Bài 19. Khi con tu hú

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: trần thị my
Ngày gửi: 19h:28' 13-02-2023
Dung lượng: 10.9 MB
Số lượt tải: 90
Nguồn:
Người gửi: trần thị my
Ngày gửi: 19h:28' 13-02-2023
Dung lượng: 10.9 MB
Số lượt tải: 90
Số lượt thích:
0 người
Tố Hữu
1920 - 2002
Tố Hữu
Sinh ngày 4/10/1920 – Mất ngày 9/12/2002
Quê gốc ở làng Phù Lai, nay thuộc xã
Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh
Thừa
Thiên
Là một
nhà Huế
thơ tiêu biểu của phong
trào cách mạng Việt Nam, đồng thời
ông còn là một chính khách, một cán
bộ
lãochức
thành
Ôngcách
từngmạng
giữ các
vụ quan trọng
trong hệ thống chính trị Việt Nam như
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp
hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt
Nam, Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ
Trưởng (Phó Thủ tướng thường trực
Chính phủ) nước Cộng hòa Xã hội chủ
nghĩa Việt Nam
Bút danh: Tố
Hữu
Năm 1938, ông sang Lào thăm người anh.
Ông gặp một cụ đồ người Quảng Bình. Cụ đã
đặt cho ông bút danh “ Tố Hữu”, lấy từ câu
“Ngô nhi tố hữu đại chí” của Đỗ Thị
Tố Hữu còn có nghĩa là “sẵn có, ý chí khí
phách tiềm ẩn trong người”
Tố Hữu nhận tên này nhưng hiểu theo nghĩa
“người bạn trong trắng” khác với tên do cụ
đồ đặt ở chữ “hữu”
Tiểu sử: Tố Hữu
Ông sinh ra ở thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Đến năm 9 tuổi ông cùng cha trở về sống tại tỉnh
Thừaông
Thiên
Huế nhà nho nghèo, không đỗ đạt và phải
Cha
là một
kiếm sống rất chật vật nhưng lại thích thơ, thích sưu
tập ca dao tục ngữ. Ông đã dạy cho Tố Hữu làm thơ
Mẹ ông cũng là con của một nhà nho nghèo nhưng
cổ
thuộc nhiều ca dao dân ca Huế
Mẹ ông mất vào năm ông lên 12
tuổi
Năm 13 tuổi ông vào trường Quốc học Huế. Tại đây
ông trực tiếp tiếp xúc với sách báo, kết hợp sự vận
động của các đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam
bấy giờ (Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu),
ông
tiếp
cận
với
lý tưởng
sản
Nămsớm
1936,
ông
gia
nhập
Đoàncộng
thanh
niên Dân chủ
Đông Dương
Hoạt động cách mạng
Năm 1938, ông được kết nạp Đảng cộng sản
Đông Dương
Tháng 4/1939, ông bị bắt, bị tra tấn dã man
và đày đi nhà lao Thừa Phủ rồi chuyển sang
nhà tù Lao Bảo và nhiều nhà tù khác ở Tây
Nguyên
Tháng 3/1942, ông vượt ngục Đắc Glêi rồi tìm
ra Thanh Hóa bắt liên lạc với Đảng
Năm 1945, khi Cách mạng Tháng Tám bùng
nổ, ông được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Khởi
nghĩa
Thừa ông
Thiên
Năm 1946,
là–BíHuế
thư Tỉnh ủy Thanh Hóa
Cuối năm 1947, ông lên Việt bắc làm công tác
văn nghệ, tuyên huấn, từ đó ông được giao
những chức vụ quan trọng trong công tác nghệ
thuật, bộ máy lãnh đạo Đảng và nước
Hoạt động cách
Năm 1948: Phó Tổng thư mạng
ký Hội Văn nghệ Việt Nam
Năm 1952: Giám đốc Nha Tuyên truyền và Văn nghệ thuộc Thủ tướng phủ
Năm 1954: Thứ trưởng Bộ Tuyên truyền
Năm 1963: Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp văn nghệ nghệ thuật Việt Nam
Đại hội Đảng lần II (1951): Ủy viên dự khuyết Trung ương
Năm 1955: Ủy viên chính thức
Đại hội Đảng lần III (1960): Vào Ban Bí thư
Đại hội Đảng lần IV (1976): Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Ban chấp hành Trung ương,
Phó Ban Nông nghiệp Trung ương
Năm 1980: Ủy viên chính thức Bộ Chính trị
Năm 1981 - 1986: Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng
( Phó Thủ tướng), Bí thư Ban chấp hành Trung ương
Ông từng đảm nhiệm nhiều chức vụ khác như hiệu trưởng Trường Nguyễn Ái Quốc, Trưởng
ban Thống nhất Trung ương, Trường ban Tuyên huấn Trung ương, Trưởng ban Khoa giáo Trung
ương
Đại biểu Quốc hội khóa II và
VII
Năm 1969: ông được giao là người sửa cuối cùng bản điếu văn trong tang lễ Chủ tịch Hồ
Chí Minh
Một số tác phẩm chính
●
●
●
●
●
●
●
●
●
●
Từ ấy ( 1937 – 1946 ), 72 bài thơ
Việt Bắc ( 1947 – 1954 ), 26 bài thơ
Gió lộng ( 1955 – 1961 ), 25 bài thơ
Ra trận ( 1962 – 1971 ), 35 bài thơ
Máu và Hoa ( 1972 – 1977 ), 13 bài
thơ
Một tiếng đờn ( 1978 – 1992), 74
bài thơ
Nhớ lại một thời (hồi kí, 2000)
Lượm - 1949
Bầm ơi
Tiếng ru
1920 - 2002
Tố Hữu
Sinh ngày 4/10/1920 – Mất ngày 9/12/2002
Quê gốc ở làng Phù Lai, nay thuộc xã
Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh
Thừa
Thiên
Là một
nhà Huế
thơ tiêu biểu của phong
trào cách mạng Việt Nam, đồng thời
ông còn là một chính khách, một cán
bộ
lãochức
thành
Ôngcách
từngmạng
giữ các
vụ quan trọng
trong hệ thống chính trị Việt Nam như
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp
hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt
Nam, Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ
Trưởng (Phó Thủ tướng thường trực
Chính phủ) nước Cộng hòa Xã hội chủ
nghĩa Việt Nam
Bút danh: Tố
Hữu
Năm 1938, ông sang Lào thăm người anh.
Ông gặp một cụ đồ người Quảng Bình. Cụ đã
đặt cho ông bút danh “ Tố Hữu”, lấy từ câu
“Ngô nhi tố hữu đại chí” của Đỗ Thị
Tố Hữu còn có nghĩa là “sẵn có, ý chí khí
phách tiềm ẩn trong người”
Tố Hữu nhận tên này nhưng hiểu theo nghĩa
“người bạn trong trắng” khác với tên do cụ
đồ đặt ở chữ “hữu”
Tiểu sử: Tố Hữu
Ông sinh ra ở thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Đến năm 9 tuổi ông cùng cha trở về sống tại tỉnh
Thừaông
Thiên
Huế nhà nho nghèo, không đỗ đạt và phải
Cha
là một
kiếm sống rất chật vật nhưng lại thích thơ, thích sưu
tập ca dao tục ngữ. Ông đã dạy cho Tố Hữu làm thơ
Mẹ ông cũng là con của một nhà nho nghèo nhưng
cổ
thuộc nhiều ca dao dân ca Huế
Mẹ ông mất vào năm ông lên 12
tuổi
Năm 13 tuổi ông vào trường Quốc học Huế. Tại đây
ông trực tiếp tiếp xúc với sách báo, kết hợp sự vận
động của các đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam
bấy giờ (Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu),
ông
tiếp
cận
với
lý tưởng
sản
Nămsớm
1936,
ông
gia
nhập
Đoàncộng
thanh
niên Dân chủ
Đông Dương
Hoạt động cách mạng
Năm 1938, ông được kết nạp Đảng cộng sản
Đông Dương
Tháng 4/1939, ông bị bắt, bị tra tấn dã man
và đày đi nhà lao Thừa Phủ rồi chuyển sang
nhà tù Lao Bảo và nhiều nhà tù khác ở Tây
Nguyên
Tháng 3/1942, ông vượt ngục Đắc Glêi rồi tìm
ra Thanh Hóa bắt liên lạc với Đảng
Năm 1945, khi Cách mạng Tháng Tám bùng
nổ, ông được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Khởi
nghĩa
Thừa ông
Thiên
Năm 1946,
là–BíHuế
thư Tỉnh ủy Thanh Hóa
Cuối năm 1947, ông lên Việt bắc làm công tác
văn nghệ, tuyên huấn, từ đó ông được giao
những chức vụ quan trọng trong công tác nghệ
thuật, bộ máy lãnh đạo Đảng và nước
Hoạt động cách
Năm 1948: Phó Tổng thư mạng
ký Hội Văn nghệ Việt Nam
Năm 1952: Giám đốc Nha Tuyên truyền và Văn nghệ thuộc Thủ tướng phủ
Năm 1954: Thứ trưởng Bộ Tuyên truyền
Năm 1963: Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp văn nghệ nghệ thuật Việt Nam
Đại hội Đảng lần II (1951): Ủy viên dự khuyết Trung ương
Năm 1955: Ủy viên chính thức
Đại hội Đảng lần III (1960): Vào Ban Bí thư
Đại hội Đảng lần IV (1976): Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Ban chấp hành Trung ương,
Phó Ban Nông nghiệp Trung ương
Năm 1980: Ủy viên chính thức Bộ Chính trị
Năm 1981 - 1986: Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng
( Phó Thủ tướng), Bí thư Ban chấp hành Trung ương
Ông từng đảm nhiệm nhiều chức vụ khác như hiệu trưởng Trường Nguyễn Ái Quốc, Trưởng
ban Thống nhất Trung ương, Trường ban Tuyên huấn Trung ương, Trưởng ban Khoa giáo Trung
ương
Đại biểu Quốc hội khóa II và
VII
Năm 1969: ông được giao là người sửa cuối cùng bản điếu văn trong tang lễ Chủ tịch Hồ
Chí Minh
Một số tác phẩm chính
●
●
●
●
●
●
●
●
●
●
Từ ấy ( 1937 – 1946 ), 72 bài thơ
Việt Bắc ( 1947 – 1954 ), 26 bài thơ
Gió lộng ( 1955 – 1961 ), 25 bài thơ
Ra trận ( 1962 – 1971 ), 35 bài thơ
Máu và Hoa ( 1972 – 1977 ), 13 bài
thơ
Một tiếng đờn ( 1978 – 1992), 74
bài thơ
Nhớ lại một thời (hồi kí, 2000)
Lượm - 1949
Bầm ơi
Tiếng ru
 







Các ý kiến mới nhất