nói mò.
d, Nói nhảm nhí, vu vơ: nói nhăng nói cuội.
e, Nói khoác lác, làm ra vẻ tài giỏi: nói trạng.
-Câu hỏi “rồi có nuôi được không?” người nói không tuân thủ phương châm hội thoại về lượng.
- Trong câu trả lời “bà tôi sinh ra bố tôi cũng đẻ non trước hai tháng đấy!” dĩ nhiên là nuôi được sau đó mới sinh ra anh bạn này, đó cũng chính là chỗ tạo ra tiếng cười.
a, Đôi khi người nói phải dùng tới những cách diễn đạt như “tôi được biết”, “tôi tin rằng”, “nếu tôi không lầm thì”, “tôi nghe nói”, “theo tôi nghĩ”, “hình như là”…để đảm bảo tuân thủ phương châm hội thoại về chất. Người nói cũng phải dùng cách nói đảm bảo người nghe biết xác thực nhận định, thông tin mà mình được kiểm chứng.
b, Đôi khi người nói: như đã trình bày, mọi người đều biết. Cách nói này đều đảm bảo phương châm về lượng, mục đích nhấn mạnh ý, chuyển ý, dẫn ý, người nói cần nhắc một nội dung nào đó đã nói, giả định là mọi người đã, sẽ biết.
- Ăn đơm nói đặt: nói theo cách vu khống, đặt điều, bịa chuyện cho người khác.
- Ăn ốc nói mò: nói không căn cứ.
- Ăn không nói có: nói theo cách vu khống, bịa đặt.
- Cãi chày cãi cối: cố tranh cãi, không có lý lẽ thuyết phục, đúng đắn.
- Khua môi múa mép: nói ba hoa, khoác lác.
- Nói dơi nói chuột: nói lăng nhăng, linh tinh, không xác thực.
- Hứa hươu hứa vượn: hứa hẹn lấy lòng nhưng không thực hiện.
Các phương châm hội thoại (tiếp theo)-Tiết 2
-Thành ngữ “Ông nói gà, bà nói vịt” chỉ hiện tượng không thống nhất, không hiểu người khác nói gì dẫn đến tình trạng trật khớp, lệch lạc trong giao tiếp.
-> Để tránh tình trạng, khi hội thoại phải nói đúng đề tài giao tiếp, nói đúng vấn đề quan tâm.
-> Đó chính là phương châm quan hệ trong hội thoại.
1.
- Dây cà ra dây muống – nói lan man, dài dòng, không có trọng tâm.
- Lúng búng như ngậm hột thị - nói ấp úng, không rõ ràng, thiếu rành mạch.
- Nói như thế không đạt được hiệu quả giao tiếp: không thể hiện được nội dung muốn truyền đạt, gây khó khăn cho người tiếp nhận.
→ Trong hội thoại cần chú ý nói ngắn gọn, rõ ràng, rành mạch.
2.
Tôi đồng ý với những nhận định về truyện ngắn của ông ấy.
- Trong câu trên, cụm từ “ông ấy” có thể hiểu được hai cách: nhận định của ông ấy về truyện ngắn, nhận định truyện ngắn của ông ấy viết. Như vậy, nội dung câu nói mơ hồ, người nghe khó xác định được điều muốn nói.
- Để người nghe không hiểu lầm, phải thêm từ ngữ cho cách nói rõ ràng hơn.
Ví dụ:
+ Tôi đồng ý với những nhận định về truyện ngắn mà ông ấy mới sáng tác.
+ Tôi đồng ý với những nhận định truyện ngắn khá sâu sắc của ông ấy.
→ Như vậy, khi giao tiếp cần phải tránh cách nói mơ hồ, không rõ ràng, dễ gây hiểu lầm.
a. Trong mẫu chuyện Người ăn xin, cả hai nhân vật, người ăn xin và cậu bé trong câu chuyện đều cảm thấy mình nhận được từ người kia một điều gì đó.
- Nhân vật “tôi” không khinh miệt người nghèo khổ, khốn khó mặc dù không có gì để cho.
- Ông lão ăn xin cảm thấy được tôn trọng, chia sẻ, cả hai người đều thấy hài lòng.
b, Có thể rút ra bài học quý từ câu chuyện: trong giao tiếp cần tế nhị, tôn trọng người khác.
a, Câu tục ngữ thể hiện thái độ lịch sự, quý mến cách ứng xử đẹp có giá trị hơn vật chất.
b, Lời nói thanh nhã, lịch sự mang lại hiệu quả lớn.
c, Vật quý giá (chiếc kim vàng) không ai nỡ chuyển thành vật tầm thường (uốn làm lưỡi câu). Ý muốn nói những người lịch thiệp cần biết cách nói năng cho tương xứng với giá trị của bản thân.
→ Tựu trung, các câu tục ngữ khuyên mọi người lịch sự, nhã nhặn khi giao tiếp.
Một số câu tục ngữ có chung nội dung:
- Chim khôn kêu tiếng rảnh rang,
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.
- Vàng thì thử lửa thử than,
Chuông thì thử tiếng, người ngoan thử lời.
->Các biện pháp liên quan trực tiếp đến phương châm lịch sự, trong hội thoại: nói giảm, nói tránh.
a, Nói mát.
b, Nói hớt.
c, Nói móc.
d, Nói leo.
e, Nói ra đầu đũa.
->Các từ ngữ đều chỉ những cách liên quan đến phương châm lịch sự và phương châm cách thức.
a, Nhân tiện đây xin hỏi: khi người nói muốn hỏi về một vấn đề không đúng đề tài đang trao đổi, tránh người nghe hiểu mình không tuân thủ phương châm quan hệ.
b, Cực chẳng đã tôi phải nói, tôi nói điều này có gì không phải mong anh bỏ qua, biết là làm anh không vui, nhưng…; xin lỗi anh có thể không hài lòng nhưng thành thực mà nói… để giảm nhẹ sự đụng chạm, tuân thủ phương châm lịch sự.
c, Đừng nói leo, đừng ngắt lời như thế, đừng nói cái giọng đó với tôi… báo hiệu cho người đối thoại biết là họ không tuân thủ phương châm lịch sử.
- Giải thích nghĩa các thành ngữ:
+ Nói băm nói bổ: nói bốp chát, xỉa xói, thô bạo.
+ Nói như đấm vào tai: nói mạnh, trái ý người khác, khó nghe.
+ Điều nặng tiếng nhẹ: nói trách móc, chì chiết.
+ Nửa úp, nửa mở: thái độ mập mờ, không nói hết ý.
+ Mồm loa tép nhảy: lắm lời, đanh đá, nói át người khác.
+ Đánh trống lảng: né tránh vấn đề nào đó đang được bàn luận.
*Các phương châm liên quan:
+ Phương châm lịch sự: nói băm nói bổ, nói như đấm vào tai, điều nặng tiếng nhẹ, mồm loa mép giải, nói như dùi đục chấm mắm cáy.
+Phương châm cách thức: nửa úp nửa mở.
+ Phương châm quan hệ: đánh trống lảng.
Các phương châm hội thoại (tiếp theo)-Tiết 3
- Truyện cười “Chào hỏi” liên quan đến phương châm lịch sự.
- Anh chàng rể đã không quan tâm đến tình huống giao tiếp cụ thể.
+ Câu hỏi thăm của anh hoàn toàn lịch sự nhưng lại bị coi là thiếu lịch sự, tế nhị khi làm phiền tới người khác.
→ Cần chú ý tới tình huống giao tiếp cho phù hợp.
1. Chỉ có tình huống truyện “người ăn xin” tuân thủ phương châm lịch sự, còn lại đều không tuân thủ phương châm hội thoại.
2.
- Trường hợp trên, phương châm về lượng bị vi phạm. Thông tin mà Ba cũng cấp không đủ về lượng đặt ra trong câu hỏi của An, câu trả lời của Ba chung chung.
- Nếu trả lời thông tin sai, sẽ vi phạm phương châm về chất.
->Tránh vi phạm phương châm về chất, Ba đã chọn trả lời chung chung, không cụ thể, chấp nhận sự vi phạm phương châm về lượng.
3. Bác sĩ không tuân thủ phương châm về chất.
Mục đích: tạo niềm tin, nghị lực cho người bệnh.
- Để đạt được mục đích quan trọng hơn, người ta có thể không tuân thủ một phương châm hội thoại nào đó.
4. Câu nói “tiền bạc chỉ là tiền bạc” không đem lại thông tin mới, nhưng xét hàm ý, câu nói này hàm chứa: có những thứ còn quan trọng hơn tiền bạc.
→ Khi nói, để gây sự chú ý, muốn thể hiện ngụ ý nào đó, người nói có thể không tuân thủ phương châm hội thoại.
Người bố không chú ý tới phương châm cách thức:
+ Đứa con 5 tuổi (chưa học lớp 1) không thể nhận biết được tuyển tập truyện ngắn của Nam Cao”.
+ Với đối tượng này, câu nói đó mơ hồ.
→ Câu trả lời của người bố không đảm bảo mối quan hệ phương châm hội thoại và tình huống giao tiếp.
->Lời nói của Chân, Tay với lão Miệng không tuân thủ phương châm lịch sự.
->Việc không tuân thủ như vậy không có lý do chính đáng, không có căn cứ.
 








Các ý kiến mới nhất