Bài 38. Thực hành: Viết báo cáo ngắn về kênh đào Xuy-ê và kênh đào Panama

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn thị thảo linh
Ngày gửi: 13h:11' 14-04-2024
Dung lượng: 4.4 MB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn thị thảo linh
Ngày gửi: 13h:11' 14-04-2024
Dung lượng: 4.4 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
Nhóm 4A
Chào Mừng Cô Giáo và các bạn
LỚP QUẢN LÝ VĂN HÓA K3
Bài thuyết trình
MÔN: Quản lý di tích lịch sử và di
sản văn hoá
Đề tài:
CỐ ĐÔ HUẾ
Một miền di sản
Giới thiệu chung
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH VIỆT NAM
Thừa Thiên Huế
Giới thiệu chung về Cố Đô Huế
• Quần thể di tích Cố đô Huế là
những di tích lịch sử - văn hoá do
triều Nguyễn chủ trương xây
dựng trong khoảng thời gian từ
đầu thế kỷ 19 đến nửa đầu thế
kỷ 20 trên địa bàn kinh đô Huế
xưa (nay thuộc phạm vi thành
phố Huế và một vài vùng phụ
cận thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế,
Việt Nam).
Cấu trúc của Quần thể Cố Đô
Huế
Có thể phân chia thành các cụm công trình gồm các cụm
công trình: Ngoài Kinh thành Huế và trong Kinh thành
Huế :
1 . Cụm di tích trong kinh thành Huế
– Kinh thành Huế
– Hoàng thành Huế
– Tử cấm thành
2. Các di tích ngoài kinh thành
– Lăng tẩm
- Các di tích khác
Kinh thành Huế
- Kinh thành Huế được vua Gia Long tiến hành khảo
sát từ năm 1803,
- Khởi công xây dựng từ 1805 và hoàn chỉnh vào năm
1832 dưới triều vua Minh Mạng.
- Các di tích trong kinh thành gồm: Kỳ Đài, Trường
Quốc Tử Giám, Điện Long An, BẢo tàng Mỹ thuật
Cung đình Huế, Đình Phú Xuân, Hồ Tịnh Tâm,Tàng
thư lâu, Viện Cơ Mật – Tam Tòa, Đàn Xã Tắc, Cửu
vị thần công.
Kinh Thành Huế
Lược đồ thành phố Huế
KHU
KINH
THÀNH
HUẾ
KỲ ĐÀI
• Còn gọi là Cột cờ
• Nằm chính giữa mặt nam của kinh thành Huế
• Là nơi treo cờ của triều đình.
• Kỳ Đài được xây dựng vào năm Gia Long thứ 6 (1807) cùng thời
gian xây dựng kinh thành Huế.
• Đến thời Minh Mạng, Kỳ Ðài được tu sửa vào các năm 1829,
1831 và 1840.
• Trong lịch sử, kỳ đài thường là nơi đánh dấu các sự kiện quan
trọng và sự thay đổi thể chế chính quyền ở Huế.
QUỐC TỬ
GIÁM
•
Trường Quốc Tử Giám
* Năm 1803 vua Gia Long xây dựng Đốc
Học Đường tại địa phận An Ninh Thượng,
huyện Hương Trà, cách kinh thành Huế
chừng 5 km về phía Tây, trường nằm cạnh
Văn Miếu, mặt hướng ra sông Hương.
* Đây được xem là trường quốc học đầu tiên
được xây dựng dưới triều Nguyễn.
* Đến năm 1908, thời vua Duy Tân, Quốc
Tử Giám được dời vào bên trong Kinh thành,
bên ngoài, phía Đông Nam Hoàng thành (tức
vị trí hiện nay).
Điện Long An
• Điện được xây dựng vào năm 1845, thời
vua Thiệu Trị với tên gọi là Điện Long
An trong cung Bảo Định, phường Tây Lộc
(Huế).
• Làm nơi nghỉ của vua sau khi tiến hành lễ
Tịch điền (cày ruộng) mỗi đầu xuân.
• Đây cũng là nơi vua Thiệu Trị thường
hay lui tới, nghỉ ngơi, đọc sách, làm thơ,
ngâm vịnh
Bảo tàng Mĩ thụât Cung Đình
Huế
•
•
•
Tòa nhà chính của viện bảo tàng chính là điện
Long An xây năm 1845 dưới thời vua Thiệu
Trị.
Hiện bảo tàng trưng bày hơn 300 hiện vật
bằng vàng, sành, sứ, pháp lam Huế, ngự y và
ngự dụng, trang phục của hoàng thất nhà
Nguyễn.
Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế giúp
người tham quan một cái nhìn tổng thể về
cuộc sống cung đình Huế.
Một số đồ gốm sứ cổ
Bộ biên khánh
Chiếc đỉnh làm bằng
ngọc xanh xám sẫm
Một số hiện vật
đã khai quât được
Bên trong bảo tàng mĩ thuật
Hồ Tịnh Tâm
- Hồ Tịnh Tâm là một di tích cảnh quan
được kiến tạo dưới triều Nguyễn.
- Hồ nguyên là vết tích của đoạn sông
Kim Long chảy qua Huế. Đầu thời Gia
Long, triều đình cho cải tạo một số đoạn
sông và khơi dòng theo hướng khác để tạo
thành Ngự Hà và hồ Ký Tế. Hai bãi nổi
trong hồ này được dùng làm nơi xây dựng
kho chứa thuốc súng và diêm tiêu.
- Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), triều
Nguyễn đã huy động tới 8000 binh lính
tham gia vào việc cải tạo hồ.
- Năm 1838, vua Minh Mạng cho di d ời
hai kho sang phía đông, tái thiết nơi này
thành chốn tiêu dao, giải trí và gọi là hồ
Tịnh Tâm. Dưới thời vua Thiệu Trị đây
được xem là một trong 20 cảnh đẹp đất
Thần Kinh.
Đình Phú Xuân
• Đình Phú Xuân được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ XV.
• Là di tích lịch sử kiến trúc gắn với địa danh lịch sử Phú Xuân,
nơi chúa Nguyễn chọn đặt phủ chúa xứ Ðàng Trong.
• Là kinh đô Phú Xuân dưới thời vua Quang Trung và nhà
Nguyễn.
• Đình gồm có cổng Tam quan, bình phong, Đình họp và Đình tế.
Đình Phú Xuân
Tàng Thư Lâu
• Tàng thư lâu là được xây dựng năm 1825 trên hồ Học Hải trong kinh thành
Huế.
• Dùng làm nơi lưu các công văn cũ của cơ quan và lục bộ triều đình nhà
Nguyễn.
• Đây có thể coi là một Tàng Kinh Các của Việt Nam dưới triều Nguyễn
lưu trữ các tài liệu văn bản quý hiếm liên quan đến sinh hoạt của triều
đình và biến đổi của đất nước.
• Chỉ riêng số địa bạ thời Gia Long và Minh Mạng lưu trữ ở đây đã lên đến
12.000 tập.
• Có thể nói Tàng thư lâu rất quan trọng trong việc chứa các tài liệu và địa
bạ, giấy tờ quan trọng lúc bấy giờ.
Tàng Thư Lâu
Đàn Xã Tắc
• Đàn Xã Tắc được xây dưới thời vua Gia Long
vào tháng 4 năm 1806 để tế cúng thần đất (xã)
và thần ngũ cốc (tắc)
• Từ sau năm 1975 đến nay, Đàn hoàn toàn biến
mất và còn sót lại chỉ còn tấm biển "Thái Xã
Chi Thần".
Đàn Xã Tắc
Cửu Vị Thần Công
• Cửu vị thần công là tên gọi 9 khẩu thần công được
các nghệ nhân Huế đúc dưới thời vua Gia Long.
• Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, khi lên ngôi, vua Gia
Long liền cho các nghệ nhân đương thời tập trung
tất cả chiến lợi phẩm là binh khí và vật dụng bằng
đồng để đúc thành 9 khẩu thần công làm vật chứng
cho chiến thắng vẻ vang của mình.
• Công việc đúc chính thức từ năm 1803 và hoàn thành
vào năm 1804.
Tứ Khẩu Thần Công:
Xuân; Hạ;Thu; Đông
Viện Cơ Mật- Tam Toà
• Là cơ quan tư vấn của nhà vua.
• Gồm bốn vị đại thần từ Tam Phẩm trở lên, là Đại Học Sĩ của các điện
- Đông Các;
- Văn Minh;
- Võ Hiển;
- Cần Chánh.
• Viện lúc đầu đặt ở nhà Tả Vu. Sau khi kinh đô thất thủ năm 1885 phải dời đi đến nhà
của bộ Lễ, rồi bộ Binh, và cuối cùng là về chùa Giác Hoàng vùng với toà Giám Sát (của
người Pháp) và Trực Phòng các bộ nên gọi là Tam Toà.
• Hiện nay Tam Tòa nằm ở địa chỉ 23 Tống Duy Tân, thuộc phường Thuận Thành, ở góc
Đông-Nam bên trong kinh thành Huế, hiện là trụ sở của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô
Huế.
Viện Cơ Mật- Tam Toà
2. Hoàng thành Huế
• Hoàng Thành nằm bên trong Kinh Thành, có chức năng
bảo vệ các cung điện quan trọng nhất của triều đình,
các miếu thờ tổ tiên nhà Nguyễn và bảo vệ Tử Cấm
Thành - nơi dành riêng cho vua và Hoàng gia.
• Hoàng Thành và Tử Cấm Thành thường được gọi
chung là Đại Nội.
• Các di tích trong hoàng thành gồm: Ngọ Môn , Điện
Thái Hoà và sân Đại Triều Nghi , Triệu Tổ Miếu ,
Hưng Tổ Miếu, Thế Tổ Miếu, Thái Tổ Miếu, Cung
Diên Thọ. Cung Trường Sanh,Hiển Lâm Các, Cửu
Đỉnh,Điện Phụng Tiên.
Sơ đồ các công trình trong Hoàng
thành Huế
Ngọ Môn
• Ngọ Môn là cổng chính phía nam của Hoàng thành Huế
được xây dựng vào năm Minh Mạng 14 (1833).
• Ngọ Môn có nghĩa đen là Cổng giữa trưa hay Cổng xoay
về hướng Ngọ, là cổng lớn nhất trong 4 cổng chính của
Hoàng thành Huế.
• Về mặt từ nguyên, Ngọ Môn có nghĩa là chiếc cổng xoay
mặt về hướng Ngọ, cũng là hướng Nam, theo Dịch học
là hướng dành cho bậc vua Chúa.
NGỌ MÔN
Điện Thái Hòa
• Điện thái Hoà là cung điện nằm trong khu vực Đại Nội của
kinh thành Huế.
• Điện cùng với sân chầu là địa điểm được dùng cho các buổi
triều nghi quan trọng của triều đình như: lễ Đăng Quang, sinh
nhật vua, những buổi đón tiếp sứ thần chính thức và các buổi
đại triều được tổ chức 2 lần vào ngày mồng 1 và 15 âm lịch
hàng tháng.
• Trong chế độ phong kiến cung điện này được coi là trung tâm
của đất nước.
• Điện được xây dựng vào năm 1805 thời vua Gia Long. Năm
1833 khi vua Minh Mạng quy hoạch lại hệ thống kiến trúc
cung đình ở Đại Nội, trong đó có việc cho dời điện về mé nam
và làm lại đồ sộ và lộng lẫy hơn.
Điện Thái Hoà
Ngai vàng trong Điện Thái Hoà
Triệu Tổ Miếu
• Triệu Tổ miếu còn gọi là Triệu Miếu, được
xây dựng năm Gia Long thứ 3 (1804). Miếu này
nằm ở phía bắc của Thái Miếu trong hoàng
thành Huế, là miếu thờ Nguyễn Kim, thân
sinh của chúa Tiên Nguyễn Hoàng
Hưng Tổ Miếu
• Hưng Tổ Miếu còn gọi là Hưng Miếu là
ngôi miếu thờ cha mẹ vua Gia Long (ông
Nguyễn Phúc Luân (hay Nguyễn Phúc
Côn) và bà Nguyễn Thị Hoàn), vị trí ở tây
nam Hoàng thành Huế|hoàng thành (cách
Thế Miếu chừng 50 mét về phía Bắc).
Thế Tổ Miếu
Thường gọi là Thế Miếu tọa lạc
ở góc tây nam bên trong Hoàng
thành Huế, là nơi thờ các vị vua
triều. Đây là nơi triều đình đến
cúng tế các vị vua quá cố, nữ giới
trong triều (kể cả hoàng hậu)
không được đến tham dự các cuộc
lễ này.
Triệu Tổ Miếu
Hưng Tổ Miếu
Cung Diên Thọ
• Cung Diên Thọ tên ban đầu là cung Trường
Thọ, các tên khác là Từ Thọ, Gia Thọ, Ninh
Thọ;
• Được bắt đầu xây dựng năm 1803 để làm nơi
sinh hoạt của Hoàng Thái Hậu của triều
Nguyễn.
Thế Tổ Miếu
Cung Diên Thọ
Cung Trường Sanh
• Cung Trường Sanh hay Cung Trường
Sinh (còn có tên gọi khác là Cung
Trường Ninh), được xây dựng vào năm
Minh Mạng thứ nhất (1821)
• Ban đầu là hoa viên, nơi các vua triều
mời mẹ mình đến thăm thú ngoạn
cảnh. Về sau được chuyển thành nơi
ăn ở sinh hoạt của một số bà hoàng
thái hậu và thái hoàng thái hậu.
• Trong thời kỳ rực rỡ nhất, kiến trúc
cảnh quan của Cung Trường Sanh
được vua Thiệu Trị xếp vào hàng thứ
bảy của thắng cảnh đất Thân Kinh.
Hiển Lâm Các
• Hiển Lâm Các được xây dựng vào năm
1821 và hoàn thành vào năm 1822 thời
vua Minh Mạng nằm trong khu vực
miếu thờ trong hoàng thành Huế,
• Cao 17m và là công trình kiến trúc cao
nhất trong Hoàng Thành.
• Đây được xem là đài kỷ niệm ghi nhớ
công tích của các vua nhà Nguyễn và các
quan đại thần có công lớn của triều
đại.
Cửu Đỉnh
• Cửu Đỉnh là chín cái đỉnh bằng đồng đặt
ở trước Hiển Lâm Các đối diện với Thế
Miếu, phía tây nam Hoàng hành Huế.
• Tất cả đều được đúc ở Huế vào cuối năm
1835, hoàn thành vào đầu năm 1837.
• Mỗi đỉnh có một tên riêng ứng với một vị
hoàng đế của triều Nguyễn, chúng có
trọng lượng khác nhau và hình chạm khắc
bên ngoài đỉnh cũng khác nhau.
• 9 đỉnh đó là: Cao Đỉnh, Nhân Đỉnh,
Chương Đỉnh, Anh Đỉnh, Nghị Đỉnh,
Thuần Đỉnh, Tuyên Đỉnh, Dụ Đỉnh, và
Huyền Đỉnh
Cửu Đỉnh
Điện Phụng Tiên
• Điện Phụng Tiên nằm ở gần cửa
Chương Đức, phía trước Cung Diên
Thọ, cửa tây của Hoàng Thành được
vua Gia Long và vua Minh Mạng xây
dựng dùng để thờ cúng các vua triều
Nguyễn.
• Khác với Thế Miếu, điện này tuy
cũng thờ các vị vua và hoàng hậu nhà
Nguyễn nhưng nữ giới trong triều
được phép đến đây cúng tế.
• Ngoài ra, nó còn là nơi lưu trữ nhiều
bảo vật của nhiều đời vua nhà
Nguyễn.
• Tháng 2 năm 1947, toàn bộ điện bị
đốt cháy, hiện nay chỉ còn lại cửa Tam
Quan và vòng tường thành còn tương
đối nguyên vẹn
3. Tử Cấm Thành
• Tử Cấm Thành nguyên
gọi là Cung Thành là vòng
tường thành thứ 3 của
Kinh đô Huế, giới hạn
khu vực làm việc, ăn ở và
sinh hoạt của vua và
Hoàng gia.
Các di tích trong Tử cấm thành
gồm:
• Tả Vu và Hữu Vu
• Vạc đồng
• Điện Kiến Trung
• Điện Cần Chánh
• Thái Bình Lâu
Tả Vu và Hữu Vu
• Tả Vu và Hữu Vu là hai công trình
phối thuộc của Điện Cần Chánh
trong Tử Cấm Thành của Kinh
thành Huế. Tả Vu là toà nhà dành
cho các quan văn, còn Hữu Vu là
toà nhà dành cho các quan võ, nơi
tổ chức thi đình và yến tiệc.
• Tả Vu và Hữu Vu đều được xây
dựng vào đầu thế kỷ 19, và cải tạo
vào năm 1899. Hữu Vu được trùng
tu vào năm 1977, và Tả Vu vào
các năm 1986, 1987-1988
Tả Vu
Hưũ Vu
Vạc Đồng
Tại cố đô Huế hiện còn lưu
giữ và trưng bày 15 chiếc
vạc đồng là những tác
phẩm nghệ thuật thật sự,
thể hiện trình độ kỹ thuật
đúc và mỹ thuật tuyệt
vời. Trong số đó, 11 chiếc
được đúc từ thời các chúa
Nguyễn, còn 4 chiếc được
đúc vào thời Minh Mạng
Điện Kiến Trung
Điện Cần Chánh
Thái Bình Lâu
Chào Mừng Cô Giáo và các bạn
LỚP QUẢN LÝ VĂN HÓA K3
Bài thuyết trình
MÔN: Quản lý di tích lịch sử và di
sản văn hoá
Đề tài:
CỐ ĐÔ HUẾ
Một miền di sản
Giới thiệu chung
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH VIỆT NAM
Thừa Thiên Huế
Giới thiệu chung về Cố Đô Huế
• Quần thể di tích Cố đô Huế là
những di tích lịch sử - văn hoá do
triều Nguyễn chủ trương xây
dựng trong khoảng thời gian từ
đầu thế kỷ 19 đến nửa đầu thế
kỷ 20 trên địa bàn kinh đô Huế
xưa (nay thuộc phạm vi thành
phố Huế và một vài vùng phụ
cận thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế,
Việt Nam).
Cấu trúc của Quần thể Cố Đô
Huế
Có thể phân chia thành các cụm công trình gồm các cụm
công trình: Ngoài Kinh thành Huế và trong Kinh thành
Huế :
1 . Cụm di tích trong kinh thành Huế
– Kinh thành Huế
– Hoàng thành Huế
– Tử cấm thành
2. Các di tích ngoài kinh thành
– Lăng tẩm
- Các di tích khác
Kinh thành Huế
- Kinh thành Huế được vua Gia Long tiến hành khảo
sát từ năm 1803,
- Khởi công xây dựng từ 1805 và hoàn chỉnh vào năm
1832 dưới triều vua Minh Mạng.
- Các di tích trong kinh thành gồm: Kỳ Đài, Trường
Quốc Tử Giám, Điện Long An, BẢo tàng Mỹ thuật
Cung đình Huế, Đình Phú Xuân, Hồ Tịnh Tâm,Tàng
thư lâu, Viện Cơ Mật – Tam Tòa, Đàn Xã Tắc, Cửu
vị thần công.
Kinh Thành Huế
Lược đồ thành phố Huế
KHU
KINH
THÀNH
HUẾ
KỲ ĐÀI
• Còn gọi là Cột cờ
• Nằm chính giữa mặt nam của kinh thành Huế
• Là nơi treo cờ của triều đình.
• Kỳ Đài được xây dựng vào năm Gia Long thứ 6 (1807) cùng thời
gian xây dựng kinh thành Huế.
• Đến thời Minh Mạng, Kỳ Ðài được tu sửa vào các năm 1829,
1831 và 1840.
• Trong lịch sử, kỳ đài thường là nơi đánh dấu các sự kiện quan
trọng và sự thay đổi thể chế chính quyền ở Huế.
QUỐC TỬ
GIÁM
•
Trường Quốc Tử Giám
* Năm 1803 vua Gia Long xây dựng Đốc
Học Đường tại địa phận An Ninh Thượng,
huyện Hương Trà, cách kinh thành Huế
chừng 5 km về phía Tây, trường nằm cạnh
Văn Miếu, mặt hướng ra sông Hương.
* Đây được xem là trường quốc học đầu tiên
được xây dựng dưới triều Nguyễn.
* Đến năm 1908, thời vua Duy Tân, Quốc
Tử Giám được dời vào bên trong Kinh thành,
bên ngoài, phía Đông Nam Hoàng thành (tức
vị trí hiện nay).
Điện Long An
• Điện được xây dựng vào năm 1845, thời
vua Thiệu Trị với tên gọi là Điện Long
An trong cung Bảo Định, phường Tây Lộc
(Huế).
• Làm nơi nghỉ của vua sau khi tiến hành lễ
Tịch điền (cày ruộng) mỗi đầu xuân.
• Đây cũng là nơi vua Thiệu Trị thường
hay lui tới, nghỉ ngơi, đọc sách, làm thơ,
ngâm vịnh
Bảo tàng Mĩ thụât Cung Đình
Huế
•
•
•
Tòa nhà chính của viện bảo tàng chính là điện
Long An xây năm 1845 dưới thời vua Thiệu
Trị.
Hiện bảo tàng trưng bày hơn 300 hiện vật
bằng vàng, sành, sứ, pháp lam Huế, ngự y và
ngự dụng, trang phục của hoàng thất nhà
Nguyễn.
Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế giúp
người tham quan một cái nhìn tổng thể về
cuộc sống cung đình Huế.
Một số đồ gốm sứ cổ
Bộ biên khánh
Chiếc đỉnh làm bằng
ngọc xanh xám sẫm
Một số hiện vật
đã khai quât được
Bên trong bảo tàng mĩ thuật
Hồ Tịnh Tâm
- Hồ Tịnh Tâm là một di tích cảnh quan
được kiến tạo dưới triều Nguyễn.
- Hồ nguyên là vết tích của đoạn sông
Kim Long chảy qua Huế. Đầu thời Gia
Long, triều đình cho cải tạo một số đoạn
sông và khơi dòng theo hướng khác để tạo
thành Ngự Hà và hồ Ký Tế. Hai bãi nổi
trong hồ này được dùng làm nơi xây dựng
kho chứa thuốc súng và diêm tiêu.
- Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), triều
Nguyễn đã huy động tới 8000 binh lính
tham gia vào việc cải tạo hồ.
- Năm 1838, vua Minh Mạng cho di d ời
hai kho sang phía đông, tái thiết nơi này
thành chốn tiêu dao, giải trí và gọi là hồ
Tịnh Tâm. Dưới thời vua Thiệu Trị đây
được xem là một trong 20 cảnh đẹp đất
Thần Kinh.
Đình Phú Xuân
• Đình Phú Xuân được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ XV.
• Là di tích lịch sử kiến trúc gắn với địa danh lịch sử Phú Xuân,
nơi chúa Nguyễn chọn đặt phủ chúa xứ Ðàng Trong.
• Là kinh đô Phú Xuân dưới thời vua Quang Trung và nhà
Nguyễn.
• Đình gồm có cổng Tam quan, bình phong, Đình họp và Đình tế.
Đình Phú Xuân
Tàng Thư Lâu
• Tàng thư lâu là được xây dựng năm 1825 trên hồ Học Hải trong kinh thành
Huế.
• Dùng làm nơi lưu các công văn cũ của cơ quan và lục bộ triều đình nhà
Nguyễn.
• Đây có thể coi là một Tàng Kinh Các của Việt Nam dưới triều Nguyễn
lưu trữ các tài liệu văn bản quý hiếm liên quan đến sinh hoạt của triều
đình và biến đổi của đất nước.
• Chỉ riêng số địa bạ thời Gia Long và Minh Mạng lưu trữ ở đây đã lên đến
12.000 tập.
• Có thể nói Tàng thư lâu rất quan trọng trong việc chứa các tài liệu và địa
bạ, giấy tờ quan trọng lúc bấy giờ.
Tàng Thư Lâu
Đàn Xã Tắc
• Đàn Xã Tắc được xây dưới thời vua Gia Long
vào tháng 4 năm 1806 để tế cúng thần đất (xã)
và thần ngũ cốc (tắc)
• Từ sau năm 1975 đến nay, Đàn hoàn toàn biến
mất và còn sót lại chỉ còn tấm biển "Thái Xã
Chi Thần".
Đàn Xã Tắc
Cửu Vị Thần Công
• Cửu vị thần công là tên gọi 9 khẩu thần công được
các nghệ nhân Huế đúc dưới thời vua Gia Long.
• Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, khi lên ngôi, vua Gia
Long liền cho các nghệ nhân đương thời tập trung
tất cả chiến lợi phẩm là binh khí và vật dụng bằng
đồng để đúc thành 9 khẩu thần công làm vật chứng
cho chiến thắng vẻ vang của mình.
• Công việc đúc chính thức từ năm 1803 và hoàn thành
vào năm 1804.
Tứ Khẩu Thần Công:
Xuân; Hạ;Thu; Đông
Viện Cơ Mật- Tam Toà
• Là cơ quan tư vấn của nhà vua.
• Gồm bốn vị đại thần từ Tam Phẩm trở lên, là Đại Học Sĩ của các điện
- Đông Các;
- Văn Minh;
- Võ Hiển;
- Cần Chánh.
• Viện lúc đầu đặt ở nhà Tả Vu. Sau khi kinh đô thất thủ năm 1885 phải dời đi đến nhà
của bộ Lễ, rồi bộ Binh, và cuối cùng là về chùa Giác Hoàng vùng với toà Giám Sát (của
người Pháp) và Trực Phòng các bộ nên gọi là Tam Toà.
• Hiện nay Tam Tòa nằm ở địa chỉ 23 Tống Duy Tân, thuộc phường Thuận Thành, ở góc
Đông-Nam bên trong kinh thành Huế, hiện là trụ sở của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô
Huế.
Viện Cơ Mật- Tam Toà
2. Hoàng thành Huế
• Hoàng Thành nằm bên trong Kinh Thành, có chức năng
bảo vệ các cung điện quan trọng nhất của triều đình,
các miếu thờ tổ tiên nhà Nguyễn và bảo vệ Tử Cấm
Thành - nơi dành riêng cho vua và Hoàng gia.
• Hoàng Thành và Tử Cấm Thành thường được gọi
chung là Đại Nội.
• Các di tích trong hoàng thành gồm: Ngọ Môn , Điện
Thái Hoà và sân Đại Triều Nghi , Triệu Tổ Miếu ,
Hưng Tổ Miếu, Thế Tổ Miếu, Thái Tổ Miếu, Cung
Diên Thọ. Cung Trường Sanh,Hiển Lâm Các, Cửu
Đỉnh,Điện Phụng Tiên.
Sơ đồ các công trình trong Hoàng
thành Huế
Ngọ Môn
• Ngọ Môn là cổng chính phía nam của Hoàng thành Huế
được xây dựng vào năm Minh Mạng 14 (1833).
• Ngọ Môn có nghĩa đen là Cổng giữa trưa hay Cổng xoay
về hướng Ngọ, là cổng lớn nhất trong 4 cổng chính của
Hoàng thành Huế.
• Về mặt từ nguyên, Ngọ Môn có nghĩa là chiếc cổng xoay
mặt về hướng Ngọ, cũng là hướng Nam, theo Dịch học
là hướng dành cho bậc vua Chúa.
NGỌ MÔN
Điện Thái Hòa
• Điện thái Hoà là cung điện nằm trong khu vực Đại Nội của
kinh thành Huế.
• Điện cùng với sân chầu là địa điểm được dùng cho các buổi
triều nghi quan trọng của triều đình như: lễ Đăng Quang, sinh
nhật vua, những buổi đón tiếp sứ thần chính thức và các buổi
đại triều được tổ chức 2 lần vào ngày mồng 1 và 15 âm lịch
hàng tháng.
• Trong chế độ phong kiến cung điện này được coi là trung tâm
của đất nước.
• Điện được xây dựng vào năm 1805 thời vua Gia Long. Năm
1833 khi vua Minh Mạng quy hoạch lại hệ thống kiến trúc
cung đình ở Đại Nội, trong đó có việc cho dời điện về mé nam
và làm lại đồ sộ và lộng lẫy hơn.
Điện Thái Hoà
Ngai vàng trong Điện Thái Hoà
Triệu Tổ Miếu
• Triệu Tổ miếu còn gọi là Triệu Miếu, được
xây dựng năm Gia Long thứ 3 (1804). Miếu này
nằm ở phía bắc của Thái Miếu trong hoàng
thành Huế, là miếu thờ Nguyễn Kim, thân
sinh của chúa Tiên Nguyễn Hoàng
Hưng Tổ Miếu
• Hưng Tổ Miếu còn gọi là Hưng Miếu là
ngôi miếu thờ cha mẹ vua Gia Long (ông
Nguyễn Phúc Luân (hay Nguyễn Phúc
Côn) và bà Nguyễn Thị Hoàn), vị trí ở tây
nam Hoàng thành Huế|hoàng thành (cách
Thế Miếu chừng 50 mét về phía Bắc).
Thế Tổ Miếu
Thường gọi là Thế Miếu tọa lạc
ở góc tây nam bên trong Hoàng
thành Huế, là nơi thờ các vị vua
triều. Đây là nơi triều đình đến
cúng tế các vị vua quá cố, nữ giới
trong triều (kể cả hoàng hậu)
không được đến tham dự các cuộc
lễ này.
Triệu Tổ Miếu
Hưng Tổ Miếu
Cung Diên Thọ
• Cung Diên Thọ tên ban đầu là cung Trường
Thọ, các tên khác là Từ Thọ, Gia Thọ, Ninh
Thọ;
• Được bắt đầu xây dựng năm 1803 để làm nơi
sinh hoạt của Hoàng Thái Hậu của triều
Nguyễn.
Thế Tổ Miếu
Cung Diên Thọ
Cung Trường Sanh
• Cung Trường Sanh hay Cung Trường
Sinh (còn có tên gọi khác là Cung
Trường Ninh), được xây dựng vào năm
Minh Mạng thứ nhất (1821)
• Ban đầu là hoa viên, nơi các vua triều
mời mẹ mình đến thăm thú ngoạn
cảnh. Về sau được chuyển thành nơi
ăn ở sinh hoạt của một số bà hoàng
thái hậu và thái hoàng thái hậu.
• Trong thời kỳ rực rỡ nhất, kiến trúc
cảnh quan của Cung Trường Sanh
được vua Thiệu Trị xếp vào hàng thứ
bảy của thắng cảnh đất Thân Kinh.
Hiển Lâm Các
• Hiển Lâm Các được xây dựng vào năm
1821 và hoàn thành vào năm 1822 thời
vua Minh Mạng nằm trong khu vực
miếu thờ trong hoàng thành Huế,
• Cao 17m và là công trình kiến trúc cao
nhất trong Hoàng Thành.
• Đây được xem là đài kỷ niệm ghi nhớ
công tích của các vua nhà Nguyễn và các
quan đại thần có công lớn của triều
đại.
Cửu Đỉnh
• Cửu Đỉnh là chín cái đỉnh bằng đồng đặt
ở trước Hiển Lâm Các đối diện với Thế
Miếu, phía tây nam Hoàng hành Huế.
• Tất cả đều được đúc ở Huế vào cuối năm
1835, hoàn thành vào đầu năm 1837.
• Mỗi đỉnh có một tên riêng ứng với một vị
hoàng đế của triều Nguyễn, chúng có
trọng lượng khác nhau và hình chạm khắc
bên ngoài đỉnh cũng khác nhau.
• 9 đỉnh đó là: Cao Đỉnh, Nhân Đỉnh,
Chương Đỉnh, Anh Đỉnh, Nghị Đỉnh,
Thuần Đỉnh, Tuyên Đỉnh, Dụ Đỉnh, và
Huyền Đỉnh
Cửu Đỉnh
Điện Phụng Tiên
• Điện Phụng Tiên nằm ở gần cửa
Chương Đức, phía trước Cung Diên
Thọ, cửa tây của Hoàng Thành được
vua Gia Long và vua Minh Mạng xây
dựng dùng để thờ cúng các vua triều
Nguyễn.
• Khác với Thế Miếu, điện này tuy
cũng thờ các vị vua và hoàng hậu nhà
Nguyễn nhưng nữ giới trong triều
được phép đến đây cúng tế.
• Ngoài ra, nó còn là nơi lưu trữ nhiều
bảo vật của nhiều đời vua nhà
Nguyễn.
• Tháng 2 năm 1947, toàn bộ điện bị
đốt cháy, hiện nay chỉ còn lại cửa Tam
Quan và vòng tường thành còn tương
đối nguyên vẹn
3. Tử Cấm Thành
• Tử Cấm Thành nguyên
gọi là Cung Thành là vòng
tường thành thứ 3 của
Kinh đô Huế, giới hạn
khu vực làm việc, ăn ở và
sinh hoạt của vua và
Hoàng gia.
Các di tích trong Tử cấm thành
gồm:
• Tả Vu và Hữu Vu
• Vạc đồng
• Điện Kiến Trung
• Điện Cần Chánh
• Thái Bình Lâu
Tả Vu và Hữu Vu
• Tả Vu và Hữu Vu là hai công trình
phối thuộc của Điện Cần Chánh
trong Tử Cấm Thành của Kinh
thành Huế. Tả Vu là toà nhà dành
cho các quan văn, còn Hữu Vu là
toà nhà dành cho các quan võ, nơi
tổ chức thi đình và yến tiệc.
• Tả Vu và Hữu Vu đều được xây
dựng vào đầu thế kỷ 19, và cải tạo
vào năm 1899. Hữu Vu được trùng
tu vào năm 1977, và Tả Vu vào
các năm 1986, 1987-1988
Tả Vu
Hưũ Vu
Vạc Đồng
Tại cố đô Huế hiện còn lưu
giữ và trưng bày 15 chiếc
vạc đồng là những tác
phẩm nghệ thuật thật sự,
thể hiện trình độ kỹ thuật
đúc và mỹ thuật tuyệt
vời. Trong số đó, 11 chiếc
được đúc từ thời các chúa
Nguyễn, còn 4 chiếc được
đúc vào thời Minh Mạng
Điện Kiến Trung
Điện Cần Chánh
Thái Bình Lâu
 







Các ý kiến mới nhất