Bài 15. Đập đá ở Côn Lôn

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Dương Bảo Minh Thư
Ngày gửi: 20h:31' 12-12-2022
Dung lượng: 4.1 MB
Số lượt tải: 509
Nguồn:
Người gửi: Dương Bảo Minh Thư
Ngày gửi: 20h:31' 12-12-2022
Dung lượng: 4.1 MB
Số lượt tải: 509
Số lượt thích:
1 người
(Long Hoa Anh)
Tiết 58 : văn bản : ĐẬP ĐÁ Ở CÔN LÔN
-Phan Châu Trinh-
I. TÌM HIỂU CHUNG
Chapter one
1. Tác giả
Phan Châu Trinh (1872 – 1926), hiệu là Tây Hồ, biệt hiệu
Hy Mã, tự là Tử Cán quê ở làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước,
phủ Tam Kỳ (nay thuộc xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh), tỉnh
Quảng Nam.
Ông đỗ Phó bảng năm Tân Sửu (1901), làm quan một thời
gian ngắn rồi từ quan, đi làm cách mạng. Phan Châu Trinh chủ
trương cứu nước bằng cách lợi dụng thực dân Pháp, cải cách
đối mới mọi mặt (duy tân), làm cho dân giàu nước mạnh, trên
cơ sở đó tạo nền độc lập quốc gia.
Năm 1908 ông bị bắt đày đi Côn Đảo. Ba năm sau, khi được
trả tự do, Phan Châu Trinh xin sang Pháp tìm cách thúc đẩy
cải cách chính trị ở Đông Dương nhưng công việc không
thành.
Năm 1952, Phan Châu Trinh về Sài Gòn, diễn thuyết được vài
lần, sau đó ốm nặng rồi mất. Đám tang Phan Châu Trinh trở
thành một phong trào vận động ái quốc rộng khắp cả nước.
Thông tin khác
Hoàn cảnh gia đình
- Cha ông là Phan Văn Bình, làm chức quản
cơ sơn phòng, sau thì tham gia phong trào
Cần Vương trong tỉnh, làm Chuyển vận sứ
đồn A Bá, phụ trách việc quân lương.
-Mẹ ông là Lê Thị Lương, con gái
nhà vọng tộc, thông thạo chữ Hán, ở
làng Phú Lâm, huyện Tiên Phước
-Mẹ cụ mất sớm vào năm ông lên sáu tuổi. -Quê
nhà bị quân Pháp đốt cháy trong cuộc trấn áp
phong trào Cần Vương, nên ông phải theo cha,
được cha dạy chữ và dạy võ. Sau khi cha mất ông
trở về quê sống với anh là Phan Văn Cừ và tiếp
tục đi học. Ông học giỏi, năm 27 tuổi, được tuyển
vào trường tỉnh và học chung với Trần Quý Cáp,
Huỳnh Thức Kháng, Nguyễn Đình Hiến, Phan
Quang và Phạm Liệu.
Nguyên nhân cụ Phan Châu Trinh mất :
Khi bệnh tình trở nặng (tháng 12 năm 1925), túc trực thường xuyên cạnh Phan
Châu Trinh là Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Nguyễn Sinh Sắc, Huỳnh
Thúc Kháng.
Đang lúc Phan Châu Trinh nằm trên giường bệnh thì hay tin ông Ninh vừa bị mật
thám Pháp đến vây bắt tại nhà vào lúc 11 giờ 30 trưa ngày 24 tháng 3 năm 1926.
Ngay đêm hôm đó, lúc 21 giờ 30, ông qua đời tại khách sạn Chiêu Nam Lầu và
được đem quàn tại Bá Huê lầu, số 54 đường Pellerin, Sài Gòn,[16] hưởng dương
54 tuổi.
Lời trăn trối cuối cùng của Phan Châu Trinh với Huỳnh Thúc Kháng, được thuật
lại là:
"Độc lập của dân tộc ta sau này sở cậy có Nguyễn Ái Quốc".[17]
2. Tác phẩm
* Sự nghiệp văn chương của Phan Châu Trinh
-Phan Châu Trinh luôn có ý thức dùng văn chương để làm cách mạng. Những áng văn
chính luận của ông đậm tính chất hùng biện, lập luận chặt chẽ, đanh thép, những bài thơ
của ông dạt dào cảm xúc về đất nước, đồng bào; tất cả đều thấm nhuần tư tưởng yêu nước và
tinh thần dân chủ.
-Thể loại: Phan Châu Trinh sáng tác cả văn xuôi chính luận và thơ trữ tình yêu nước
cách mạng.
-Tác phẩm chính: Đầu Pháp chính phủ thư (1906); Thất điều trần (1922); Đạo đức và luân lí
Đông Tây (1925)…
festivalPPTtemplate http://www.1ppt.com/jieri/
a. Hoàn cảnh sáng tác:
- Bài thơ được viết trong thời gian tác giả bị đày ở Côn
Đảo (4/1908- 6/1910)
b. Thể loại :
- Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
c. PTBĐ :
Biểu cảm
THỂ THƠ THẤT NGÔN
BÁT CÚ ĐƯỜNG LUẬT
- Số câu : 8 câu/ bài
- Số chữ : 7 chữ/ câu
- Ngắt nhịp : 4/3 hoặc 2/2/3
- Gieo vần : ở các chữ cuối của câu 1,2,4,6,8.
- Đối : giữa câu 3 và câu 4 ; giữa câu 5 và câu 6.
-Luật : Bằng – Trắc.
-Bố cục : Đề- Thực- Luận- Kết
Bố cục :
1
- Phần 1: Bốn câu thơ đầu:
Công việc đập đá - tư thế,
khí phách người tù.
2
- Phần 2: Bốn câu sau: Ý chí kiên
cường của nhà cách mạng trong
cảnh tù đày.
Bốn câu thơ đầu :
Công việc đập đá và tư
thế của người tù cách
mạng.
Bốn câu thơ cuối:
Cảm nghĩ từ công việc
đập đá.
CHATER TWO
* Giải nghĩa từ :
- Côn Lôn: ( Côn Đảo )
+ Thuộc tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
+ Một hòn đảo nhỏ ở miền Đông Nam nước ta.
+ Cách bờ biển Vũng Tàu khoảng gần 100km.
Em hãy nêu
những hiểu
biết của
mình về Đảo
Côn Lôn?
II. PHÂN TÍCH
1. Bốn câu thơ đầu
*Câu 1-2 :
Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn,
Lừng lẫy làm cho lở núi non.
Tác giả đã
nhấn mạnh từ
ngữ nào ?
Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn,
Lừng lẫy làm cho lở núi non.
- Làm trai là quan niệm sống anh hùng của các bậc
nam nhi dám chống chọi với gian nguy hiểm để làm
nên sự nghiệp.
- Trong hoàn cảnh tù đày, tác giả bày tỏ quan niệm
làm trai.
→ Thể hiện lòng kiêu hãnh, bản lĩnh, tự
khẳng định trách nhiệm của mình với non
sông.
Tác giả đã nhấn
mạnh rằng phận
làm trai phải
như thế nào?
Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn,
Lừng lẫy làm cho lở núi non.
- NT : + Cách dùng từ chọn lọc, đặc sắc.
+ Lối nói khoa trương, giọng điệu ngạo nghễ, hào sáng
Tư thế hiên ngang, kiêu hãnh, làm chủ của người tù
cách mạng.
1.Bốn câu thơ đầu
* Câu 3-4 :
Xách búa đánh tan năm bảy đống,
Ra tay đập bể mấy trăm hòn.
Tác giả đã
nhấn mạnh từ
ngữ nào ?
Xách búa đánh tan năm bảy đống,
Ra tay đập bể mấy trăm hòn.
- Công việc : đập đá nặng nề, khó nhọc.
- NT : + Đối
+ Động từ mạnh
+ Lối nói khoa trương, giọng thơ hùng tráng.
Þ Thể hiện khí phách lẫm liệt, ngang tàng đã biến công việc khổ sai
cưỡng bức thành công cuộc chinh phục thiên nhiên đầy dũng mãnh.
Þ Dựng lên tượng đài uy nghi về người anh hùng.
Þ Thể hiện khí phách lẫm liệt, ngang tàng đã biến công việc khổ sai
cưỡng bức thành công cuộc chinh phục thiên nhiên đầy dũng
mãnh.
Þ Dựng lên tượng đài uy nghi về người anh hùng.
Dựng lên tượng đài uy nghi về người anh
hùng.
1. Bốn câu thơ đầu
2. Bốn câu thơ cuối
Tháng ngày bao quản thân sành sỏi,
Mưa nắng càng bề dạ sắt son.
Những kẻ vá trời khi lỡ bước,
Gian nan chi kể việc con con.
Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì trong hai câu thơ sau ?
Nêu tác dụng của phép tu từ đó.
* Câu 5-6 :
Tháng ngày
bao quản
thân sành sỏi
Mưa nắng
càng bền
dạ sắt non
- Ẩn dụ
- Đối
Qua bút pháp nghệ thuật ẩn
dụ, đối em hiểu ý nghĩa hai
câu thơ như thế nào?
-> Nghệ thuật ẩn dụ, đối lập: những thử thách gian nan với sức chịu đựng
dẻo dai, bền bỉ và ý chí chiến đấu sắt son của người chiến sĩ cách mạng.
* Câu 7-8 :
Những kẻ vá trời khi lỡ bước,
Gian nan chi kể việc con con.
Theo em kẻ vá trời là người như thế nào?
* Là những người có chí lớn của với sự nghiệp cứu
nước. Thử thách chỉ là “việc con con”.
Từ ngữ nào
trong câu thơ gợi
nhớ cho chúng
ta đến một câu
chuyện Thân
thoại ?
Những kẻ vá trời khi lỡ bước,
Gian nan chi kể việc con con.
NT : -
- Sử dụng điển tích, điển cổ.
-Nghệ thuật đối, từ láy
-Thấy mình có tinh thần cứng cỏi trung kiên, không sờn lòng đổi chí
trước gian lan thử thách, có sức chịu đựng cả về thể xác lẫn tinh thần.
3. Bốn câu thơ cuối
Tháng ngày bao quản thân sành sỏi,
Mưa nắng càng bề dạ sắt son.
Những kẻ vá trời khi lỡ bước,
Gian nan chi kể việc con con.
Tác giả đã
nhấn mạnh từ
ngữ nào ?
-> Nghệ thuật : đối, lối nói khoa trương lãng mạn, hình ảnh ẩn dụ, sử
dụng các từ láy
Nhằm khẳng định thử thách, gian khổ càng tôi luyện ý chí bền bỉ, dẻo dai,
càng hun đúc tinh thần sắt son, kiên định của người chiến sĩ Cách mạng.
III. TỔNG KẾT
1. Nội dung :
Đập đá ở Côn Lôn giúp ta cảm nhận được một hình tượng đẹp lẫm liệt, ngang tàng của
người anh hùng cứu nước dù gặp nguy nan nhưng vẫn không sờn lòng đổi chí.
2. Nghệ thuật
- Bút pháp lãng mạn, giọng điệu hào hùng.
- Nghệ thuật đối lập, ẩn dụ.
- Lối nói khoa trương lãng mạn, sử dụng các từ láy.
-Phan Châu Trinh-
I. TÌM HIỂU CHUNG
Chapter one
1. Tác giả
Phan Châu Trinh (1872 – 1926), hiệu là Tây Hồ, biệt hiệu
Hy Mã, tự là Tử Cán quê ở làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước,
phủ Tam Kỳ (nay thuộc xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh), tỉnh
Quảng Nam.
Ông đỗ Phó bảng năm Tân Sửu (1901), làm quan một thời
gian ngắn rồi từ quan, đi làm cách mạng. Phan Châu Trinh chủ
trương cứu nước bằng cách lợi dụng thực dân Pháp, cải cách
đối mới mọi mặt (duy tân), làm cho dân giàu nước mạnh, trên
cơ sở đó tạo nền độc lập quốc gia.
Năm 1908 ông bị bắt đày đi Côn Đảo. Ba năm sau, khi được
trả tự do, Phan Châu Trinh xin sang Pháp tìm cách thúc đẩy
cải cách chính trị ở Đông Dương nhưng công việc không
thành.
Năm 1952, Phan Châu Trinh về Sài Gòn, diễn thuyết được vài
lần, sau đó ốm nặng rồi mất. Đám tang Phan Châu Trinh trở
thành một phong trào vận động ái quốc rộng khắp cả nước.
Thông tin khác
Hoàn cảnh gia đình
- Cha ông là Phan Văn Bình, làm chức quản
cơ sơn phòng, sau thì tham gia phong trào
Cần Vương trong tỉnh, làm Chuyển vận sứ
đồn A Bá, phụ trách việc quân lương.
-Mẹ ông là Lê Thị Lương, con gái
nhà vọng tộc, thông thạo chữ Hán, ở
làng Phú Lâm, huyện Tiên Phước
-Mẹ cụ mất sớm vào năm ông lên sáu tuổi. -Quê
nhà bị quân Pháp đốt cháy trong cuộc trấn áp
phong trào Cần Vương, nên ông phải theo cha,
được cha dạy chữ và dạy võ. Sau khi cha mất ông
trở về quê sống với anh là Phan Văn Cừ và tiếp
tục đi học. Ông học giỏi, năm 27 tuổi, được tuyển
vào trường tỉnh và học chung với Trần Quý Cáp,
Huỳnh Thức Kháng, Nguyễn Đình Hiến, Phan
Quang và Phạm Liệu.
Nguyên nhân cụ Phan Châu Trinh mất :
Khi bệnh tình trở nặng (tháng 12 năm 1925), túc trực thường xuyên cạnh Phan
Châu Trinh là Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Nguyễn Sinh Sắc, Huỳnh
Thúc Kháng.
Đang lúc Phan Châu Trinh nằm trên giường bệnh thì hay tin ông Ninh vừa bị mật
thám Pháp đến vây bắt tại nhà vào lúc 11 giờ 30 trưa ngày 24 tháng 3 năm 1926.
Ngay đêm hôm đó, lúc 21 giờ 30, ông qua đời tại khách sạn Chiêu Nam Lầu và
được đem quàn tại Bá Huê lầu, số 54 đường Pellerin, Sài Gòn,[16] hưởng dương
54 tuổi.
Lời trăn trối cuối cùng của Phan Châu Trinh với Huỳnh Thúc Kháng, được thuật
lại là:
"Độc lập của dân tộc ta sau này sở cậy có Nguyễn Ái Quốc".[17]
2. Tác phẩm
* Sự nghiệp văn chương của Phan Châu Trinh
-Phan Châu Trinh luôn có ý thức dùng văn chương để làm cách mạng. Những áng văn
chính luận của ông đậm tính chất hùng biện, lập luận chặt chẽ, đanh thép, những bài thơ
của ông dạt dào cảm xúc về đất nước, đồng bào; tất cả đều thấm nhuần tư tưởng yêu nước và
tinh thần dân chủ.
-Thể loại: Phan Châu Trinh sáng tác cả văn xuôi chính luận và thơ trữ tình yêu nước
cách mạng.
-Tác phẩm chính: Đầu Pháp chính phủ thư (1906); Thất điều trần (1922); Đạo đức và luân lí
Đông Tây (1925)…
festivalPPTtemplate http://www.1ppt.com/jieri/
a. Hoàn cảnh sáng tác:
- Bài thơ được viết trong thời gian tác giả bị đày ở Côn
Đảo (4/1908- 6/1910)
b. Thể loại :
- Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
c. PTBĐ :
Biểu cảm
THỂ THƠ THẤT NGÔN
BÁT CÚ ĐƯỜNG LUẬT
- Số câu : 8 câu/ bài
- Số chữ : 7 chữ/ câu
- Ngắt nhịp : 4/3 hoặc 2/2/3
- Gieo vần : ở các chữ cuối của câu 1,2,4,6,8.
- Đối : giữa câu 3 và câu 4 ; giữa câu 5 và câu 6.
-Luật : Bằng – Trắc.
-Bố cục : Đề- Thực- Luận- Kết
Bố cục :
1
- Phần 1: Bốn câu thơ đầu:
Công việc đập đá - tư thế,
khí phách người tù.
2
- Phần 2: Bốn câu sau: Ý chí kiên
cường của nhà cách mạng trong
cảnh tù đày.
Bốn câu thơ đầu :
Công việc đập đá và tư
thế của người tù cách
mạng.
Bốn câu thơ cuối:
Cảm nghĩ từ công việc
đập đá.
CHATER TWO
* Giải nghĩa từ :
- Côn Lôn: ( Côn Đảo )
+ Thuộc tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
+ Một hòn đảo nhỏ ở miền Đông Nam nước ta.
+ Cách bờ biển Vũng Tàu khoảng gần 100km.
Em hãy nêu
những hiểu
biết của
mình về Đảo
Côn Lôn?
II. PHÂN TÍCH
1. Bốn câu thơ đầu
*Câu 1-2 :
Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn,
Lừng lẫy làm cho lở núi non.
Tác giả đã
nhấn mạnh từ
ngữ nào ?
Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn,
Lừng lẫy làm cho lở núi non.
- Làm trai là quan niệm sống anh hùng của các bậc
nam nhi dám chống chọi với gian nguy hiểm để làm
nên sự nghiệp.
- Trong hoàn cảnh tù đày, tác giả bày tỏ quan niệm
làm trai.
→ Thể hiện lòng kiêu hãnh, bản lĩnh, tự
khẳng định trách nhiệm của mình với non
sông.
Tác giả đã nhấn
mạnh rằng phận
làm trai phải
như thế nào?
Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn,
Lừng lẫy làm cho lở núi non.
- NT : + Cách dùng từ chọn lọc, đặc sắc.
+ Lối nói khoa trương, giọng điệu ngạo nghễ, hào sáng
Tư thế hiên ngang, kiêu hãnh, làm chủ của người tù
cách mạng.
1.Bốn câu thơ đầu
* Câu 3-4 :
Xách búa đánh tan năm bảy đống,
Ra tay đập bể mấy trăm hòn.
Tác giả đã
nhấn mạnh từ
ngữ nào ?
Xách búa đánh tan năm bảy đống,
Ra tay đập bể mấy trăm hòn.
- Công việc : đập đá nặng nề, khó nhọc.
- NT : + Đối
+ Động từ mạnh
+ Lối nói khoa trương, giọng thơ hùng tráng.
Þ Thể hiện khí phách lẫm liệt, ngang tàng đã biến công việc khổ sai
cưỡng bức thành công cuộc chinh phục thiên nhiên đầy dũng mãnh.
Þ Dựng lên tượng đài uy nghi về người anh hùng.
Þ Thể hiện khí phách lẫm liệt, ngang tàng đã biến công việc khổ sai
cưỡng bức thành công cuộc chinh phục thiên nhiên đầy dũng
mãnh.
Þ Dựng lên tượng đài uy nghi về người anh hùng.
Dựng lên tượng đài uy nghi về người anh
hùng.
1. Bốn câu thơ đầu
2. Bốn câu thơ cuối
Tháng ngày bao quản thân sành sỏi,
Mưa nắng càng bề dạ sắt son.
Những kẻ vá trời khi lỡ bước,
Gian nan chi kể việc con con.
Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì trong hai câu thơ sau ?
Nêu tác dụng của phép tu từ đó.
* Câu 5-6 :
Tháng ngày
bao quản
thân sành sỏi
Mưa nắng
càng bền
dạ sắt non
- Ẩn dụ
- Đối
Qua bút pháp nghệ thuật ẩn
dụ, đối em hiểu ý nghĩa hai
câu thơ như thế nào?
-> Nghệ thuật ẩn dụ, đối lập: những thử thách gian nan với sức chịu đựng
dẻo dai, bền bỉ và ý chí chiến đấu sắt son của người chiến sĩ cách mạng.
* Câu 7-8 :
Những kẻ vá trời khi lỡ bước,
Gian nan chi kể việc con con.
Theo em kẻ vá trời là người như thế nào?
* Là những người có chí lớn của với sự nghiệp cứu
nước. Thử thách chỉ là “việc con con”.
Từ ngữ nào
trong câu thơ gợi
nhớ cho chúng
ta đến một câu
chuyện Thân
thoại ?
Những kẻ vá trời khi lỡ bước,
Gian nan chi kể việc con con.
NT : -
- Sử dụng điển tích, điển cổ.
-Nghệ thuật đối, từ láy
-Thấy mình có tinh thần cứng cỏi trung kiên, không sờn lòng đổi chí
trước gian lan thử thách, có sức chịu đựng cả về thể xác lẫn tinh thần.
3. Bốn câu thơ cuối
Tháng ngày bao quản thân sành sỏi,
Mưa nắng càng bề dạ sắt son.
Những kẻ vá trời khi lỡ bước,
Gian nan chi kể việc con con.
Tác giả đã
nhấn mạnh từ
ngữ nào ?
-> Nghệ thuật : đối, lối nói khoa trương lãng mạn, hình ảnh ẩn dụ, sử
dụng các từ láy
Nhằm khẳng định thử thách, gian khổ càng tôi luyện ý chí bền bỉ, dẻo dai,
càng hun đúc tinh thần sắt son, kiên định của người chiến sĩ Cách mạng.
III. TỔNG KẾT
1. Nội dung :
Đập đá ở Côn Lôn giúp ta cảm nhận được một hình tượng đẹp lẫm liệt, ngang tàng của
người anh hùng cứu nước dù gặp nguy nan nhưng vẫn không sờn lòng đổi chí.
2. Nghệ thuật
- Bút pháp lãng mạn, giọng điệu hào hùng.
- Nghệ thuật đối lập, ẩn dụ.
- Lối nói khoa trương lãng mạn, sử dụng các từ láy.
 







Các ý kiến mới nhất