Tìm kiếm Bài giảng
Tuần 7. Tây Tiến

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Kim Huệ
Ngày gửi: 20h:34' 11-10-2023
Dung lượng: 5.9 MB
Số lượt tải: 208
Nguồn:
Người gửi: Lê Kim Huệ
Ngày gửi: 20h:34' 11-10-2023
Dung lượng: 5.9 MB
Số lượt tải: 208
Số lượt thích:
1 người
(Chu Quỳnh Ngân)
TÂY TIẾN
QUANG DŨNG
II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1. Nỗi nhớ về những cuộc hành quân gian khổ và cảnh thiên nhiên miền Tây
hùng vĩ, hoang sơ, dữ dội ( câu 1 – 14 ).
Đoạn thơ:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khủyu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời !
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
a. Nỗi nhớ được diễn tả khái quát, nỗi nhớ thấm đẫm thời gian và không gian( 2 câu đầu )
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
- Cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ là nỗi nhớ bao trùm thời gian và không gian
- “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!”: Câu cảm thán, nỗi nhớ bật lên thành tiếng gọi - tiếng gọi thân
thương về đơn vị cũ, như một tiếng thở dài
- Đối tượng của nỗi nhớ: Sông Mã, Tây Tiến, rừng núi.
+ Sông Mã: là con sông từ thượng Lào chảy vào đất Việt. Dòng sông ấy đã gắn bó với đoàn
quân Tây Tiến, chứng kiến những vui, buồn trong cuộc đời người lính chiến binh. Vì thế, Quang
Dũng nhớ về đoàn quân Tây Tiến là còn nhớ về dòng sông Mã thân thuộc, hơn thế nữa có thể đây
còn là dòng sông tâm trạng, dòng sông chở nặng cảm xúc, nỗi niềm đầy vơi trong lòng thi nhân.
+ Tây Tiến: là một đơn vị thành lập đầu năm 1947, Quang Dũng có mặt tại đơn vị ngay từ
những ngày đầu mới thành lập nên nhà thơ có sự gắn bó sâu sắc với đồng đội của mình.
+ “xa rồi”: tạo khoảng cách giữa quá khứ và hiện tại khi nhắc về kí ức
Hình ảnh sông Mã:
a. Nỗi nhớ được diễn tả khái quát, nỗi nhớ thấm đẫm thời gian và không gian( 2 câu đầu )
- “Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”:
+ Rừng núi: là hình ảnh khái quát về địa bàn hoạt động của người lính Tây Tiến. Đó là nơi
rừng núi hoang vu, rậm rạp, địa hình hiểm trở,...
+ Điệp từ “nhớ”: diễn tả nỗi nhớ cháy bỏng, khôn nguôi cứ tuôn chảy dào dạt trong lòng thi
nhân, nhớ đến thổn thức, bồi hồi. Hai từ “nhớ” được đặt trong cùng một câu thơ nhưng lại
tách ra làm hai vế khiến cho nỗi nhớ như được tô đậm thêm cảm xúc. Nỗi nhớ dào dạt như
những lớp sóng dâng trào mãnh liệt trong lòng thi nhân: “Nhớ về rừng núi/ nhớ chơi vơi”.
+ Từ láy “chơi vơi”: giàu sức gợi hình, là nỗi nhớ mênh mang, khó định hình được bao trùm
lên cả không gian và thời gian.
nỗi nhớ không rõ nét, mông lung, không gắn với một đối tượng cụ thể nào gợi sự xa xôi cả
không gian và thời gian, khơi gợi cho nguồn kí ức của tác giả
+ “nỗi nhớ chơi vơi” kết hợp hiệp vần “ơi” ba lần( ơi, chơi vơi ): tạo âm hưởng vang xa, làm
cho nỗi nhớ càng da diết chảy bỏng, vang vọng khắp không gian”
a. Nỗi nhớ được diễn tả khái quát, nỗi nhớ thấm đẫm thời gian và không gian( 2 câu đầu )
- Nghệ thuật:
+ Câu cảm thán: “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!”
+ Điệp từ “nhớ”: 2 lần
+ Từ láy “chơi vơi”
+ Hệp vần “ơi”: 3 lần
Nhấn mạnh, khắc sâu nỗi nhớ da diết trong tâm trí Quang Dũng. Đồng thời, tạo âm hưởng
vang xa bao trùm lên cả thời gian và không gian gây ấn tượng cho người đọc
* Tóm lại: hai câu thơ như lời tâm sự, khơi gợi có tác dụng định hướng toàn bộ
cảm xúc của bài thơ – nỗi nhớ bao trùm lên cả thời gian và không gian, tác giả
tìm về quá khứ oai hùng một thời của mình và trung đoàn Tây Tiến
b. Nhớ cảnh thiên nhiên miền Tây hoang sơ, dữ dội( 6 câu tiếp )
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,
Mường Lát hoa về trong đêm hơi.
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm,
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời.
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống,
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.”
- Nỗi “nhớ chơi vơi” của nhà thơ “xứ Đoài mây trắng” được cụ thể hóa bằng việc liệt kê các địa
danh và miêu tả các sự vật tiêu biểu:
+ Địa danh: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, liệt kê vừa mang tính cụ thể, vừa có ý nghĩa
tượng trưng khái quát
→ Đó là những địa danh mà các chiến sĩ Tây Tiến đã đi qua, từng gắn bó trên chặng đường hành
quân, là những vùng đất xa xôi, hiểm trở và tiêu biểu của miền Tây
+ Sự vật: sương, dốc, mây, mưa, thác, cọp
→ Những sự vật tái hiên lại hình ảnh một cuộc hành quân biết bao gian khổ
b. Nhớ cảnh thiên nhiên miền Tây hoang sơ, dữ dội( 6 câu tiếp )
* Bức tranh thiên nhiên miền Tây vừa hiện thực, cũng vừa lãng mạn( 2 câu đầu ):
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường lát hoa về trong đêm hơi”
- Hiện thực: “Sương lấp đoàn quân mỏi”, nghĩa sương mù dày đặc ở vùng cao Tây Bắc che
lấp cả đoan quân cùng cụm “đoàn quân mỏi” đưa người đọc trở về với cuộc sống hiện thực
khốc liệt của người lính. Sương núi lạnh giá cắt da, cắt thịt như muốn nhấn chìm đoàn quân
Sự gian khổ, giàu chất hiện thực gian khổ của người lính Tây Tiến
- Lãng mạn: “Mường Lát hoa về trong đêm hơi” , tác giả viết “hoa về” chứ không phải là
hoa nở, “đêm hơi” chứ không phải là đêm sương khiến cho câu thơ huyền ảo, mơ mộng làm rõ
nét vẽ đầy lãng mạn, giàu chất thơ của Quang Dũng
→ Tạo sự hài hòa về âm điệu, cảm xúc và hình ảnh câu thơ; cách cảm nhận riêng mang dấu
ấn rất lính của Quang Dũng dù gian khổ nhưng có phần mơ mộng, lãng mạn trong những
chàng trai Hà Thành
Trong hai câu thơ trên, tác giả vừa sử dụng hình ảnh gân guốc, vừa sử dụng hình ảnh thơ
mộng, đẹp đẽ đã làm nổi bật hai vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc vừa dữ dội, vừa nên thơ,
đồng thời cũng làm nổi bật hai khía cạnh trong cuộc đời chiến đấu của người lính Tây Tiến
vừa gian khổ, vừa lãng mạn, yêu đời.
b. Nhớ cảnh thiên nhiên miền Tây hoang sơ, dữ dội( 6 câu tiếp )
* Chặng đường hành quân gian khổ( 4 câu tiếp ):
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm,
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời.
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống,
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.”
- Sử dụng những cặp từ láy có giá trị tạo hình cao: khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút. Có tác
dụng tạo hình cao, đặc tả sự gian nan, điệp trùng nơi núi non hiểm trở
- “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm”: điệp từ “dốc” kết hợp 2 cặp từ láy “khúc khuỷu”,
“thăm thẳm” vừa cho thấy được độ cao ngút trời, uốn lượn của con dốc đường lên, cũng vừa
thấy được độ sâu hun hút của con vực. Nhịp thơ câu thơ này là nhịp 4/3 tạo sự đặc sắc, ta
càng dễ hình dung ra bức tranh mà Quang Dung đang khắc họa
Nhà thơ “xứ Đoài mây trắng” gợi ta cho hai không gian về độ cao ngút trời với độ sâu hun
hút vùng miền Tây hiểm trở mà người lính Tây Tiến cảm nhận trên con đường hành quân chiến
đầu
b. Nhớ cảnh thiên nhiên miền Tây hoang sơ, dữ dội( 6 câu tiếp )
- “Heo hút cồn mây, súng ngửi trời”:
+ “Heo hút cồn mây”: đảo ngữ là rõ hình ảnh câu thơ. Cồn mây là một đám mây cuộn lên,
chồng chất lên trông rất lớn và đồ xộ trên trời , gợi hình ảnh người lính Tây Tiến ở vị trí cao
đó.
b. Nhớ cảnh thiên nhiên miền Tây hoang sơ, dữ dội( 6 câu tiếp )
- “Heo hút cồn mây, súng ngửi trời”:
+ “Heo hút cồn mây”: đảo ngữ là rõ hình ảnh câu thơ. Cồn mây là một đám mây cuộn lên,
chồng chất lên trông rất lớn và đồ xộ trên trời , gợi hình ảnh người lính Tây Tiến ở vị trí cao
đó.
- “Súng ngửi trời”: nghệ thuật nhân hóa, cách sử dựng từ ngữ rất hồn nhiên, tinh nghịch,
chất lính của Quang Dũng. Đây là một hình ảnh đẹp, lạ và táo bạo làm rõ vẻ đẹp hào hùng,
hào hoa của người lính Tây Tiến.
+ Hào hoa, lãng mạn: Tác giả không nói súng chạm trời mà là “súng ngửi trời”, ý nghĩa
biểu tượng giúp người đọc phát hiện ra vẻ đẹp tâm hồn hào hoa, lãng mạn của người lính Tây
Tiến. Tác giả sử dụng nghệ thuật nhân hóa khiến cho những vật vô tri, vô giác cũng trở nên có
linh hồn sống động hơn. Người lính đang tếu táo, đùa vui trêu ghẹo cả tạo hóa. Câu thơ khiến
người đọc liên tưởng đến hình ảnh thơ mộng trong bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu: Đầu
súng trăng treo hay tâm hồn trẻ trung, sôi nổi, lạc quan của người lính lái xe trong Bài thơ về
“Tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật.
b. Nhớ cảnh thiên nhiên miền Tây hoang sơ, dữ dội( 6 câu tiếp )
+ Hào hùng: Quang Dũng không nói đến người lính mà ta vẫn thấy người lính, không nói
núi cao mà ta vẫn thấy núi rất cao. Chữ “ngửi” vẽ ra hình ảnh người lính đang ở tư thế chót
vót trên đỉnh núi, đi giữa ngàn mây, nòng súng đang chạm vào vòm trời. Điều đó cho thấy sự
hùng vĩ của thiên nhiên Tây Bắc và vẻ đẹp của người lính Tây Tiến. Vẻ đẹp của con người
trong tư thế sánh ngang trời đất, làm chủ hoàn cảnh. Vẻ đẹp của người lính Tây Tiến được tỏa
sáng giữa đất trời Tây Bắc mang vẻ đẹp sử thi của văn học giai đoạn 1945 – 1975
- “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”: nghệ thuật đối lập với nhịp thơ 4/3 vẽ nên một
con dốc khác trên đường hành quân. Điệp từ “ngàn thước” với hai động từ chỉ hướng lên,
xuống khiến cho câu thơ như bị bẻ gãy làm đôi để miêu tả hai chiều không gian Tây Bắc
vừa có độ cao chót vót, vừa có độ sâu thăm thẳm. Dốc đột ngột vút lên thẳng đứng rồi lại
đột ngột gãy gập đổ xuống một cách bất ngờ, nguy hiểm.
- “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”: câu thơ hoàn toàn là thang bằng, gợi khung cảnh bình
yên của ngôi làng khi đoàn quân vượt qua núi cao ngàn trùng.
b. Nhớ cảnh thiên nhiên miền Tây hoang sơ, dữ dội( 6 câu tiếp )
- Nghệ thuật:
+ Tác giả sử dụng tài hoa tranh trắc và thanh bằng( đối thanh câu 5 với câu 8 )
• Thanh trắc: “Dốc lên khúc khuỷu thăm thẳm”, đã vẽ nên những đường nét gân guốc,
rắn rỏi về địa hình vùng cao Tây Bắc hiểm trở, đó cũng là chặng đường hành quân vô
cùng gian nan mà người lính Tây Tiến phải trải qua.
• Thanh bằng: “Nhà ai pha Luông mưa xa khơi”, đã tạo cho câu thơ những nét vẽ dịu
dàng, hiền hoà. Không gian được cảm nhận qua điểm nhìn của người lính Tây Tiến khi
người lính hành quân lên đến đỉnh núi phóng tầm mắt ra xa, dưới kia là những ngôi nhà
bồng bềnh trong biển mưa. Người đọc không còn thấy dấu vết của sự mệt mỏi bởi phải
vượt rừng, leo núi nữa, bây giờ là tâm trạng bâng khuâng, thư thái của con người khi
vượt lên đến đỉnh dốc, vượt qua biết bao gian lao, vất vả, thử thách.
+ Đối hình: “khúc khuỷu” ,”thăm thẳm”.
b. Nhớ cảnh thiên nhiên miền Tây hoang sơ, dữ dội( 6 câu tiếp )
: Bốn câu thơ có sự kết hợp hài hòa giữa các thanh điệu. Bút pháp đặc tả như một bức
tranh sơn mài ấn tượng vẽ cảnh núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, hiểm trở, dữ dội để làm nổi bật lên
hình ảnh người lính Tây Tiến trên bước đường hành quân và chiến đấu đầy gian khổ, vất vả, hi
sinh nhưng vẫn lạc quan hồn nhiên yêu đời, lãng mạn.
- Thiên nhiên Tây Bắc bí hiểm, hoang dại luôn rình rập người lính:
“Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”
+ Thiên nhiên hoang dã, dữ dội được miêu tả trong tiếng gầm
thét của thác, bóng dáng của cọp trêu người.
+ Địa danh Mường Hịch:. Hai chữ “Hịch”, “cọp” với hai dấu
nặng trĩu xuống nghe rờn rợn. Câu thơ nói đủ sự khốc liệt của chiến
trường người lính. Hai dấu chấm nặng như xoáy vào lòng đất gợi cảm giác
ghê sợ, hãi hùng.
+ Sử dụng từ láy kết hợp đối: “Chiều chiều”, “đêm đêm” gợi cho
người đọc ấn tượng mạnh mẽ về thời gian diễn ra triền miên nơi rừng
thiêng thác sâu, cọp dữ, nơi ấy luôn là mối đe dọa khủng khiếp đối với
người lính Tây Tiến. Sự nguy hiểm ấy thường diễn ra vào lúc chiều tối,
đêm sâu và thường xuyên, liên tục không phải là một chiều, một đêm mà
chiều nào cũng thế, đêm nào cũng thế. Như vậy, người lính Tây Tiến
Bức
tranh
hùng
vĩ,
dữ
dội
của
miền
Tây
làm
nổi
bật
cuộc
hành
quân
của
đoàn
không chỉ ngã xuống trước họng súng của kẻ thù mà còn có thể bị ngã
quân
Tây
xuống
bởiTiến
rừng thiêng, thác hiểm.
c. Nỗi nhờ về người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân gian khổ( 6 câu tiếp ):
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa,
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét,
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói,
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.”
- Hiện thực trên bước đường hành quân của người lính Tây Tiến:
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!”
+ Hai chữ “anh bạn” chứa đựng những tình cảm gắn bó giữa những người bạn thân thiết, giữa
những người đồng chí, đồng đội, đây là cách nói thân thuộc, gần gũi.
+ Hiện thực bi tráng được diễn tả qua những từ ngữ: Dãi dầu, gục. Đó là những vất vả, gian lao
mà người lính Tây Tiến phải trải qua trên chặng đường hành quân gian khổ và quá trình chiến
đấu với quân thù.
c. Nỗi nhờ về người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân gian khổ( 6 câu tiếp ):
- Chữ “gục” có nhiều cách hiểu:
+ Có thể đó là sự mệt mỏi khiến người lính ngủ gục trên súng mũ như
muốn quên đi tất cả
+ Có thể đây là cách nói giảm, nói tránh diễn tả sự hi sinh của người
lính vì Tổ quốc.
- “Không bước nữa”, “bỏ quên đời”: nói giảm nói tránh gợi lên sự hi
sinh thanh thản, không bi lụy. Hiệu quả của nghệ thuật nói giảm nói
tránh vừa gợi được tình thương, vừa gợi được sự bình thản chứ
không bi lụy. Tác giả không viết là ngủ quên đời mà là bỏ quên đời
thì mới thật ngang tàng, bất cần.
Với cách nói này câu thơ có bi mà không có lụy, ngược lại hết sức
hùng tráng gợi ra chất phong trần, ngang tàng của người lính mang
vẻ đẹp của những tráng sĩ thuở xưa.
c. Nỗi nhờ về người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân gian khổ( 6 câu tiếp ):
- Tình quân dân thắm thiết:
“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
+ Một lần nữa nỗi nhớ lại bật lên thành lời, tác giả đã thốt lên Nhớ ôi. Hai từ này mang giọng điệu cảm thán bộc
lộ nỗi nhớ nhung trào dâng mãnh liệt. Câu thơ có ba thanh trắc ngắt quãng (nhớ…. Tiến…. khói) đều đặn tạo nên
âm điệu câu thơ vút lên đẩy nỗi nhớ nhung lên cung bậc cao nhất.
+ “cơm lên khói”, “thơm nếp xôi”: nghệ thuật tả thực, ta hình tượng ra được một bữa cơm nóng và hương thơm
của nếp mới – hương vị Tây Bắc
+ Tác giả nhớ về: Mai Châu, bữa xôi nếp dẻo ấm áp tình quân dân. Câu thơ có hai cách hiểu:
• Cách thứ nhất là cách định danh thời gian của tác giả: Có thể hiểu người lính Tây Tiến dừng chân ở Mai Châu
giữa mùa lúa chín đón nhận bát xôi hương nếp đầu mùa. Đặc biệt có bàn tay thơm thảo của em làm nên hương
vị nồng ấm ấy làm vấn vương lòng người chiến sĩ Tây Tiến.
•
Cách hiểu thứ hai đầy lãng mạn: Hai chữ “mùa em” là một sáng tạo ngôn ngữ tài hoa của tác giả. Chữ “mùa”
gợi sự đầy đủ, ăm ắp sự sống, mang hương vị của đồng nội, đó là mùa lúa chín, mùa nếp thơm, mùa của tình
quân dân, còn chữ “em” gợi vẻ đẹp xuân sắc của người thiếu nữ. Hai từ mùa em đã gợi tả tinh tế cảm giác xao
xuyến, say mê của các chàng trai Hà Thành hào hoa, lãng mạn trước sản vật và con người Tây Bắc.
Tiểu kết:
- Bức tranh thiên nhiên hung vĩ, dữ dội và bí ẩn, nhưng cũng thơ
mộng và huyền ảo
- Nổi bật lên hình ảnh người chiến sĩ Tây Tiến can trường, ngang tàn
mà hào hoa, tinh nghịch
- Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Quang Dũng lãng mạn, tài
hoa ở cách xây dựng hình ảnh, bút pháp hiện thực kết hợp với lãng
mạn, nghệ thuật tiểu đối, nhân hóa, cách sử dụng từ ngữ, thể thơ thất
ngôn. Từ ngữ, hình ảnh, thanh điệu, nhịp thơ 4/3,…được nhà thơ “xứ
Đoài mây Trắng” chắt lọc, sử dụng sang tạo góp phần tân giá trị thẩm
mỹ của đoạn thơ
QUANG DŨNG
II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1. Nỗi nhớ về những cuộc hành quân gian khổ và cảnh thiên nhiên miền Tây
hùng vĩ, hoang sơ, dữ dội ( câu 1 – 14 ).
Đoạn thơ:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khủyu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời !
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
a. Nỗi nhớ được diễn tả khái quát, nỗi nhớ thấm đẫm thời gian và không gian( 2 câu đầu )
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
- Cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ là nỗi nhớ bao trùm thời gian và không gian
- “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!”: Câu cảm thán, nỗi nhớ bật lên thành tiếng gọi - tiếng gọi thân
thương về đơn vị cũ, như một tiếng thở dài
- Đối tượng của nỗi nhớ: Sông Mã, Tây Tiến, rừng núi.
+ Sông Mã: là con sông từ thượng Lào chảy vào đất Việt. Dòng sông ấy đã gắn bó với đoàn
quân Tây Tiến, chứng kiến những vui, buồn trong cuộc đời người lính chiến binh. Vì thế, Quang
Dũng nhớ về đoàn quân Tây Tiến là còn nhớ về dòng sông Mã thân thuộc, hơn thế nữa có thể đây
còn là dòng sông tâm trạng, dòng sông chở nặng cảm xúc, nỗi niềm đầy vơi trong lòng thi nhân.
+ Tây Tiến: là một đơn vị thành lập đầu năm 1947, Quang Dũng có mặt tại đơn vị ngay từ
những ngày đầu mới thành lập nên nhà thơ có sự gắn bó sâu sắc với đồng đội của mình.
+ “xa rồi”: tạo khoảng cách giữa quá khứ và hiện tại khi nhắc về kí ức
Hình ảnh sông Mã:
a. Nỗi nhớ được diễn tả khái quát, nỗi nhớ thấm đẫm thời gian và không gian( 2 câu đầu )
- “Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”:
+ Rừng núi: là hình ảnh khái quát về địa bàn hoạt động của người lính Tây Tiến. Đó là nơi
rừng núi hoang vu, rậm rạp, địa hình hiểm trở,...
+ Điệp từ “nhớ”: diễn tả nỗi nhớ cháy bỏng, khôn nguôi cứ tuôn chảy dào dạt trong lòng thi
nhân, nhớ đến thổn thức, bồi hồi. Hai từ “nhớ” được đặt trong cùng một câu thơ nhưng lại
tách ra làm hai vế khiến cho nỗi nhớ như được tô đậm thêm cảm xúc. Nỗi nhớ dào dạt như
những lớp sóng dâng trào mãnh liệt trong lòng thi nhân: “Nhớ về rừng núi/ nhớ chơi vơi”.
+ Từ láy “chơi vơi”: giàu sức gợi hình, là nỗi nhớ mênh mang, khó định hình được bao trùm
lên cả không gian và thời gian.
nỗi nhớ không rõ nét, mông lung, không gắn với một đối tượng cụ thể nào gợi sự xa xôi cả
không gian và thời gian, khơi gợi cho nguồn kí ức của tác giả
+ “nỗi nhớ chơi vơi” kết hợp hiệp vần “ơi” ba lần( ơi, chơi vơi ): tạo âm hưởng vang xa, làm
cho nỗi nhớ càng da diết chảy bỏng, vang vọng khắp không gian”
a. Nỗi nhớ được diễn tả khái quát, nỗi nhớ thấm đẫm thời gian và không gian( 2 câu đầu )
- Nghệ thuật:
+ Câu cảm thán: “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!”
+ Điệp từ “nhớ”: 2 lần
+ Từ láy “chơi vơi”
+ Hệp vần “ơi”: 3 lần
Nhấn mạnh, khắc sâu nỗi nhớ da diết trong tâm trí Quang Dũng. Đồng thời, tạo âm hưởng
vang xa bao trùm lên cả thời gian và không gian gây ấn tượng cho người đọc
* Tóm lại: hai câu thơ như lời tâm sự, khơi gợi có tác dụng định hướng toàn bộ
cảm xúc của bài thơ – nỗi nhớ bao trùm lên cả thời gian và không gian, tác giả
tìm về quá khứ oai hùng một thời của mình và trung đoàn Tây Tiến
b. Nhớ cảnh thiên nhiên miền Tây hoang sơ, dữ dội( 6 câu tiếp )
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,
Mường Lát hoa về trong đêm hơi.
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm,
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời.
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống,
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.”
- Nỗi “nhớ chơi vơi” của nhà thơ “xứ Đoài mây trắng” được cụ thể hóa bằng việc liệt kê các địa
danh và miêu tả các sự vật tiêu biểu:
+ Địa danh: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, liệt kê vừa mang tính cụ thể, vừa có ý nghĩa
tượng trưng khái quát
→ Đó là những địa danh mà các chiến sĩ Tây Tiến đã đi qua, từng gắn bó trên chặng đường hành
quân, là những vùng đất xa xôi, hiểm trở và tiêu biểu của miền Tây
+ Sự vật: sương, dốc, mây, mưa, thác, cọp
→ Những sự vật tái hiên lại hình ảnh một cuộc hành quân biết bao gian khổ
b. Nhớ cảnh thiên nhiên miền Tây hoang sơ, dữ dội( 6 câu tiếp )
* Bức tranh thiên nhiên miền Tây vừa hiện thực, cũng vừa lãng mạn( 2 câu đầu ):
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường lát hoa về trong đêm hơi”
- Hiện thực: “Sương lấp đoàn quân mỏi”, nghĩa sương mù dày đặc ở vùng cao Tây Bắc che
lấp cả đoan quân cùng cụm “đoàn quân mỏi” đưa người đọc trở về với cuộc sống hiện thực
khốc liệt của người lính. Sương núi lạnh giá cắt da, cắt thịt như muốn nhấn chìm đoàn quân
Sự gian khổ, giàu chất hiện thực gian khổ của người lính Tây Tiến
- Lãng mạn: “Mường Lát hoa về trong đêm hơi” , tác giả viết “hoa về” chứ không phải là
hoa nở, “đêm hơi” chứ không phải là đêm sương khiến cho câu thơ huyền ảo, mơ mộng làm rõ
nét vẽ đầy lãng mạn, giàu chất thơ của Quang Dũng
→ Tạo sự hài hòa về âm điệu, cảm xúc và hình ảnh câu thơ; cách cảm nhận riêng mang dấu
ấn rất lính của Quang Dũng dù gian khổ nhưng có phần mơ mộng, lãng mạn trong những
chàng trai Hà Thành
Trong hai câu thơ trên, tác giả vừa sử dụng hình ảnh gân guốc, vừa sử dụng hình ảnh thơ
mộng, đẹp đẽ đã làm nổi bật hai vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc vừa dữ dội, vừa nên thơ,
đồng thời cũng làm nổi bật hai khía cạnh trong cuộc đời chiến đấu của người lính Tây Tiến
vừa gian khổ, vừa lãng mạn, yêu đời.
b. Nhớ cảnh thiên nhiên miền Tây hoang sơ, dữ dội( 6 câu tiếp )
* Chặng đường hành quân gian khổ( 4 câu tiếp ):
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm,
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời.
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống,
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.”
- Sử dụng những cặp từ láy có giá trị tạo hình cao: khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút. Có tác
dụng tạo hình cao, đặc tả sự gian nan, điệp trùng nơi núi non hiểm trở
- “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm”: điệp từ “dốc” kết hợp 2 cặp từ láy “khúc khuỷu”,
“thăm thẳm” vừa cho thấy được độ cao ngút trời, uốn lượn của con dốc đường lên, cũng vừa
thấy được độ sâu hun hút của con vực. Nhịp thơ câu thơ này là nhịp 4/3 tạo sự đặc sắc, ta
càng dễ hình dung ra bức tranh mà Quang Dung đang khắc họa
Nhà thơ “xứ Đoài mây trắng” gợi ta cho hai không gian về độ cao ngút trời với độ sâu hun
hút vùng miền Tây hiểm trở mà người lính Tây Tiến cảm nhận trên con đường hành quân chiến
đầu
b. Nhớ cảnh thiên nhiên miền Tây hoang sơ, dữ dội( 6 câu tiếp )
- “Heo hút cồn mây, súng ngửi trời”:
+ “Heo hút cồn mây”: đảo ngữ là rõ hình ảnh câu thơ. Cồn mây là một đám mây cuộn lên,
chồng chất lên trông rất lớn và đồ xộ trên trời , gợi hình ảnh người lính Tây Tiến ở vị trí cao
đó.
b. Nhớ cảnh thiên nhiên miền Tây hoang sơ, dữ dội( 6 câu tiếp )
- “Heo hút cồn mây, súng ngửi trời”:
+ “Heo hút cồn mây”: đảo ngữ là rõ hình ảnh câu thơ. Cồn mây là một đám mây cuộn lên,
chồng chất lên trông rất lớn và đồ xộ trên trời , gợi hình ảnh người lính Tây Tiến ở vị trí cao
đó.
- “Súng ngửi trời”: nghệ thuật nhân hóa, cách sử dựng từ ngữ rất hồn nhiên, tinh nghịch,
chất lính của Quang Dũng. Đây là một hình ảnh đẹp, lạ và táo bạo làm rõ vẻ đẹp hào hùng,
hào hoa của người lính Tây Tiến.
+ Hào hoa, lãng mạn: Tác giả không nói súng chạm trời mà là “súng ngửi trời”, ý nghĩa
biểu tượng giúp người đọc phát hiện ra vẻ đẹp tâm hồn hào hoa, lãng mạn của người lính Tây
Tiến. Tác giả sử dụng nghệ thuật nhân hóa khiến cho những vật vô tri, vô giác cũng trở nên có
linh hồn sống động hơn. Người lính đang tếu táo, đùa vui trêu ghẹo cả tạo hóa. Câu thơ khiến
người đọc liên tưởng đến hình ảnh thơ mộng trong bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu: Đầu
súng trăng treo hay tâm hồn trẻ trung, sôi nổi, lạc quan của người lính lái xe trong Bài thơ về
“Tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật.
b. Nhớ cảnh thiên nhiên miền Tây hoang sơ, dữ dội( 6 câu tiếp )
+ Hào hùng: Quang Dũng không nói đến người lính mà ta vẫn thấy người lính, không nói
núi cao mà ta vẫn thấy núi rất cao. Chữ “ngửi” vẽ ra hình ảnh người lính đang ở tư thế chót
vót trên đỉnh núi, đi giữa ngàn mây, nòng súng đang chạm vào vòm trời. Điều đó cho thấy sự
hùng vĩ của thiên nhiên Tây Bắc và vẻ đẹp của người lính Tây Tiến. Vẻ đẹp của con người
trong tư thế sánh ngang trời đất, làm chủ hoàn cảnh. Vẻ đẹp của người lính Tây Tiến được tỏa
sáng giữa đất trời Tây Bắc mang vẻ đẹp sử thi của văn học giai đoạn 1945 – 1975
- “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”: nghệ thuật đối lập với nhịp thơ 4/3 vẽ nên một
con dốc khác trên đường hành quân. Điệp từ “ngàn thước” với hai động từ chỉ hướng lên,
xuống khiến cho câu thơ như bị bẻ gãy làm đôi để miêu tả hai chiều không gian Tây Bắc
vừa có độ cao chót vót, vừa có độ sâu thăm thẳm. Dốc đột ngột vút lên thẳng đứng rồi lại
đột ngột gãy gập đổ xuống một cách bất ngờ, nguy hiểm.
- “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”: câu thơ hoàn toàn là thang bằng, gợi khung cảnh bình
yên của ngôi làng khi đoàn quân vượt qua núi cao ngàn trùng.
b. Nhớ cảnh thiên nhiên miền Tây hoang sơ, dữ dội( 6 câu tiếp )
- Nghệ thuật:
+ Tác giả sử dụng tài hoa tranh trắc và thanh bằng( đối thanh câu 5 với câu 8 )
• Thanh trắc: “Dốc lên khúc khuỷu thăm thẳm”, đã vẽ nên những đường nét gân guốc,
rắn rỏi về địa hình vùng cao Tây Bắc hiểm trở, đó cũng là chặng đường hành quân vô
cùng gian nan mà người lính Tây Tiến phải trải qua.
• Thanh bằng: “Nhà ai pha Luông mưa xa khơi”, đã tạo cho câu thơ những nét vẽ dịu
dàng, hiền hoà. Không gian được cảm nhận qua điểm nhìn của người lính Tây Tiến khi
người lính hành quân lên đến đỉnh núi phóng tầm mắt ra xa, dưới kia là những ngôi nhà
bồng bềnh trong biển mưa. Người đọc không còn thấy dấu vết của sự mệt mỏi bởi phải
vượt rừng, leo núi nữa, bây giờ là tâm trạng bâng khuâng, thư thái của con người khi
vượt lên đến đỉnh dốc, vượt qua biết bao gian lao, vất vả, thử thách.
+ Đối hình: “khúc khuỷu” ,”thăm thẳm”.
b. Nhớ cảnh thiên nhiên miền Tây hoang sơ, dữ dội( 6 câu tiếp )
: Bốn câu thơ có sự kết hợp hài hòa giữa các thanh điệu. Bút pháp đặc tả như một bức
tranh sơn mài ấn tượng vẽ cảnh núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, hiểm trở, dữ dội để làm nổi bật lên
hình ảnh người lính Tây Tiến trên bước đường hành quân và chiến đấu đầy gian khổ, vất vả, hi
sinh nhưng vẫn lạc quan hồn nhiên yêu đời, lãng mạn.
- Thiên nhiên Tây Bắc bí hiểm, hoang dại luôn rình rập người lính:
“Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”
+ Thiên nhiên hoang dã, dữ dội được miêu tả trong tiếng gầm
thét của thác, bóng dáng của cọp trêu người.
+ Địa danh Mường Hịch:. Hai chữ “Hịch”, “cọp” với hai dấu
nặng trĩu xuống nghe rờn rợn. Câu thơ nói đủ sự khốc liệt của chiến
trường người lính. Hai dấu chấm nặng như xoáy vào lòng đất gợi cảm giác
ghê sợ, hãi hùng.
+ Sử dụng từ láy kết hợp đối: “Chiều chiều”, “đêm đêm” gợi cho
người đọc ấn tượng mạnh mẽ về thời gian diễn ra triền miên nơi rừng
thiêng thác sâu, cọp dữ, nơi ấy luôn là mối đe dọa khủng khiếp đối với
người lính Tây Tiến. Sự nguy hiểm ấy thường diễn ra vào lúc chiều tối,
đêm sâu và thường xuyên, liên tục không phải là một chiều, một đêm mà
chiều nào cũng thế, đêm nào cũng thế. Như vậy, người lính Tây Tiến
Bức
tranh
hùng
vĩ,
dữ
dội
của
miền
Tây
làm
nổi
bật
cuộc
hành
quân
của
đoàn
không chỉ ngã xuống trước họng súng của kẻ thù mà còn có thể bị ngã
quân
Tây
xuống
bởiTiến
rừng thiêng, thác hiểm.
c. Nỗi nhờ về người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân gian khổ( 6 câu tiếp ):
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa,
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét,
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói,
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.”
- Hiện thực trên bước đường hành quân của người lính Tây Tiến:
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!”
+ Hai chữ “anh bạn” chứa đựng những tình cảm gắn bó giữa những người bạn thân thiết, giữa
những người đồng chí, đồng đội, đây là cách nói thân thuộc, gần gũi.
+ Hiện thực bi tráng được diễn tả qua những từ ngữ: Dãi dầu, gục. Đó là những vất vả, gian lao
mà người lính Tây Tiến phải trải qua trên chặng đường hành quân gian khổ và quá trình chiến
đấu với quân thù.
c. Nỗi nhờ về người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân gian khổ( 6 câu tiếp ):
- Chữ “gục” có nhiều cách hiểu:
+ Có thể đó là sự mệt mỏi khiến người lính ngủ gục trên súng mũ như
muốn quên đi tất cả
+ Có thể đây là cách nói giảm, nói tránh diễn tả sự hi sinh của người
lính vì Tổ quốc.
- “Không bước nữa”, “bỏ quên đời”: nói giảm nói tránh gợi lên sự hi
sinh thanh thản, không bi lụy. Hiệu quả của nghệ thuật nói giảm nói
tránh vừa gợi được tình thương, vừa gợi được sự bình thản chứ
không bi lụy. Tác giả không viết là ngủ quên đời mà là bỏ quên đời
thì mới thật ngang tàng, bất cần.
Với cách nói này câu thơ có bi mà không có lụy, ngược lại hết sức
hùng tráng gợi ra chất phong trần, ngang tàng của người lính mang
vẻ đẹp của những tráng sĩ thuở xưa.
c. Nỗi nhờ về người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân gian khổ( 6 câu tiếp ):
- Tình quân dân thắm thiết:
“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
+ Một lần nữa nỗi nhớ lại bật lên thành lời, tác giả đã thốt lên Nhớ ôi. Hai từ này mang giọng điệu cảm thán bộc
lộ nỗi nhớ nhung trào dâng mãnh liệt. Câu thơ có ba thanh trắc ngắt quãng (nhớ…. Tiến…. khói) đều đặn tạo nên
âm điệu câu thơ vút lên đẩy nỗi nhớ nhung lên cung bậc cao nhất.
+ “cơm lên khói”, “thơm nếp xôi”: nghệ thuật tả thực, ta hình tượng ra được một bữa cơm nóng và hương thơm
của nếp mới – hương vị Tây Bắc
+ Tác giả nhớ về: Mai Châu, bữa xôi nếp dẻo ấm áp tình quân dân. Câu thơ có hai cách hiểu:
• Cách thứ nhất là cách định danh thời gian của tác giả: Có thể hiểu người lính Tây Tiến dừng chân ở Mai Châu
giữa mùa lúa chín đón nhận bát xôi hương nếp đầu mùa. Đặc biệt có bàn tay thơm thảo của em làm nên hương
vị nồng ấm ấy làm vấn vương lòng người chiến sĩ Tây Tiến.
•
Cách hiểu thứ hai đầy lãng mạn: Hai chữ “mùa em” là một sáng tạo ngôn ngữ tài hoa của tác giả. Chữ “mùa”
gợi sự đầy đủ, ăm ắp sự sống, mang hương vị của đồng nội, đó là mùa lúa chín, mùa nếp thơm, mùa của tình
quân dân, còn chữ “em” gợi vẻ đẹp xuân sắc của người thiếu nữ. Hai từ mùa em đã gợi tả tinh tế cảm giác xao
xuyến, say mê của các chàng trai Hà Thành hào hoa, lãng mạn trước sản vật và con người Tây Bắc.
Tiểu kết:
- Bức tranh thiên nhiên hung vĩ, dữ dội và bí ẩn, nhưng cũng thơ
mộng và huyền ảo
- Nổi bật lên hình ảnh người chiến sĩ Tây Tiến can trường, ngang tàn
mà hào hoa, tinh nghịch
- Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Quang Dũng lãng mạn, tài
hoa ở cách xây dựng hình ảnh, bút pháp hiện thực kết hợp với lãng
mạn, nghệ thuật tiểu đối, nhân hóa, cách sử dụng từ ngữ, thể thơ thất
ngôn. Từ ngữ, hình ảnh, thanh điệu, nhịp thơ 4/3,…được nhà thơ “xứ
Đoài mây Trắng” chắt lọc, sử dụng sang tạo góp phần tân giá trị thẩm
mỹ của đoạn thơ
 








Các ý kiến mới nhất