Bài 19. Khi con tu hú

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Clout Drain Zun
Ngày gửi: 13h:53' 22-12-2021
Dung lượng: 3.6 MB
Số lượt tải: 241
Nguồn:
Người gửi: Clout Drain Zun
Ngày gửi: 13h:53' 22-12-2021
Dung lượng: 3.6 MB
Số lượt tải: 241
Số lượt thích:
0 người
Chào mừng cô và các bạn đến với bài thuyết trình của chúng em!
VĂN BẢN
KHI CON TU HÚ
- TỐ HỮU-
I – TÌM HIỂU CHUNG
1/ Tác giả
Tố Hữu (1920 – 2002), tên thật là Nguyễn Kim Thành
- Quê: huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế
- Ông được coi là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam
- Ở ông có sự thống nhất đẹp đẽ giữa cuộc đời cách mạng và cuộc đời thơ
- Phong cách thơ: chất trữ tình, chính trị, sâu sắc
-Ông được nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật ( năm 1996)))
Một số tác phẩm tiêu biểu:
Tập thơ Từ ấy (1937-1946), Việt Bắc (1946-1954), Gió lộng (1955-1961), Ra trận (1962-1971), Một tiếng đờn (1979-1992)
- Ông giác ngộ lí tưởng cách mạng khi đang học ở Trường Quốc học Huế
- Tháng 4-1939, Tố Hữu bị thực dân Pháp bắt giam vào nhà lao Thừa Phủ (Huế), sau đó chuyển sang nhà tù Lao Bảo (Quảng Trị) và nhiều nhà tù ở Tây Nguyên
-Tháng 3-1942, Tố Hữu vượt ngục bắt liên lạc với Đảng và đã tham gia lãnh đạo tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 ở Huế.
- Sau cách mạng, Tố Hữu đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong Đảng và chính quyền, đồng thời vẫn sáng tác thơ
* Cuộc đời và sự nghiệp
* Hoàn cảnh sáng tác:
-”Khi con tu hú” được sáng tác khi tác giả Tố Hữu mới bị bắt giam trong nhà lao Thừa Phủ
I – TÌM HIỂU CHUNG
1/ Tác giả
2/ Tác phẩm
- Xuất xứ: In trong tập thơ “Từ ấy” (phần 2)
- PTBĐ chính: Biểu cảm
-Thể thơ: lục bát
1937-1946
* Bố cục: 2 phần
KHI CON TU HÚ
6 CÂU THƠ ĐẦU: BỨC TRANH THIÊN NHIÊN MÙA HÈ TRONG TÂM TƯỞNG CỦA NGƯỜI TÙ CÁCH MẠNG
4 CÂU THƠ CUỐI: TÂM TRẠNG NHÀ THƠ (NGƯỜI TÙ CÁCH MẠNG)
I – TÌM HIỂU CHUNG
1/ Tác giả
2/ Tác phẩm
Nhà lao Thừa Phủ - Huế
I – TÌM HIỂU CHUNG
1/ Tác giả
2/ Tác phẩm
Bên trong một khu nhà giam chung
Khu biệt giam đối với loại tội phạm nguy hiểm
Cổng nhà giam các nữ phạm nhân
Nhà giam số 9, nơi từng giam giữ nhà thơ Tố Hữu
*Ý nghĩa nhan đề:
“Khi con tu hú”
- Là một mệnh đề phụ,chưa là câu (trạng ngữ) gây sự chú ý.
Về cấu trúc:
Về ý nghĩa::
-Nhan đề mở, gây mạch cảm toàn bài.
-Tiếng chim tu hú: tín hiệu của sự sống, mùa hè
- Mạch cảm xúc: Sự nôn nao, uất ức muốn được tự do của người tù cách mạng. Sự mơ mộng, tưởng tượng cảnh mùa hè ở bên ngoài. Tiếng con chim tu hú cứ kêu khơi sự nôn nao của tác giả như muốn khiến ông đạp nát căn phòng đang giam ông để ông có thể bước đến tự do, đi đến cảnh hè đẹp đẽ thơ mộng.
Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đương chín trái cây ngọt dần
Vườn râm dậy tiếng ve ngân
Bắp rây vàng hạt, đầy sân nắng đào
Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không.
Khi con tu hú
Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!
Ngột làm sao, chết uất thôi
Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu
II – TỔNG KẾT
1/ Nghệ thuật
Thể thơ lục bát mềm mại, uyển chuyển linh hoạt.
- Nghệ thuật đối lập tương phản, liệt kê, kết hợp với các danh từ, tính từ và động từ mạnh.
Giọng điệu tự nhiên, cảm xúc nhất quán, khi tươi sáng, khoáng đạt, khi dằn vặt u uất.
2/ Nội dung
Cả hai đoạn thơ tả cảnh và tình đều truyền cảm: cảnh thì thật đẹp, dạt dào sức sống rất gợi cảm và có hồn, tình thì sôi nổi, sâu lắng và da diết.
Lòng yêu cuộc sống, niềm khát vọng tự do cháy bỏng của người chiến sĩ trong cảnh đầy tù.
VĂN BẢN
KHI CON TU HÚ
- TỐ HỮU-
I – TÌM HIỂU CHUNG
1/ Tác giả
Tố Hữu (1920 – 2002), tên thật là Nguyễn Kim Thành
- Quê: huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế
- Ông được coi là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam
- Ở ông có sự thống nhất đẹp đẽ giữa cuộc đời cách mạng và cuộc đời thơ
- Phong cách thơ: chất trữ tình, chính trị, sâu sắc
-Ông được nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật ( năm 1996)))
Một số tác phẩm tiêu biểu:
Tập thơ Từ ấy (1937-1946), Việt Bắc (1946-1954), Gió lộng (1955-1961), Ra trận (1962-1971), Một tiếng đờn (1979-1992)
- Ông giác ngộ lí tưởng cách mạng khi đang học ở Trường Quốc học Huế
- Tháng 4-1939, Tố Hữu bị thực dân Pháp bắt giam vào nhà lao Thừa Phủ (Huế), sau đó chuyển sang nhà tù Lao Bảo (Quảng Trị) và nhiều nhà tù ở Tây Nguyên
-Tháng 3-1942, Tố Hữu vượt ngục bắt liên lạc với Đảng và đã tham gia lãnh đạo tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 ở Huế.
- Sau cách mạng, Tố Hữu đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong Đảng và chính quyền, đồng thời vẫn sáng tác thơ
* Cuộc đời và sự nghiệp
* Hoàn cảnh sáng tác:
-”Khi con tu hú” được sáng tác khi tác giả Tố Hữu mới bị bắt giam trong nhà lao Thừa Phủ
I – TÌM HIỂU CHUNG
1/ Tác giả
2/ Tác phẩm
- Xuất xứ: In trong tập thơ “Từ ấy” (phần 2)
- PTBĐ chính: Biểu cảm
-Thể thơ: lục bát
1937-1946
* Bố cục: 2 phần
KHI CON TU HÚ
6 CÂU THƠ ĐẦU: BỨC TRANH THIÊN NHIÊN MÙA HÈ TRONG TÂM TƯỞNG CỦA NGƯỜI TÙ CÁCH MẠNG
4 CÂU THƠ CUỐI: TÂM TRẠNG NHÀ THƠ (NGƯỜI TÙ CÁCH MẠNG)
I – TÌM HIỂU CHUNG
1/ Tác giả
2/ Tác phẩm
Nhà lao Thừa Phủ - Huế
I – TÌM HIỂU CHUNG
1/ Tác giả
2/ Tác phẩm
Bên trong một khu nhà giam chung
Khu biệt giam đối với loại tội phạm nguy hiểm
Cổng nhà giam các nữ phạm nhân
Nhà giam số 9, nơi từng giam giữ nhà thơ Tố Hữu
*Ý nghĩa nhan đề:
“Khi con tu hú”
- Là một mệnh đề phụ,chưa là câu (trạng ngữ) gây sự chú ý.
Về cấu trúc:
Về ý nghĩa::
-Nhan đề mở, gây mạch cảm toàn bài.
-Tiếng chim tu hú: tín hiệu của sự sống, mùa hè
- Mạch cảm xúc: Sự nôn nao, uất ức muốn được tự do của người tù cách mạng. Sự mơ mộng, tưởng tượng cảnh mùa hè ở bên ngoài. Tiếng con chim tu hú cứ kêu khơi sự nôn nao của tác giả như muốn khiến ông đạp nát căn phòng đang giam ông để ông có thể bước đến tự do, đi đến cảnh hè đẹp đẽ thơ mộng.
Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đương chín trái cây ngọt dần
Vườn râm dậy tiếng ve ngân
Bắp rây vàng hạt, đầy sân nắng đào
Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không.
Khi con tu hú
Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!
Ngột làm sao, chết uất thôi
Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu
II – TỔNG KẾT
1/ Nghệ thuật
Thể thơ lục bát mềm mại, uyển chuyển linh hoạt.
- Nghệ thuật đối lập tương phản, liệt kê, kết hợp với các danh từ, tính từ và động từ mạnh.
Giọng điệu tự nhiên, cảm xúc nhất quán, khi tươi sáng, khoáng đạt, khi dằn vặt u uất.
2/ Nội dung
Cả hai đoạn thơ tả cảnh và tình đều truyền cảm: cảnh thì thật đẹp, dạt dào sức sống rất gợi cảm và có hồn, tình thì sôi nổi, sâu lắng và da diết.
Lòng yêu cuộc sống, niềm khát vọng tự do cháy bỏng của người chiến sĩ trong cảnh đầy tù.
 







Các ý kiến mới nhất