Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

VĂN 6,LUYEN TẠP,TỔNG HỢP ,KNTT

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: TỰ LÀM
Người gửi: DƯƠNG VĂN CƯỜNG
Ngày gửi: 10h:06' 25-05-2023
Dung lượng: 219.7 KB
Số lượt tải: 30
Số lượt thích: 0 người
Hoạt động : Luyện tập (Luyện đề tông hợp)

Phần I. Tiếng Việt ( 2,0 điểm)

ĐỀ BÀI

Câu 1. Từ nào sau đây là từ láy?
A. Xanh thẳm

B. Xanh xao

C. Xanh biếc

D. Xanh tốt

Câu 2. Thành ngữ nào có nghĩa là “người có sức mạnh siêu nhiên, có thể làm
được những điều kì diệu, to lớn.”
A. hô mưa, gọi gió.

B. ăn to nói lớn

C. bóc ngắn cắn dài 

D. lên thác xuống ghềnh

Câu 3: Đoạn thơ sử dụng phép tu từ nào?
“Bao giờ cho tới mùa thu
trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm
bao giờ cho tới tháng năm
mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao”
(Nguyễn Duy)
A. So sánh, ẩn dụ

B. So sánh, nhân hóa

C. Nhân hóa, điệp ngữ.

D. Điệp ngữ, ẩn dụ.

Câu 4: Từ nào là từ Hán Việt
A.Vua cha
B.Trời đất
C.Thiên địa
D.Ruộng đồng.

Câu 5: Trong các từ sau, yếu tố “đồng” ở trường hợp nào có nghĩa là “trẻ em”
A. Đồng bào
B. Trống đồng
C. Đồng âm
D. Đồng thoại

Câu 6: Câu văn “Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con
lên núi, chia nhau cai quản các phương” có mấy cụm động từ:
A.Một
B.Hai
C.Ba
D.Bốn

Câu 7: Một trong những công dụng của dấu chấm phẩy là:
A. Đánh dấu lời dẫn trực tiếp
B. Đánh dấu ranh giới giữa các bộ phận trong một phép liệt kê phức tạp.
C. Đánh dấu thành phần chú thích cho câu
D. Đánh dấu câu đã kết thúc

Câu 8: Dấu chấm phẩy trong câu “Chẳng hạn, truyện dân gian kể, lúc Lê Lợi sinh ra
có ánh sáng đỏ đầy nhà, mùi hương lạ khắp xóm; còn Nguyễn Huệ, khi ra đời, có hai
con hổ chầu hai bên. ” dùng để:
A. Đánh dấu ranh giới giữa các bộ phận của phép liệt kê, cụ thể ngăn cách 2 cụm chủ vị
trong câu ghép.
B. Đánh dấu ranh giới thành phần trạng ngữ với chủ ngữ, vị ngữ.
C. Báo hiệu lời nói của nhân vật.
D. Làm cho câu văn nhịp nhàng.

Phần II. Đọc – hiểu văn bản (2,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu
“...Bấy giờ, ở vùng núi cao phương Bắc, có nàng Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông, xinh
đẹp tuyệt trần, nghe tiếng vùng đất Lạc có nhiều hoa thơm cỏ lạ, bèn tìm đến thăm. Âu Cơ
và Lạc Long Quân gặp nhau, đem lòng yêu thương, rồi trở thành vợ chồng, cùng nhau chung
sống trên cạn ở điện Long Trang.
Ít lâu sau, Âu Cơ có mang đến kì sinh nở. Chuyện thật lạ, nàng sinh ra một cái bọc trăm
trứng nở ra một trăm con trai, con nào con ấy hồng hào, đẹp đẽ lạ thường. Đàn con không
cần bú mớm mà tự lớn lên như thổi, mặt mũi khôi ngô [2], khỏe mạnh như thần.

Thế rồi một hôm, Lạc Long Quân vốn quen ở nước, cảm thấy mình không thể sống mãi
trên cạn được, đành từ biệt Âu Cơ và đàn con để trở về thủy cung với mẹ. Âu Cơ ở lại
một mình nuôi đàn con, tháng ngày chờ mong, buồn tủi. Cuối cùng nàng gọi chồng lên và
than thở.
– Sao chàng bỏ thiếp [3] mà đi, không cùng thiếp nuôi đàn con nhỏ?
Lạc Long Quân nói:
– Ta vốn nòi rồng ở miền nước thẳm, nàng là giòng tiên ở chốn non cao. Kẻ ở cạn, người
ở nước, tính tình tập quán [4] khác nhau, khó mà ăn ở cùng nhau một nơi lâu dài được. Nay
ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các
phương. Kẻ miền núi, người miền biển, khi có việc gì thì giúp đỡ lẫn nhau, đừng quên lời
hẹn.
Âu Cơ và trăm con nghe theo, rồi cùng nhau chia tay nhau lên đường.

[...]
Cũng bởi sự tích này mà về sau, người Việt Nam ta con cháu vua Hùng, thường
nhắc đến nguồn gốc của mình là con Rồng, cháu Tiên.
(Trích truyền thuyết Con Rồng, cháu Tiên, theo Nguyễn Đổng Chi kể)

Câu 1. Xác định thể loại và ngôi kể của văn bản có đoạn trích trên.
Câu 2.  Chuyện Âu Cơ sinh nở có những điểm gì kì lạ?
Câu 3. Những chi tiết hoang đường kì ảo trong trong đoạn truyện có ý nghĩa gì?
Câu 4. Truyền thuyết Con Rồng, cháu Tiên, em rút ra cho mình những bài học nào?

Phần III. Làm văn ( 6,0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn (khoảng 5-7 câu) nêu cảm nhận của em về một chi tiết
trong truyện truyền thuyết mà em yêu thích.
Câu 2 (4.0 điểm): Hãy viết bài văn thuyết minh về một lễ hội văn hóa dân gian mà em
được tham gia hoặc tìm hiểu.
 

ĐÁP ÁN

Phần I. Tiếng Việt ( 2,0 điểm)
Câu 1

Câu 2

Câu 3

Câu 4

Câu 5

Câu 6

B

A

C

C

D

C

Câu 7

B

Câu 8

A

Phần II. Đọc – hiểu văn bản (2,0 điểm)
Câu 1

Câu 2

Câu 3

- Thể loại : Truyền thuyết
- Ngôi kể thứ ba
Chuyện Âu Cơ sinh nở có những điểm kì lạ:
-Nàng sinh ra một cái bọc trăm trứng ;
-Trăm trứng nở ra một trăm người con trai ;
-Đàn con không cần bú mớm mà tự lớn lên như thổi, mặt mũi khôi ngô,
khoẻ mạnh như thần
(HS trả lời được 2/3 ý cho 0.5 điểm)
Những chi tiết hoang đường kì ảo trong câu chuyện có ý nghĩa:
- Tộ đậm tính chất kì lạ, cao quý của nhân vật và sự kiện.
- Thần kì hoá, linh thiêng họá nguồn gốc dân tộc để người đời sau thêm
tự hào, tôn kính tổ tiên mình. Khẳng định mọi người trên đất nước ta
đều có chung một cội nguồn.
- Làm tăng thêm sức hấp dẫn của tác phẩm.
(HS trả lời được 2/3 ý cho 0.5 điểm)

0.5
0.5

0.5

Câu 4

Những bài học mà HS có thể rút ra:
- Cần có tinh thần đoàn kết dân tộc (người Việt Nam dù ở miền núi,
đồng bằng hay miền biển ; dù ở trong nước hay ở nước ngoài.
Người Việt Nam đều là con cháu vua Hùng, đều có chung cội
nguồn)
- Cần biết sống thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau.
- Cần biết tự hào và phát huy giá trị của nguồn gốc cao quý ở người
Việt Nam.
(HS trả lời được 2/3 ý cho 0.5 điểm)

0.5

Phần III. Làm văn ( 6,0 điểm)
Câu 1
(2đ)

a. Đảm bảo thể thức, dung lượng yêu cầu của một đoạn văn .
b. Xác định đúng nội dung chủ yếu đoạn văn: suy nghĩ về một chi tiết trong truyện
truyền thuyết để lại cho em ấn tượng sâu sắc.
c.Triển khai hợp lý nội dung đoạn văn. Có thể viết đoạn văn theo hướng sau:
MĐ: Giới thiệu ấn tượng về chi tiết cụ thể nào, trong truyền thuyết gì, và vai trò của
chi tiết trong việc thể hiện chủ đề văn bản.
TĐ: + Nêu vị trí, hoàn cảnh xuất hiện chi tiết? Trích dẫn chi tiết
+ Chi tiết đó có ý nghĩa gì trong việc thể hiện hình tượng nhân vật, lí giải nguồn gốc
hay sự kiện lịch sử nào?
+ Chi tiết có đặc sắc gì trong nghệ thuật kể?
+ Bày tỏ sự xúc động khi đọc đến chi tiết đó? Lí giải tại sao em xúc động? Liên hệ
đến thực tế trải nghiệm của bản thân, ý nghĩa của hành động?
KĐ: Cảm nghĩ về chi tiết được chọn

0,25
0,25
1.0

d. Sáng tạo: Cách diễn đạt độc đáo, có cảm nghĩ riêng, sâu sắc
0,25
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa 0,25
Tiếng Việt.

Câu 2 a. Đảm bảo cấu trúc của một bài văn thuyết minh thuật lại sự kiện. Bài viết có bố 0.25
(4.0 điểm) cục chặt chẽ, rõ ràng, sắp xếp hệ thống mạch lạc, chính xác.
b. Xác định đúng yêu cầu bài viết:
0.25
c.Triển khai bài viết: Có thể theo gợi ý sau
3.0
- Mở bài: Giới thiệu sự kiện một lễ hội văn hóa dân gian mà người kể được tham gia
hoặc tìm hiểu (không gian, thời gian, mục đích tổ chức sự kiện)
- Thân bài:
+ Tóm tắt diễn biến sự kiện theo trình tự thời gian: thời gian bắt đầu đến khi kết thúc.
Thời gian thường xuất hiện của lễ hội ? Địa điểm tôt chức?
+ Nhân vật tham gia sự kiện
+ Các hoạt động chính của sự kiện; đặc điểm, diễn biến của từng hoạt động.
+ Hoạt động để lại ấn tượng sâu sắc nhất.
- Kết bài: Nêu ý nghĩa của sự kiện và cảm nghĩ của người viết
 
d. Sáng tạo: HS có hình ảnh miêu tả sinh động, hấp dẫn, có quan sát tinh tế, diễn đạt
rõ ràng, có cảm xúc.
e. Chính tả: dùng từ, đặt câu, đảm bảo chuẩn ngữ pháp, ngữ nghĩa TV.

0,25
0,25

Đề bài tham khảo: Thuyết minh về một Lễ hội trăng rằm mà em đã được tham gia và để
lại trong em nhiều ấn tượng.

a. Tìm ý
+ Sự kiện: ngày hội trăng rằm
+ Thời gian ngày 15/8 âm lịch, địa điểm ở làng (khu phố) hoặc ở trường em...
+ Hoạt động chính ( trình tự, kết quả của hoạt động)
+Ý nghĩa của sự kiện
b. Lập dàn ý

Bài viết tham khảo:

Tuổi thơ, ai cũng mong chờ đến trung thu để được tham gia Lễ hội trăng rằm, đây là
lễ hội văn hóa dân gian đặc sắc. Lễ hội diễn ra hàng năm vào ngày 15 tháng 8 âm lịch.
Trong tiết trời dịu mát của tiết thu, dưới ánh trăng vằng vặc của ngày rằm, hội trăng rằm
diễn ra khắp mọi miền quê, ngõ phố. Ngày Tết trung thu năm ngoái, em đã được tham
gia Lễ hội trăng rằm với nhiều hoạt động vô cùng ý nghĩa ngay tại sân vận động xã nhà.
Chương trình của Lễ hội trăng rằm gồm nhiều hoạt động như: thi đội hình đội ngũ, thi
trại thu, văn nghệ và trò chơi dân gian, rước đèn phá cỗ.

Để chuẩn bị cho Lễ hội trăng rằm của xã nhà, chúng em đã được tập đội hình đội ngũ, tập văn
nghệ trước khoảng 10 ngày. Các hoạt động ấy diễn ra vào các buổi tối do các anh chị thanh niên,
các cô bác trong thôn xóm hướng dẫn. Từ chiều ngày 15/8, từng xóm thôn nô nức kéo về sân vận
động, mỗi xóm sẽ cắm trại, trang trí trại thu cho chi đội mình. Không khí rất đông vui náo nhiệt.
Mỗi trại sẽ có mâm ngũ quả, ảnh Bác Hồ, cờ đỏ sao vàng, và nhiều tranh ảnh, đèn nháy trang trí rất
đẹp mắt. Chúng em được bố mẹ, các anh chị phụ trách, các cô bác trong xóm hỗ trợ việc cắm trại,
khâu trại và trang trí theo cách riêng của mỗi xóm.
Buổi chiều ngày 15/8 Lễ hội trăng rằm được khai mạc tại sân vận động đặt ở trung tâm xã. Sau
phần chào cờ trang trọng, cô Mai là người dẫn chương trình cho lễ hội. Theo lời giới thiệu của cô,
anh Bình bí thư đoàn xã lên khai mạc lễ hội trăm rằm trung thu 2020. Đầu tiên là chương trình phát
quà tặng cho những bạn thiếu nhi chăm ngoan, học giỏi có hoàn cảnh khó khăn. Tiếp theo là hội thi
đội hình đội ngũ. Có 10 chi đội thi, đội nào tập đều, đẹp nhất sẽ giành phần thắng. Chi đội em năm
nào cũng dẫn đầu phần thi nghi thức vì tác phong tập đội ngũ của chúng em dứt khoát, mạnh mẽ, và
đẹp mắt. Sau phần thi nghi thức là trò chơi dân gian. Lúc đó, mặt trời ngả bóng, không khí mát mẻ,
những trò chơi dân gian được diễn ra. Nào là nhảy bao, bịt mắt đánh trống, kéo co...Tiếng cổ vũ
vang lên náo nhiệt.

Lễ hội trăng rằm diễn ra đúng vào đêm trăng rằm tháng 8. Đúng 19h Lễ hội trăng
rằm mới thật sự bắt đầu. Từ các ngả đường, các em nhỏ được bố mẹ cho đến tham gia
Tết trung thu. Đi bộ dưới ánh trăng trong vắt của ngày rằm trung thu là một trải nghiệm
tuyệt vời. Vầng trăng xinh tươi, tròn trịa buông ánh sáng lên vạt vật. Con đường làng,
cánh đồng, dòng sông cũng đầy ánh trăng. Vui nhất là em được cùng bố, mẹ dẫn đi chơi
trung thu.
Sau đó là phần thi văn nghệ của từng thôn xóm. Trong hội thi văn nghệ, các bạn
nhỏ ở từng xóm thôn thi nhau trổ tài. Đội thì diễn kịch vui vẻ, hài hước. Đội lại trổ tài
hát ca, ca ngợi công ơn với Bác Hồ kính yêu. Đội lại múa những điệu múa dân gian
như trống cơm, cò lả...Vui không kể xiết. Nhưng ấn tượng nhất là các tiết mục ca hát,
nhảy múa vui tươi của các em trường mầm non. Mỗi tiết mục khi mở đầu hay kết thúc
đều được đón nhận những tràng pháo tay giòn giã. Khuôn mắt ai nấy đều vui vẻ, mọi
mệt mỏi tan biến. Nhất là các bạn được tham gia biểu diễn văn nghệ, các bạn giống như
những nghệ sĩ thực sự, trổ tài cho mọi người xem.

Tiếp theo là phần thi trại thu. Thiếu niên sẽ xếp hai hàng trước trại, ăn mặc chỉnh tề,
vỗ tay đều nhịp chào đón ban giám khảo đến chấm trại thu. Trại thu nào cũng đẹp . Trại
xóm nào cũng được trang trí hết sức cầu kì đẹp mắt. Nào là đèn kéo quân lấp ló ẩn hiện
cảnh đồng quê; nào là đèn nháy lung linh nhấp nháy liên tiếp theo nhịp trống; nào là đèn
màu xanh đỏ leo lên leo xuống, thi nhau thắp lên tạo ra những sắc màu rực rỡ. Trại thì
được trang trí hình bụi tre xanh, trại thì bông lúa vàng, búp măng non... Trại nào cũng
đẹp. Chỉ nhìn ngắm trại thu thôi, tôi đã thấy quê em đẹp thế nào rồi.
Sau đó, chúng em được tham gia lễ hội rước đèn và phá cỗ xem trăng. Tiết mục múa
lân do các anh chị lớp 9 của trường biểu diễn vô cùng vui nhộn. Tiếng trống Tùng!
Tùng! Rinh! Rinh mà tim em đập rộn ràng. Sau đó, chúng em được ăn bánh trung thu,
hoa quả của mùa thu. Bưởi, hồng, chuối...được bố mẹ chuẩn bị để các bạn được ăn cùng
nhau. Vui thật vui.

Trăng lên cao hơn, đêm hội trăng rằm cũng khép lại. Mọi người tản ra để trở về nhà.
Ai nấy đều vô cùng háo hức. Nhất là các bạn nhỏ. Tham gia Lễ hội trăng rằm không chỉ
làm giàu có truyền thống văn hóa dân tộc, mà đây còn là dịp để toàn xã hội quan tâm tới
thiếu nhi. Em mong Lễ hội trăng rằm được duy trì và phát triển để tuổi thơ của chúng
em thêm ý nghĩa.

Hoạt động : Vận dụng
Đề bài: Đọc đoạn văn bản sau và trả lời các câu hỏi
Các ông lang ai cũng muốn ngôi báu về mình, nên ai cũng cố ý làm vừa ý vua cha. Nhưng ý
vua cha thế nào, không ai đoán được. Họ chỉ biết đua nhau làm cỗ thật hậu, thật ngon về để tế
lễ Tiên Vương.
Người buồn nhất là Lang Liêu. Ông là con thứ mười tám; mẹ ông trước kia từng bị vua cha
ghẻ lạnh mà ốm chết. So với anh em, ông thiệt thòi nhất. Anh em, tả hữu nhiều, khắp trên núi,
dưới biển, đâu có của quý là sai người đi tìm. Còn ông neo đơn biết lấy gì lễ Tiên Vương cho
vừa ý vua cha? Từ khi lớn lên, ra ở riêng, ông chăm chỉ lo việc đồng áng, trồng lúa, trồng
khoai; bây giờ nhìn quanh quẩn trong nhà, chỉ thấy khoai lúa là nhiều. Nhưng khoai lúa thì
tầm thường quá!
Một đêm ông nằm mộng thấy thần nhân đến bảo:
- Trong trời đất không gì quý bằng hạt gạo. Chỉ có gạo mới nuôi sống con người và ăn không
bao giờ chán. Các thứ khác, tuy ngon, nhưng hiếm, mà người không làm ra được. Còn lúa
gạo thì tự tay ta trồng lấy, trồng được nhiều. Hãy lấy gạo làm bánh mà lễ Tiên Vương!
(Trích Bánh chưng, bánh giầy)

Câu 1. Nêu thể loại và nhân vật chính của tác phẩm.
Câu 2. Theo đoạn trích, Lang Liêu là người như thế nào?
Câu 3. Tại sao trong các hoàng tử, chỉ có Lang Liêu được thần giúp đỡ? Chi
tiết Lang Liêu được thần báo mộng đã thể hiện quan niệm và ước mơ gì của nhân
dân ta trong cuộc sống?
Câu 4.a. Hiện nay, để chào đón Tết Nguyên đán, nhiều trường học tổ chức cho học
sinh thi gói bánh chưng. Em có suy nghĩ gì về hoạt động này.
Câu 4.b. Hiện nay, đặc biệt ở các thành phố, nhiều gia đình Việt không còn duy trì tục
gói bánh chưng ngày Tết. Em có suy nghĩ gì về thực trạng này?
(GV chọn một trong hai câu)

Gợi ý trả lời
Câu 1:
Nhân vật chính là Lang Liêu.
Câu 2:
Theo đoạn trích, Lang Liêu là chàng trai hiền hậu, chăm chỉ, rất mực hiếu thảo.
Câu 3:
Lí do chỉ có Lang Liêu được thần giúp đỡ là:
 Chàng sớm mồ côi mẹ, so với anh em, chàng là người thiệt thòi nhất.
 Tuy là con vua nhưng chàng rất mực chăm chỉ, lại hiền hậu, hiếu thảo.
 Đồng thời, chàng là người có trí sáng tạo, hiểu được ý thần: “Trong trời đất, không gì
quý bằng hạt gạo” và lấy gạo làm bánh để lễ Tiên vương. (Thần chỉ mách nước cho
Lang Liêu nguyên liệu chứ không làm lễ vật giúp Lang Liêu. Tự Lang Liêu phải sáng
tạo ra 2 thứ bánh để dâng lên Tiên Vương).
=>Truyện đã thể hiện ý nguyện của nhân dân lao động: những người hiền lành, chăm
chỉ sẽ luôn nhận được sự giúp đỡ khi khó khăn, hoạn nạn.

Câu 4.a.
Theo em, hoạt động thi gói bánh chưng ở các trường học là một hoạt động bổ ích,
hay và sáng tạo, cần được tổ chức rộng rãi hơn nữa. Hoạt động này có nhiều ý
nghĩa:
- Là cuộc thi bổ ích hướng HS nhớ về những phong tục tập quán của ngày Tết cũng
như lưu giữ nét đẹp cổ truyền của dân tộc ta.
- Tạo ra một sân chơi lành mạnh, giúp các bạn HS thể hiện sự tài năng, khéo léo của
mình .
- Đây còn là cơ hội quý giá để trải nghiệm một trong những hoạt động nổi bật của dịp
Tết cổ truyền, giúp xây dựng mối quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa học sinh trong trường
với nhau; đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm, kĩ năng trong các hoạt động tập thể.

Câu 4.b.
- Ở nhiều thành phố, do tính chất công việc quá bận rộn, nhiều người bỏ qua không gói
bánh trưng nữa mà thay vào đó họ chọn hình thức nhanh gọn hơn đó là mua trực tiếp từ
những người bán hàng để về thờ cúng.
- Tuy nhiên, tục gói bánh trong mỗi gia đình nên được giữ gìn và phát huy, bởi thông qua
hoạt động này sẽ tăng thêm tình cảm gia đình khi mọi người quây quần bên nhau cùng trải
qua các công đoạn để có những chiếc bánh ngon đẹp. Hơn nữa, thông qua hoạt động này,
thế hệ trước còn giáo dục thế hệ sau về truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, hướng đến
tổ tiên mỗi dịp Tết đến xuân về.

Hoạt động: Bổ sung

GV yêu cầu HS:
- Tìm đọc và tham khảo các tài liệu liên quan đến nội dung bài học.
- Học bài ở nhà, ôn tập các nội dung đã học.
- Làm hoàn chỉnh các đề bài.
- Vẽ sơ đồ tư duy bài học.
- Tìm đọc chuyện cổ tích Việt Nam. Soạn bài 7

Một số truyền thuyết sưu tầm:

“Đất này vốn không có người ở. Một ngày nọ, một cây tươi tốt có tên “Si” đứng trên
núi, bị một cơn bão mạnh quật ngã. Từ đây sinh ra 2 chú chim, chúng làm tổ trong hang
Hào – mà ngày nay là “Hang Ma Chung Dien” ở làng Phù Nhiên, xã Ngọc Hào, huyện
Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình”.
“Chúng đẻ ra 100 quả trứng và 3 quả trong số trứng đó đáng chú ý vì kích thước của
chúng và bởi chúng biến thành người. Từ đó sinh ra “Ay” và “Ua”, những người đầu tiên
của tộc người thổ. 5 tháng trôi qua mà không có quả trứng nào nữa nở. Tuyệt vọng, Ay và
Ua đi vào trong rừng. Hai người gặp “Dam-Cu-Cha” và “Gia-Cha-Giang” và bày tỏ sự lo
lắng của mình với họ. Các bà mụ khuyên  rằng: ở loạt 50 quả trứng đầu, hãy xếp chúng
xen giữa những tấm lót làm bằng cỏ thần này… Xếp xuống mặt đáy những quả trứng
đang nằm trên cùng và đảo ngược chúng lại. Trong 50 ngày, 100 quả trứng sẽ nở”.

“Ay và Ua chỉ vừa kịp cảm ơn các vị thần thì họ đã mất hút vào khu rừng.
Khi trở về hang của mình, Ay và Ua nhất nhất làm theo lời khuyên của các bà tiên.
50 ngày sau, 97 quả trứng đã nở thành các tộc người khác nhau; 50 sống ở đồng bằng
và 47 sống ở vùng núi. Từ đó tạo ra dân Mường, Mán, Mèo, Tho-Dan và Tho-Trang”.
(Truyền thuyết “Câu chuyện về 100 trứng” của người Mường)

Văn bản tham khảo:

Nàng Han (truyền thuyết dân tộc Thái)
Ở tỉnh Lai Châu, huyền thoại và di tích về Nàng Han có một số nơi, nhưng đậm nét và
hiện đang được gìn giữ tổ chức thờ cúng là ở xã Mường So (huyện Phong Thổ). Truyền
thuyết để lại rằng, thuở ấy đất Thái luôn bị giặc phương Bắc xâm lược
Có lần giặc tràn sang khu vực Sì Lở Lầu cướp của, đốt phá, chiếm đất và giết hại dân
lành. Các vị tướng giỏi đã xuất quân lên biên giới đánh đuổi giặc, nhưng thế giặc mạnh
nên đánh mãi không thắng. Quân ta đã tử trận rất nhiều, nên trai tráng bản mường phải
liên tục đầu quân đánh giặc. Chiến tranh kéo dài, đời sống nhân dân đất Thái ngày càng
lâm vào nghèo đói, khổ cực.

Một đêm cuối năm, chúa đất cùng các Tạo Noọng, Tạo Ao (Quan em, Quan anh)
cùng các già bản, già mường có uy tín đốt lửa giữa sân Bản Lang họp bàn cử người
cầm quân tiếp viện để đánh giặc. Đêm đã khuya mà vẫn chưa tìm được người tài.
Bỗng một cô gái gầy yếu con một gia đình nông dân Bản Lang đến bên đống lửa xin
được đi đánh giặc. Mọi người cười ồ lên, có già bản hỏi:
- Mày là đàn bà con gái, lại gầy gò ốm yếu thế, có tài gì mà cũng đòi đi đánh giặc?
Cô gái nói:
- Tôi tuy là phận gái nhưng đất nước có giặc thì con gái cũng phải ra trận. Tôi có sức
khỏe, mỗi tay nhấc được một hòn đá to.
Dân bản ngạc nhiên và nhìn xung quanh không thấy hòn đá to bèn lấy hai chiếc
bao lớn bỏ đá vào để thử tài cô gái. Quả nhiên, hai tay cô gái đã nhấc bổng hai bao
đá nặng. Dân bản trầm trồ thán phục và phong cho cô làm chủ tướng cầm quân ra
trận đánh giặc. Chỉ sau một tháng, đội quân của cô gái đã cùng các vị tướng đánh tan
giặc ngoại xâm, đất nước được bình yên.

Nhân dân dựng một Hớn quan - ngôi nhà, ở chân Pu Kho Nhọ (núi đầu rồng ngẩng
cổ) để chờ đón cô gái trở về cùng quan tạo cai quản bản mường. Mọi người gọi cô bằng
cái tên sùng kính là Nàng Han.
Sau khi đánh tan quân giặc, Nàng Han trở về. Ngày 30 Tết Nguyên đán, thì nàng
về đến bên suối Tùng Lùm, Nàng Han cho lính hạ kiệu để mình xuống suối tắm gội. Đến
mạch nước ngầm, nàng khát nước nên xuống uống nước. Quân lính chờ mãi không thấy
chủ tướng quay ra nên cho người vào xem và thấy một cái bóng bay lên trời. Họ hốt
hoảng chạy về báo cho chúa đất.

Dân Mường cho rằng Nàng Han là người nhà trời, được cử xuống đất Thái giúp dân
đánh giặc giữ nước. Khi đã đánh tan giặc, Nàng lại về trời. Chúa đất cho lập miếu thờ
Nàng Han bên mó nước, hàng năm cứ đến ngày 30 Tết nhân dân lại tổ chức cúng Nàng.
Ngoài ra, những năm đất nước có giặc thì mỗi khi xuất trận dân mường lại tổ chức cúng
Nàng Han tại miếu để xin Nàng phù hộ cho thắng trận. Thời phong kiến, dân bản trước
khi đi lính, đi phu, đi buôn đường sông nước và ngày nay thì đi bộ đội, đi công tác, đi
làm ăn thì đều sắp lễ xin Nàng Han ban cho an lành, sức khỏe và may mắn, thành đạt.

Truyền thuyết về Nàng Han là bản anh hùng ca lịch sử hào hùng của dân tộc Thái và một
số dân tộc khác ở Tây Bắc. Nó chứng tỏ truyền thống yêu nước, xả thân vì Tổ quốc, giữ
gìn toàn vẹn lãnh thổ như truyền thuyết Thánh Gióng của người Việt. Đó chính là cội
nguồn sức mạnh truyền thống cố kết của dân tộc Việt Nam ta.

Một số câu hỏi tham khảo xoay quanh ngữ liệu mới cần lưu ý cho thể loại truyền
thuyết:
Câu 1: Câu chuyện kể về ai? Nhân vật có những chiến công phi thường như thế nào?
Câu 2: Chỉ ra yếu tố hoang đường kì ảo trong truyện truyền thuyết em vừa đọc? Những
chi tiết ấy có ý nghĩa gì?
Câu 3: Dấu tích xưa và sự thật lịch sử nào trong truyện còn lưu lại đến ngày nay? Điều
này đem lại ý nghĩa gì cho câu chuyện?
Câu 4: Chủ đề của truyện?
 
Gửi ý kiến