Bài 15. Chiếc lược ngà

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thanh Lĩnh
Ngày gửi: 08h:44' 02-12-2022
Dung lượng: 7.3 MB
Số lượt tải: 1110
Nguồn:
Người gửi: Lê Thanh Lĩnh
Ngày gửi: 08h:44' 02-12-2022
Dung lượng: 7.3 MB
Số lượt tải: 1110
Số lượt thích:
1 người
(Nguyễn Ánh Dương)
Tiết 76,77,78:
I. Tìm hiểu chung:
1. Tác giả: SGK/201: Nguyễn Quang Sáng (1932 – 2014)
Bút danh Nguyễn Sáng.
Quê: huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Năm 1946, ông xung phong vào bộ đội, làm liên lạc
viên cho đơn vị Liên Chi 2.
Năm 1948, được bộ đội cho đi học thêm văn hóa ở
Trường trung học k/c Nguyễn Văn Tố.
Năm 1950, về công tác tại Phòng Chính trị Bộ Tư
lệnh phân khu miền Tây Nam Bộ, làm cán bộ nghiên cứu
tôn giáo.
Năm 1955, ông theo đơn vị tập kết ra Bắc, chuyển
ngành với quân hàm Chuẩn úy, về làm cán bộ Phòng Văn
nghệ Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam.
Năm 1958, công tác ở Hội Nhà văn Việt Nam, làm
biên tập viên tuần báo Văn nghệ biên tập nhà xuất bản
Văn học, cán bộ sáng tác.
Năm 1966, ông vào chiến trường miền Nam, làm
cán bộ sáng tác của Hội Văn nghệ Giải phóng.
Năm 1972, trở ra Hà Nội, tiếp tục làm việc ở Hội Nhà
văn.
Sau ngày đất nước thống nhất 30/4/1975, ông về
Thành phố Hồ Chí Minh, giữ chức Tổng Thư ký (về sau đổi
Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1957; Ủy viên Ban Chấp hành Hội khóa II, III
và là Phó tổng thư ký Hội khóa IV.
Ông mất tại nhà riêng ở Quận 7, TP Hồ Chí Minh vào lúc 17h 13/2/2014. Hưởng thọ 82
tuổi.
Ông là cha ruột của đạo diễn Nguyễn Quang Dũng, người từng làm giám khảo của
chương trình truyền hình Vietnam Idol.
Phong cách sáng tác
Những TP của ông luôn thấm đượm nhịp sống, mang màu sắc vùng đất Nam Bộ, ra đời
trong tinh thần chiến đấu cao. Ông luôn lđ nghệ thuật một cách ng/túc, trong s/tác ông có
một quan niệm về nghệ thuật của người cầm bút, đó là phải trung thực và tâm huyết với
nghề.
Mặc dù ko được đào tạo qua trường lớp thế nhưng với niềm đam mê văn chương bất
diệt, NQS luôn nỗ lực trong hành trình cầm bút của mình. Tất cả đều được đền đáp xứng
đáng và các tp của ông đều trở thành những tp kinh điển của làng điện ảnh Việt Nam, gây
ấn tượng mạnh với người xem.
TP của ông đa dạng thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim và hầu hết đều
xoay quanh cuộc sống, con người Nam Bộ trong 2 cuộc k/c cũng như sau hòa bình.
“Yếu tố đầu tiên, là phải có tâm huyết với nghề nghiệp. Không nên nghĩ là mình sẽ làm
giàu hay được nổi tiếng. Đôi khi chúng ta phải hy sinh vì nghệ thuật. Yếu tố tiếp theo chính
là vốn sống, vốn kiến thức nhất định để quyết tâm theo đuổi con đường mình đã chọn.
bậtnhất
tronglàsự
nghiệp
s/tác
củasay
ôngmê,
là tp
lược ngà”
một ta
câu
chuyện
sâu học
sắc
QuanNổi
trọng
phải
có một
niềm
nó“Chiếc
sẽ là động
lực giúp
không
ngừng
về và
t/csáng
gia đình.
lẽ, đối Quang
với chúng
ta trong bất cứ h/c nào thì gđ vẫn là thứ t/c thiêng
hỏi
tạo.” Có
– Nguyễn
Sáng
liêng, gần gũi nhất. Trong những tháng năm chiến tranh thì t/c ấy lại hiện lên một cách
sâu sắc, rõ ràng. Với ngòi bút tài tình, tác giả đã khắc họa và làm nỗi buồn thêm sâu hơn,
những tình huống éo le khiến cho độc giả phải rơi nước mắt. Nổi bật là t/c cha con thiêng
Những tác phẩm tiêu biểu
Con chim vàng, Người quê hương, Nhật ký người ở lại, Đất lửa, Câu
chuyện bên trận địa pháo, Chiếc lược ngà, Bông cẩm thạch, Cái áo thằng
hình rơm, Mùa gió chướng, Người con đi xa, Dòng sông thơ ấu, Như một
huyền thoại, Thời thơ ấu,…
Vinh danh
Ông Năm Hạng – truyện ngắn giải thưởng cuộc thi truyện ngắn báo Thống
Nhất năm 1959.
Tư Quắn – truyện ngắn, giải thưởng cuộc thi truyện ngắn tạp chí Văn nghệ
quân đội năm 1959.
Cánh đồng hoang (kịch bản phim) - Huy chương vàng liên hoan phim toàn
quốc (1980), Huy chương vàng liên hoan phim quốc tế ở Moskva năm
1981.
Mùa gió chướng (kịch bản phim) Huy chương bạc liên hoan phim toàn quốc
năm 1980.
Dòng sông thơ ấu – giải thưởng Hội đồng văn học thiếu nhi Hội Nhà văn
năm 1985.
Con mèo của fujita – tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố
Hồ Chí Minh, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1994.
Vểnh râu (truyện ngắn) giành giải Mai vàng cho Nhà thơ xuất sắc năm
Tá
cp
hẩ
m
tiê
u
biể
u
Văn xuôi
•Con chim vàng (tập truyện ngắn, 1956)
•Người quê hương (tập truyện ngắn, 1968)
•Nhật ký người ở lại (tiểu thuyết, 1961)
•Đất lửa (tiểu thuyết, 1963)
•Câu chuyện bên trận địa pháo (truyện vừa,
1966)
•Chiếc lược ngà (tập truyện ngắn, 1966)
•Bông cẩm thạch (tập truyện ngắn, 1969)
•Cái áo thằng hình rơm (truyện vừa, 1975)
•Mùa gió chướng (tiểu thuyết, 1975)
•Người con đi xa (tập truyện ngắn, 1977)
•Dòng sông thơ ấu (tiểu thuyết, 1985)
•Bàn thờ tổ của một cô đào (tập truyện ngắn,
1985)
•Tôi thích làm vua (tập truyện ngắn, 1988)
•25 truyện ngắn (1990)
•Paris – tiếng hát Trịnh Công Sơn (1990)
•Con mèo của Foujita (tập truyện ngắn, 1991)
•Nhà văn về làng (tập truyện ngắn, Nhà xuất bản
Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2008)
Kịch bản phim
•Mùa gió chướng (1977)
•Cánh đồng hoang (1978)
•Pho tượng (1981)
•Cho đến bao giờ (1982)
•Mùa nước nổi (1986)
•Dòng sông hát (1988)
•Câu nói dối đầu tiên (1988)
•Thời thơ ấu (1995)
•Giữa dòng (1995)
•Như một huyền thoại (1995)
2. Tác phẩm
- Thể loại: Truyện ngắn
- Sáng tác 1966 (khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ) in trong tập
truyện cùng tên.
- Đoạn trích nằm ở phần giữa truyện.
* Tóm tắt:
Ông Sáu xa nhà đi k/c từ khi con gái chưa tròn tuổi, chỉ được thấy con qua tấm
ảnh nhỏ. Suốt những năm tháng sống ở chiến trường, không lúc nào ông nguôi ngoai
nỗi nhớ con. Ba ngày được nghỉ phép, ông nôn nóng… được gặp con. Nhưng thật trớ
trêu, khi gặp được con - bé Thu không nhận ông là cha vì vết thẹo dài trên mặt khiến
ông không giống bức hình chụp chung với má. Suốt ba ngày phép, ông gần gũi, vỗ về
con nhưng càng lại gần thì con bé càng xa lánh cự tuyệt. Bữa ăn chia tay ông quan
tâm gắp cho con miếng trứng cá, con bé hất tung ra khỏi chén, cơm bắt tung tóe, ông
Sáu giận quá hét lên, nét vào mông nó, bé Thu giận dỗi bỏ về nhà ngoại. Được ngoại
gt, nỗi khúc mắc trong lòng Thu được giải tỏa. Đến khi Thu nhận cha, t/c cha con trỗi
dậy mãnh liệt trong lòng em cũng là lúc ông Sáu phải trở lại chiến trường mang theo
lời hứa sẽ mua tặng con một chiếc lược. Trở lại chiến trường, ông dồn hết nỗi nhớ,
tình yêu thương gò lưng, tỉ mẫn làm tặng con chiếc lược ngà có khắc dòng chữ “Yêu
nhớ tặng Thu con của ba”. Nhưng thật xót xa, chiếc lược chưa kịp trao tận tay con gái
thì ông Sáu đã hi sinh trong một trận càn. Chỉ khi bác Ba hứa trao tận tay chiếc lược
cho con ông mới nhắm mắt đi xuôi.
II. Phân tích
1. Nhân vật bé Thu
a/ Trước khi nhận cha
- Khi ông Sáu gọi:
...giật mình, tròn mắt nhìn, ngơ ngác, lạ lùng
...mặt tái đi, vụt chạy và kêu thét lên…
=> Phản ứng tâm lí tự nhiên
=> Là một cô bé ngây thơ, hồn nhiên
- Trong 3 ngày anh Sáu ở nhà:
+ Khi anh Sáu vỗ về: Thu càng đẩy ra xa.
+ Khi mời cơm: Nói trổng
+ Khi nấu cơm: Tự lấy vá chắt nước cơm
+ Trong bữa cơm: Hất cái trứng cá mà ba
gắp cho, bị ba đánh Thu không khóc, bỏ
sang nhà ngoại ... cố ý khua dây lòi tói
kêu rổn rảng.
=> Ương ngạnh, bướng bỉnh, thông minh.
Khi nhận ra cha
- Nét mặt: sầm
lại, không bướng
bỉnh, nhăn mày,
cau có
- Lời nói:
+ Bất ngờ kêu
thét lên “Ba…a…
a…ba!
- Hành động:
+ ôm chặt lấy cổ
+ hôn cùng khắp, ... hôn
cả vết thẹo
+ Dặn ba về mua cho cây
lược (vòi quà)
=> Tình yêu thương cha sâu sắc, tha thiết, mãnh liệt.
b. Khi nhận ra cha:
* Nét mặt: “không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa”, “ sầm
lại, buồn rầu, … đôi mắt xôn xao”
* Lời nói: Bất ngờ kêu thét lên “ Ba…a…a…ba!”
* Hành động:
+ “ ôm lấy cổ ba nó”, ôm chặt cổ ba, chân quắp chặt lấy ba không
muốn rời xa,.. nói trong tiếng nấc…
+ “hôn ba nó cùng khắp… hôn cả vết sẹo dài trên má của ba nó.”
+ Dặn ba về mua cho mình một cây lược.
* Nguyên nhân: Vết thẹo dài trên má ba.
Khi biết được nguyên nhân vì sao
lúc đầu bé Thu nhất quyết không chịu
nhận cha, các em có những cảm nhận
nào khác về nhân vật bé Thu?
b. Khi nhận ra cha:
* Nét mặt: “không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa”, “sầm
lại, buồn rầu, … đôi mắt xôn xao”
* Lời nói: Bất ngờ kêu thét lên “Ba…a…a…ba!”
* Hành động:
+ “ ôm lấy cổ ba nó”, ôm chặt cổ ba, chân quắp chặt lấy ba không
muốn rời xa,.. nói trong tiếng nấc…
+ “hôn ba nó cùng khắp… hôn cả vết sẹo dài trên má của ba nó.”
+ Dặn ba về mua cho mình một cây lược.
* Nguyên nhân: Vết thẹo dài trên má ba.
=> Bé Thu là một em bé có cá tính, tình cảm rạch ròi,
trước sau như một và đặc biệt là có tình yêu thương
cha sâu sắc, tha thiết, mãnh liệt.
Qua việc bé Thu không nhận cha vì có vết
thẹo dài trên má, cho đến khi nhận ra cha thì
cũng đến lúc phải chia li, em có suy nghĩ gì về
cuộc chiến tranh chống Mĩ? Từ đó, em hãy nói
lên mong muốn của mình khi được sống trong
thế giới hòa bình hôm nay.
* Tình huống truyện
* Tình huống 1:
Ông Sáu xa nhà đi
kháng chiến. Đến lúc về
thăm nhà thì con
không nhận ba. Đến lúc
nhận ba thì ba phải ra
đi.
* Tình huống 2:
2/ Nhân vật ông Sáu
a/ Lúc mới gặp con
+ ...nhún chân nhảy thót lên,
+...bước vội vàng với những
bước dài... gọi con!
+...mặt anh sầm lại hai tay
buông xuống như bị gãy....
=> Tâm trạng nôn nóng, khao khát được gặp con.
=>Hụt hẫng, đau khổ, thất vọng khi con bỏ chạy.
b/ Những ngày ở nhà
- ... anh chẳng đi đâu xa, lúc nào cũng
vỗ về con...
+ mong được nghe một tiếng ba của
con
-...khổ tâm đến nỗi không khóc
được...
- trong bữa cơm...vung tay đánh
con....
=> Khao khát được con gọi cha, được chăm sóc con.
=> Đau đớn tột cùng khi con không nhận cha.
c/ Lúc chia tay:
- ... chỉ đứng nhìn buồn rầu...
- ôm con, một tay rút khăn lén lau nước
mắt... hôn lên tóc con
=> Sung sướng, hạnh phúc nghẹn
ngào khi được đón nhận tình
cảm của con
d/ Lúc ở chiến khu:
- Nhớ con, ân hận khi đã lỡ đánh con.
- Làm cây lược cho con
+ Gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét trên
chiếc lược.
+ Mài lên tóc cho bóng, mượt.
- Trước khi hy sinh nhờ bác Ba trao
chiếc lược ngà cho con gái.
=> Tình phụ tử thiêng liêng cao
quý, bất tử.
3. Nghệ thuật:
- Tình huống truyện
* Tình huống 1:
Ông Sáu xa nhà đi
kháng chiến. Đến lúc về
thăm nhà thì con
không nhận ba. Đến lúc
nhận ba thì ba phải ra
đi.
* Tình huống 2:
Ở chiến khu ông
dồn hết tình thương,
mong nhớ làm cây lược
ngà để tặng con, nhưng
chưa kịp trao thì ông
đã hi sinh
Tình huống trắc trở éo le
Hình ảnh chiếc lược ngà
- Là kỉ vật cuối cùng của người cha
trước lúc hi sinh dành cho con chứa
đựng bao nhiêu tình cảm yêu mến
nhớ thương mong đợi của người cha
đối với đứa con xa cách.
- Chiếc lược ngà đã kết tinh trong nó
tình phụ tử mộc mạc mà đằm thắm
sâu xa, đơn sơ mà kì diệu biết bao !
- Chứng tích của nỗi đau do chiến
tranh và kẻ thù xâm lược gây ra.
3. Nghệ thuật:
- Ngôi kể thứ nhất (Lựa chọn bác Ba - người kể chuyện là bạn của
ông Sáu, chứng kiến toàn bộ câu chuyện, thấu hiểu cảnh ngộ và tâm
trạng của nhân vật trong truyện ) -> Tác dụng: tăng độ tin cậy, tính
trữ tình của chuyện.
- Xây dựng cốt truyện chặt chẽ
- Tình huống truyện éo le.
- Xây dựng nhân vật qua hành động, lời nói, miêu tả tâm lý nhân vật ,
xây dựng tính cách nhân vật, đặc biệt là nhân vật bé Thu.
- Ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ
- Chi tiết, hình ảnh đặc sắc: Chiếc lược ngà.
Sử dụng
từ ngữ
Miêu tả địa phương Xây dựng
cốt truyện
tâm lý, xây
dựng tính
Tình chặt chẽ
cách nhân
huống bất
vật.
ngờ, hợp Lựa chọn
ngôi kể
lý.
phù hợp
Nội
dun
g:
III. Ghi nhớ
SGK/ 202
Nghệ
thuật
Tình cha
con sâu nặng
và cao đẹp
trong cảnh
ngộ éo le của
chiến tranh
Nội
dung:
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC
- Nắm đặc điểm nhân vật bé Thu, ông
Sáu.
- Nắm nội dung và những thành công
về nghệ thuật của tác phẩm.
I. Tìm hiểu chung:
1. Tác giả: SGK/201: Nguyễn Quang Sáng (1932 – 2014)
Bút danh Nguyễn Sáng.
Quê: huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Năm 1946, ông xung phong vào bộ đội, làm liên lạc
viên cho đơn vị Liên Chi 2.
Năm 1948, được bộ đội cho đi học thêm văn hóa ở
Trường trung học k/c Nguyễn Văn Tố.
Năm 1950, về công tác tại Phòng Chính trị Bộ Tư
lệnh phân khu miền Tây Nam Bộ, làm cán bộ nghiên cứu
tôn giáo.
Năm 1955, ông theo đơn vị tập kết ra Bắc, chuyển
ngành với quân hàm Chuẩn úy, về làm cán bộ Phòng Văn
nghệ Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam.
Năm 1958, công tác ở Hội Nhà văn Việt Nam, làm
biên tập viên tuần báo Văn nghệ biên tập nhà xuất bản
Văn học, cán bộ sáng tác.
Năm 1966, ông vào chiến trường miền Nam, làm
cán bộ sáng tác của Hội Văn nghệ Giải phóng.
Năm 1972, trở ra Hà Nội, tiếp tục làm việc ở Hội Nhà
văn.
Sau ngày đất nước thống nhất 30/4/1975, ông về
Thành phố Hồ Chí Minh, giữ chức Tổng Thư ký (về sau đổi
Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1957; Ủy viên Ban Chấp hành Hội khóa II, III
và là Phó tổng thư ký Hội khóa IV.
Ông mất tại nhà riêng ở Quận 7, TP Hồ Chí Minh vào lúc 17h 13/2/2014. Hưởng thọ 82
tuổi.
Ông là cha ruột của đạo diễn Nguyễn Quang Dũng, người từng làm giám khảo của
chương trình truyền hình Vietnam Idol.
Phong cách sáng tác
Những TP của ông luôn thấm đượm nhịp sống, mang màu sắc vùng đất Nam Bộ, ra đời
trong tinh thần chiến đấu cao. Ông luôn lđ nghệ thuật một cách ng/túc, trong s/tác ông có
một quan niệm về nghệ thuật của người cầm bút, đó là phải trung thực và tâm huyết với
nghề.
Mặc dù ko được đào tạo qua trường lớp thế nhưng với niềm đam mê văn chương bất
diệt, NQS luôn nỗ lực trong hành trình cầm bút của mình. Tất cả đều được đền đáp xứng
đáng và các tp của ông đều trở thành những tp kinh điển của làng điện ảnh Việt Nam, gây
ấn tượng mạnh với người xem.
TP của ông đa dạng thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim và hầu hết đều
xoay quanh cuộc sống, con người Nam Bộ trong 2 cuộc k/c cũng như sau hòa bình.
“Yếu tố đầu tiên, là phải có tâm huyết với nghề nghiệp. Không nên nghĩ là mình sẽ làm
giàu hay được nổi tiếng. Đôi khi chúng ta phải hy sinh vì nghệ thuật. Yếu tố tiếp theo chính
là vốn sống, vốn kiến thức nhất định để quyết tâm theo đuổi con đường mình đã chọn.
bậtnhất
tronglàsự
nghiệp
s/tác
củasay
ôngmê,
là tp
lược ngà”
một ta
câu
chuyện
sâu học
sắc
QuanNổi
trọng
phải
có một
niềm
nó“Chiếc
sẽ là động
lực giúp
không
ngừng
về và
t/csáng
gia đình.
lẽ, đối Quang
với chúng
ta trong bất cứ h/c nào thì gđ vẫn là thứ t/c thiêng
hỏi
tạo.” Có
– Nguyễn
Sáng
liêng, gần gũi nhất. Trong những tháng năm chiến tranh thì t/c ấy lại hiện lên một cách
sâu sắc, rõ ràng. Với ngòi bút tài tình, tác giả đã khắc họa và làm nỗi buồn thêm sâu hơn,
những tình huống éo le khiến cho độc giả phải rơi nước mắt. Nổi bật là t/c cha con thiêng
Những tác phẩm tiêu biểu
Con chim vàng, Người quê hương, Nhật ký người ở lại, Đất lửa, Câu
chuyện bên trận địa pháo, Chiếc lược ngà, Bông cẩm thạch, Cái áo thằng
hình rơm, Mùa gió chướng, Người con đi xa, Dòng sông thơ ấu, Như một
huyền thoại, Thời thơ ấu,…
Vinh danh
Ông Năm Hạng – truyện ngắn giải thưởng cuộc thi truyện ngắn báo Thống
Nhất năm 1959.
Tư Quắn – truyện ngắn, giải thưởng cuộc thi truyện ngắn tạp chí Văn nghệ
quân đội năm 1959.
Cánh đồng hoang (kịch bản phim) - Huy chương vàng liên hoan phim toàn
quốc (1980), Huy chương vàng liên hoan phim quốc tế ở Moskva năm
1981.
Mùa gió chướng (kịch bản phim) Huy chương bạc liên hoan phim toàn quốc
năm 1980.
Dòng sông thơ ấu – giải thưởng Hội đồng văn học thiếu nhi Hội Nhà văn
năm 1985.
Con mèo của fujita – tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố
Hồ Chí Minh, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1994.
Vểnh râu (truyện ngắn) giành giải Mai vàng cho Nhà thơ xuất sắc năm
Tá
cp
hẩ
m
tiê
u
biể
u
Văn xuôi
•Con chim vàng (tập truyện ngắn, 1956)
•Người quê hương (tập truyện ngắn, 1968)
•Nhật ký người ở lại (tiểu thuyết, 1961)
•Đất lửa (tiểu thuyết, 1963)
•Câu chuyện bên trận địa pháo (truyện vừa,
1966)
•Chiếc lược ngà (tập truyện ngắn, 1966)
•Bông cẩm thạch (tập truyện ngắn, 1969)
•Cái áo thằng hình rơm (truyện vừa, 1975)
•Mùa gió chướng (tiểu thuyết, 1975)
•Người con đi xa (tập truyện ngắn, 1977)
•Dòng sông thơ ấu (tiểu thuyết, 1985)
•Bàn thờ tổ của một cô đào (tập truyện ngắn,
1985)
•Tôi thích làm vua (tập truyện ngắn, 1988)
•25 truyện ngắn (1990)
•Paris – tiếng hát Trịnh Công Sơn (1990)
•Con mèo của Foujita (tập truyện ngắn, 1991)
•Nhà văn về làng (tập truyện ngắn, Nhà xuất bản
Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2008)
Kịch bản phim
•Mùa gió chướng (1977)
•Cánh đồng hoang (1978)
•Pho tượng (1981)
•Cho đến bao giờ (1982)
•Mùa nước nổi (1986)
•Dòng sông hát (1988)
•Câu nói dối đầu tiên (1988)
•Thời thơ ấu (1995)
•Giữa dòng (1995)
•Như một huyền thoại (1995)
2. Tác phẩm
- Thể loại: Truyện ngắn
- Sáng tác 1966 (khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ) in trong tập
truyện cùng tên.
- Đoạn trích nằm ở phần giữa truyện.
* Tóm tắt:
Ông Sáu xa nhà đi k/c từ khi con gái chưa tròn tuổi, chỉ được thấy con qua tấm
ảnh nhỏ. Suốt những năm tháng sống ở chiến trường, không lúc nào ông nguôi ngoai
nỗi nhớ con. Ba ngày được nghỉ phép, ông nôn nóng… được gặp con. Nhưng thật trớ
trêu, khi gặp được con - bé Thu không nhận ông là cha vì vết thẹo dài trên mặt khiến
ông không giống bức hình chụp chung với má. Suốt ba ngày phép, ông gần gũi, vỗ về
con nhưng càng lại gần thì con bé càng xa lánh cự tuyệt. Bữa ăn chia tay ông quan
tâm gắp cho con miếng trứng cá, con bé hất tung ra khỏi chén, cơm bắt tung tóe, ông
Sáu giận quá hét lên, nét vào mông nó, bé Thu giận dỗi bỏ về nhà ngoại. Được ngoại
gt, nỗi khúc mắc trong lòng Thu được giải tỏa. Đến khi Thu nhận cha, t/c cha con trỗi
dậy mãnh liệt trong lòng em cũng là lúc ông Sáu phải trở lại chiến trường mang theo
lời hứa sẽ mua tặng con một chiếc lược. Trở lại chiến trường, ông dồn hết nỗi nhớ,
tình yêu thương gò lưng, tỉ mẫn làm tặng con chiếc lược ngà có khắc dòng chữ “Yêu
nhớ tặng Thu con của ba”. Nhưng thật xót xa, chiếc lược chưa kịp trao tận tay con gái
thì ông Sáu đã hi sinh trong một trận càn. Chỉ khi bác Ba hứa trao tận tay chiếc lược
cho con ông mới nhắm mắt đi xuôi.
II. Phân tích
1. Nhân vật bé Thu
a/ Trước khi nhận cha
- Khi ông Sáu gọi:
...giật mình, tròn mắt nhìn, ngơ ngác, lạ lùng
...mặt tái đi, vụt chạy và kêu thét lên…
=> Phản ứng tâm lí tự nhiên
=> Là một cô bé ngây thơ, hồn nhiên
- Trong 3 ngày anh Sáu ở nhà:
+ Khi anh Sáu vỗ về: Thu càng đẩy ra xa.
+ Khi mời cơm: Nói trổng
+ Khi nấu cơm: Tự lấy vá chắt nước cơm
+ Trong bữa cơm: Hất cái trứng cá mà ba
gắp cho, bị ba đánh Thu không khóc, bỏ
sang nhà ngoại ... cố ý khua dây lòi tói
kêu rổn rảng.
=> Ương ngạnh, bướng bỉnh, thông minh.
Khi nhận ra cha
- Nét mặt: sầm
lại, không bướng
bỉnh, nhăn mày,
cau có
- Lời nói:
+ Bất ngờ kêu
thét lên “Ba…a…
a…ba!
- Hành động:
+ ôm chặt lấy cổ
+ hôn cùng khắp, ... hôn
cả vết thẹo
+ Dặn ba về mua cho cây
lược (vòi quà)
=> Tình yêu thương cha sâu sắc, tha thiết, mãnh liệt.
b. Khi nhận ra cha:
* Nét mặt: “không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa”, “ sầm
lại, buồn rầu, … đôi mắt xôn xao”
* Lời nói: Bất ngờ kêu thét lên “ Ba…a…a…ba!”
* Hành động:
+ “ ôm lấy cổ ba nó”, ôm chặt cổ ba, chân quắp chặt lấy ba không
muốn rời xa,.. nói trong tiếng nấc…
+ “hôn ba nó cùng khắp… hôn cả vết sẹo dài trên má của ba nó.”
+ Dặn ba về mua cho mình một cây lược.
* Nguyên nhân: Vết thẹo dài trên má ba.
Khi biết được nguyên nhân vì sao
lúc đầu bé Thu nhất quyết không chịu
nhận cha, các em có những cảm nhận
nào khác về nhân vật bé Thu?
b. Khi nhận ra cha:
* Nét mặt: “không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa”, “sầm
lại, buồn rầu, … đôi mắt xôn xao”
* Lời nói: Bất ngờ kêu thét lên “Ba…a…a…ba!”
* Hành động:
+ “ ôm lấy cổ ba nó”, ôm chặt cổ ba, chân quắp chặt lấy ba không
muốn rời xa,.. nói trong tiếng nấc…
+ “hôn ba nó cùng khắp… hôn cả vết sẹo dài trên má của ba nó.”
+ Dặn ba về mua cho mình một cây lược.
* Nguyên nhân: Vết thẹo dài trên má ba.
=> Bé Thu là một em bé có cá tính, tình cảm rạch ròi,
trước sau như một và đặc biệt là có tình yêu thương
cha sâu sắc, tha thiết, mãnh liệt.
Qua việc bé Thu không nhận cha vì có vết
thẹo dài trên má, cho đến khi nhận ra cha thì
cũng đến lúc phải chia li, em có suy nghĩ gì về
cuộc chiến tranh chống Mĩ? Từ đó, em hãy nói
lên mong muốn của mình khi được sống trong
thế giới hòa bình hôm nay.
* Tình huống truyện
* Tình huống 1:
Ông Sáu xa nhà đi
kháng chiến. Đến lúc về
thăm nhà thì con
không nhận ba. Đến lúc
nhận ba thì ba phải ra
đi.
* Tình huống 2:
2/ Nhân vật ông Sáu
a/ Lúc mới gặp con
+ ...nhún chân nhảy thót lên,
+...bước vội vàng với những
bước dài... gọi con!
+...mặt anh sầm lại hai tay
buông xuống như bị gãy....
=> Tâm trạng nôn nóng, khao khát được gặp con.
=>Hụt hẫng, đau khổ, thất vọng khi con bỏ chạy.
b/ Những ngày ở nhà
- ... anh chẳng đi đâu xa, lúc nào cũng
vỗ về con...
+ mong được nghe một tiếng ba của
con
-...khổ tâm đến nỗi không khóc
được...
- trong bữa cơm...vung tay đánh
con....
=> Khao khát được con gọi cha, được chăm sóc con.
=> Đau đớn tột cùng khi con không nhận cha.
c/ Lúc chia tay:
- ... chỉ đứng nhìn buồn rầu...
- ôm con, một tay rút khăn lén lau nước
mắt... hôn lên tóc con
=> Sung sướng, hạnh phúc nghẹn
ngào khi được đón nhận tình
cảm của con
d/ Lúc ở chiến khu:
- Nhớ con, ân hận khi đã lỡ đánh con.
- Làm cây lược cho con
+ Gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét trên
chiếc lược.
+ Mài lên tóc cho bóng, mượt.
- Trước khi hy sinh nhờ bác Ba trao
chiếc lược ngà cho con gái.
=> Tình phụ tử thiêng liêng cao
quý, bất tử.
3. Nghệ thuật:
- Tình huống truyện
* Tình huống 1:
Ông Sáu xa nhà đi
kháng chiến. Đến lúc về
thăm nhà thì con
không nhận ba. Đến lúc
nhận ba thì ba phải ra
đi.
* Tình huống 2:
Ở chiến khu ông
dồn hết tình thương,
mong nhớ làm cây lược
ngà để tặng con, nhưng
chưa kịp trao thì ông
đã hi sinh
Tình huống trắc trở éo le
Hình ảnh chiếc lược ngà
- Là kỉ vật cuối cùng của người cha
trước lúc hi sinh dành cho con chứa
đựng bao nhiêu tình cảm yêu mến
nhớ thương mong đợi của người cha
đối với đứa con xa cách.
- Chiếc lược ngà đã kết tinh trong nó
tình phụ tử mộc mạc mà đằm thắm
sâu xa, đơn sơ mà kì diệu biết bao !
- Chứng tích của nỗi đau do chiến
tranh và kẻ thù xâm lược gây ra.
3. Nghệ thuật:
- Ngôi kể thứ nhất (Lựa chọn bác Ba - người kể chuyện là bạn của
ông Sáu, chứng kiến toàn bộ câu chuyện, thấu hiểu cảnh ngộ và tâm
trạng của nhân vật trong truyện ) -> Tác dụng: tăng độ tin cậy, tính
trữ tình của chuyện.
- Xây dựng cốt truyện chặt chẽ
- Tình huống truyện éo le.
- Xây dựng nhân vật qua hành động, lời nói, miêu tả tâm lý nhân vật ,
xây dựng tính cách nhân vật, đặc biệt là nhân vật bé Thu.
- Ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ
- Chi tiết, hình ảnh đặc sắc: Chiếc lược ngà.
Sử dụng
từ ngữ
Miêu tả địa phương Xây dựng
cốt truyện
tâm lý, xây
dựng tính
Tình chặt chẽ
cách nhân
huống bất
vật.
ngờ, hợp Lựa chọn
ngôi kể
lý.
phù hợp
Nội
dun
g:
III. Ghi nhớ
SGK/ 202
Nghệ
thuật
Tình cha
con sâu nặng
và cao đẹp
trong cảnh
ngộ éo le của
chiến tranh
Nội
dung:
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC
- Nắm đặc điểm nhân vật bé Thu, ông
Sáu.
- Nắm nội dung và những thành công
về nghệ thuật của tác phẩm.
 







Các ý kiến mới nhất