PP ÔN TẬP KĨ NĂNG VIẾT DT BÀI 6 KNTT 8

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hương
Ngày gửi: 17h:19' 08-05-2024
Dung lượng: 710.2 KB
Số lượt tải: 87
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hương
Ngày gửi: 17h:19' 08-05-2024
Dung lượng: 710.2 KB
Số lượt tải: 87
Số lượt thích:
0 người
ÔN TẬP KĨ NĂNG VIẾT:
VIẾT BÀI VĂN PHÂN TÍCH
MỘT TÁC PHẨM (TRUYỆN)
PHẦN 1: ÔN TẬP LÝ THUYẾT
1. Khái niệm
Phân tích một tác phẩm truyện là làm sáng tỏ chủ đề và những nét đặc sắc về
nghệ thuật của tác phẩm được thể hiện qua những yếu tố cơ bản của thể loại truyện
như cốt truyện, nhân vật, cốt truyện,…
2. Yêu cầu của kiểu bài
- Giới thiệu tác phẩm truyện (nhan đề, tác giả) và nêu ý kiến khái quát về tác phẩm.
- Nêu ngắn gọn nội dung chính của tác phẩm.
- Nêu được chủ đề của tác phẩm.
- Chỉ ra và phân tích được tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của
tác phẩm (như cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôi kể, ngôn ngữ, …)
- Sử dụng các bằng chứng từ tác phẩm để làm sáng tỏ ý kiến nêu trong bài viết.
- Nêu được ý nghĩa, giá trị của tác phẩm.
3. Dàn ý chung
Mở - Giới thiệu khái quát ngắn gọn về tác giả và tác phẩm truyện.
bài - Nêu ý kiến khái quát về tác phẩm truyện.
++ Cách 1: Giới thiệu khái quát về tác giả (vị trí, đặc điểm sáng
tác – trong trường hợp là một giả mới lạ, dựa vào phần chú thích
để giới thiệu), về tác phẩm (vị trí của truyện ngắn trong sự
nghiệp sáng tác; ý kiến khái quát về tác phẩm truyện: Truyện viết
về đề tài gì? Nói lên chủ đề gì? Ấn tượng về đặc sắc nghệ thuật?)
++ Cách 2: Dẫn dắt một ý kiến lí luận bàn về truyện ngắn rồi
dẫn đến tác phẩm truyện cần phân tích, trích dẫn.
Thân
bài
- Ý 1: Nêu nội dung chính của tác phẩm: Truyện viết về nhân vật chính
nào? Xoay quanh những sự việc gì?
- Ý 2: Nêu chủ đề của tác phẩm:
+ Phân tích ý nghĩa của nhan đề;
+ Phân tích các nhân vật nhằm làm rõ chủ đề của truyện;
+ Khẳng định chủ đề của truyện.
(Lưu ý: Một tác phẩm truyện có thể có nhiều chủ đề khác nhau)
- Ý 3: Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức
nghệ thuật của tác phẩm: cốt truyện, ngôi kể, nghệ thuật xây dựng nhân
vật, lời kể, chi tiết tiêu biểu, hình ảnh biểu tượng.
Kết bài Kết bài: Khẳng định vị trí ý nghĩa của tác phẩm.
Bảng kiểm đánh giá kĩ năng viết bài văn phân tích một tác phẩm truyện
Tiêu chí
Đạt
Giới thiệu tác phẩm truyện (nhan đề, tác giả)
Nêu ý kiến khái quát về tác phẩm.
Nêu nội dung chính của tác phẩm.
Nêu chủ đề của tác phẩm.
Trích dẫn một số bằng chứng để làm sáng tỏ chủ đề tác
phẩm.
Chỉ ra và phân tích một số nét đặc sắc về hình thức
nghệ thuật của tác phẩm.
Trích dẫn một số bằng chứng để làm sáng tỏ đặc sắc vể
hình thức nghệ thuật của tác phẩm.
Chưa
đạt
KB
Kĩ năng, trình bày
diễn đạt
Khẳng định ý nghĩa, giá trị của tác
phẩm.
Sắp xếp các ý triển khai và dẫn chứng
hợp lí.
Bố cục chặt chẽ, trình bày mạch lạc.
Đảm bảo chính tả, dùng từ và diễn
đạt.
Sử dụng các từ ngữ, câu văn để liên
kết các ý.
PHIẾU CHỈNH SỬA BÀI VIẾT
Nội dung lỗi cần sửa
Sửa lỗi
Phát hiện lỗi về Thiếu ý
ý và trình tự
Sắp xếp lại ý lộn xộn
triển khai ý
Sửa lại các ý lạc đề
Sửa lại các ý tản mạn
Phát hiện sửa
lỗi diễn đạt
Lỗi dùng từ
Lỗi viết câu
Lỗi chính tả
Lỗi chính tả
II. THỰC HÀNH VIẾT
Đề số 01: Phân tích truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” (Nguyễn Thành
Long).
Gợi ý lập dàn ý
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả: Nguyễn Thành Long là cây bút chuyên viết truyện ngắn. Các tác
phẩm của ông gây ấn tượng với người đọc bởi lối viết nhẹ nhàng, giàu chất thơ,
giọng văn trong sáng.
- Giới thiệu và nêu ý kiến khái quát về tác phẩm: “Lặng lẽ Sa Pa” là thành quả nghệ
thuật đẹp đẽ của nhà văn sau chuyến đi thực tế Lào Cai năm 1970. Đây là một
truyện ngắn đầy chất thơ, lôi cuốn người đọc bởi vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên
và vẻ đẹp tâm hồn của những con người lao động lặng thầm nơi vùng cao Tây Bắc.
2. Thân bài:
2.1. Nêu ngắn gọn nội dung chính của tác phẩm:
Truyện xoay quanh cuộc gặp gỡ đầy bất ngờ giữa anh thanh niên làm
việc trong ngành khí tượng với một họa sĩ già và một kỹ sư trẻ đang đi
trên chuyến xe đi từ Hà Nội lên Lào Cai. Trong cuộc nói chuyện chỉ kéo
dài 30 phút, anh thanh niên đã kể cho những vị khách nghe về công việc
của mình và những người lao động khác nơi Sa Pa. Giữa thiên nhiên Sa Pa
thơ mộng, trữ tình là biết bao con người lao động thầm lặng đang ngày
đêm cống hiến cho sự nghiệp chung của đất nước.
2.2. Nêu chủ đề của tác phẩm:
- Ngay từ nhan đề Lặng lẽ Sa Pa đã gợi lên vẻ đẹp của Sa Pa, một vẻ đẹp yên bình,
êm đềm và rất thơ mộng, lặng lẽ mà không hề quanh hiu.
- Tuy nhiên nhà văn còn muốn nói đến vẻ đẹp “lặng lẽ” của những con người lao
động nơi đây. Các nhân vật không có tên riêng, gọi tên theo nghề nghiệp, dụng ý tác
giả muốn nói đến nhiều người với nhiều ngành nghề khác nhau ở Sapa ra sức lao
động cống hiến sức mình xây dựng quê hương đất nước. Tác giả còn muốn nói đến
thái độ cống hiến vô tư của con người trong hoàn cảnh đất nước còn khó khăn. Họ
không hề đòi hỏi quyền lợi cho bản thân mà tất cả vì ý thức trách nhiệm đối với tổ
quốc. Truyện đã khẳng định và ca ngợi vẻ đẹp của những con người lao động đang
lặng lẽ quên mình cống hiến cho Tổ quốc nơi núi rừng Sa Pa.
+ Qua câu chuyện với ông họa sĩ già và cô kĩ sư trẻ, người đọc thấy được
bao nét đẹp đáng yêu, đáng quý của người thanh niên. Đó là tinh thần
trách nhiệm với công việc, luôn yêu nghề, sống lạc quan, biết tìm niềm vui
trong cuộc sống. Anh rất cởi mở, chân thành và khiêm tốn.
+ Những người lao động khác nơi Sa Pa cũng đang thầm lặng cống hiến
từng ngày : ông kĩ sư vườn rau, anh kĩ sư nghiên cứu bản đồ sét.
+ Nhà văn Nguyễn Thành Long cũng bày tỏ những những trăn trở, suy
ngẫm về con người và nghệ thuật qua những cảm xúc, suy ngẫm của người
họa sĩ : mục đích của người làm nghệ thuật là tìm ra cái đẹp tiềm ẩn trong
cuộc sống, trong con người.
2.3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về
hình thức nghệ thuật của tác phẩm:
- Cốt truyện đơn giản, xoay quanh một tình huống đó là có cuộc
gặp gỡ bất ngờ giữa ông họa sĩ già,cô kĩ sư trẻ và một anh thanh
niên làm công tác khí tượng. Cuộc gặp gỡ chỉ diễn ra trong chốc
lát nhưng đã để lại một ấn tượng gợi nhiều suy nghĩ và dẫn
chúng ta tới những nhân vật mới: kĩ sư vườn rau, nhà nghiên cứu
sét.
- Xây dựng nhân vật chân dung, nhân vật được ghi lại được đánh
giá qua những cảm nhận trực tiếp nhưng không hề nhạt nhòa bởi
được khắc họa qua nhiều điểm nhìn và miêu tả tinh tế.
- Chất thơ của “Lặng lẽ Sa Pa” cũng phụ trợ đắc lực cho bài ca,
ca ngợi con người bình dị mà cao quý: trong tình huống trữ tình,
trong bức tranh thiên nhiên, trong lời đối thoại, nhưng quan
trọng nhất đó là những ý nghĩ, cảm xúc của người trong cuộc và
vẻ đẹp rất đỗi nên thơ, nên hoa, nên nhạc của lối sống mà nhân
vật chính gợi ra.
- Ngôn ngữ và giọng điệu:
+ Những câu văn dài kết hợp với hình ảnh đẹp, thơ mộng núi rừng Sa Pa.
+ Giọng văn nhẹ nhàng, êm dịu nhưng sâu lắng như bản nhạc ca ngợi vẻ
đẹp thiên nhiên và con người.
3. Kết bài: Khẳng định ý nghĩa, giá trị của tác phẩm.
Truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” (Nguyễn Thành Long) nói về những con
người bình thường, những nhịp sống bình thường. Nhưng đằng sau nhịp
điệu bình thường đó là những dư âm của cuộc sống. Nguyễn Thành Long
đã góp một tiếng nói nhỏ ca ngợi cuộc đời và tái hiện đầy đủ những nét
đẹp của những con người có năng lực, phẩm chất, nhiệt huyết và say mê
cách mạng trên mặt trận xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đề số 02: Phân tích truyện ngắn “Chiếc lá cuối cùng” (O. Hen-ry)
Gợi ý lập dàn ý
1. Mở bài
- Giới thiệu khái quát về tác giả: O Hen-ri là nhà văn nổi tiếng người Mĩ,
chuyên viết truyện ngắn. Truyện của ông thường nhẹ nhàng, mang tính
nhân đạo sâu sắc khi phần lớn tác phẩm của ông phản ánh cuộc sống bất
hạnh của tầng lớp dân nghèo. Nhiều truyện ngắn đã để lại ấn tượng khó
quên trong lòng người đọc, trong đó có truyện Chiếc lá cuối cùng.
- Chiếc lá cuối cùng là tác phẩm thể hiện niềm tin mãnh liệt vào sự sống,
khẳng định giá trị nhân văn cao cả.
2. Thân bài:
2.1. Nêu ngắn gọn nội dung chính của tác phẩm:
Xiu và Giôn-xi là hai nữ hoạ sĩ nghèo cùng nhau thuê và sống trong
một căn hộ giá rẻ. Vào mùa đông, Giôn-xi bị mắc chứng viêm phổi rất
nặng. Cô đếm ngược từng chiếc lá còn lại trên cây thường xuân ở bức
tường gạch phía trước mặt và tin rằng khi nào chiếc lá cuối cùng rụng thì
cô cũng ra đi. Biết được ý nghĩ đó của Giôn-xi, cụ Bơ-men đã âm thầm vẽ
chiếc lá thường xuân trong một đêm mưa tuyết khủng khiếp. Chiếc lá cuối
cùng đã không rụng khiến Giôn-xi lạc quan hơn và muốn được sống. Tuy
nhiên, cụ Bơ-men lại chết vì sưng phổi sau đêm vẽ chiếc lá cuối cùng ấy.
2.2. Nêu chủ đề của tác phẩm:
- Tác giả thể hiện tình yêu thương với những người nghèo khó và ca ngợi
tám lòng nhân hậu, cao thượng của họ:
+ Xiu là bạn cùng phòng với Giôn-xi, cũng là một họa sĩ nghèo, trong
những ngày bạn ốm, Xiu đã hết lòng thương yêu, chăm sóc: nấu cháo, lời
nói dịu dàng, cử chỉ ân cần dỗ dành Giôn-xi mong cho bạn lấy lại tinh
thần, bệnh tật sớm qua khỏi. Trong những ngày Giôn-xi ốm, điều cô lo sợ
nhất chính là mở tấm mành cửa lên và thấy chiếc là cuối cùng đã rụng
xuống. Vào đêm mưa gió, Xiu không thể ngủ được, cô lo sợ chiếc lá ngoài
kia đã bị mưa gió cuốn đi và người bạn Giôn-xi sẽ rời xa mình mãi mãi.
Bởi vậy, sáng hôm đó, khi nhận lệnh của Giôn-xi cô chán nản, tuyệt vọng, đầy lo lắng
kéo tấm mành lên. Và cô đã vui biết nhường nào khi chiếc lá vẫn còn đó, cô nấu cháo,
gọi bác sĩ đến khám bệnh cho Giôn-xi. Chính tình yêu thương, sự quan tâm chân thành
của Xiu đã phần nào tiếp thêm động lực sống cho Giôn-xi.
+ Cụ Bơ-men chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, nhưng tấm lòng, sự hi sinh
của cụ lại có ý nghĩa quan trọng nhất với Giôn-xi. Cụ Bơ-men là một họa sĩ già, đã
ngoài sáu mươi tuổi, kiếm sống bằng cách ngồi làm mẫu vẽ cho các họa sĩ trẻ. Hơn
bốn mươi năm trong nghề cụ chỉ có một khao khát tột cùng đó là vẽ được một kiệt tác.
Khi biết được tâm trạng chán chường, tuyệt vọng của Giôn-xi cụ hết sức lo lắng và tìm
cách cứu sống Giôn-xi. Tình yêu thương của cụ dành cho Giôn-xi thật sâu sắc và cao
thượng. Trong đêm tối mưa to gió lớn cụ đã không quản gió lạnh, không lo nghĩ cho
sức khỏe, tính mạng mình mà thức suốt đêm bí mật vẽ chiếc lá thường xuân cuối cùng
để cứu sống Giôn-xi. Người họa sĩ già ấy đã quên mình vì người khác – một sự hi sinh
thầm lặng, cao cả mà lớn lao.
- Truyện còn gửi gắm thông điệp về ý nghĩa của nghệ thuật chân chính: Nghệ thuật chỉ
có giá trị khi nó bắt rễ từ cuộc đời, tạo nên bởi tài năng và tấm lòng của người nghệ sĩ
và ra đời vì cuộc đời và con người. Chiếc lá cụ Bơ-men vẽ lên bức tường gạch đối diện
với cửa sổ căn gác nhỏ của Giôn-xi đúng là một kiệt tác vì trước hết trông nó giống y
như thật: Ở gần cuống lá còn giữ màu xanh sẫm, nhưng với rìa lá hình răng cưa đã
nhuốm màu vàng úa, chiếc lá vẫn dũng cảm treo bám vào cành cách mặt đất chừng hai
mươi bộ, khiến Giôn-xi tưởng đấy chính là chiếc lá cuối cùng. Quan trọng hơn cả là
chiếc lá do cụ Bơ-men vẽ đã đem lại sự sống cho Giôn-xi. Chiếc lá không phải chỉ
được vẽ bằng bút lông, bột màu, mà bằng cả tình cảm chân thành và lòng vị tha cùng
đức hy sinh cao cả của cụ Bơ-men. Người hoạ sĩ già đã quên cả tuổi tác lẫn sức khỏe
của mình để cố gắng nhen nhóm lại hi vọng sống trong lòng cô gái trẻ đáng thương.
2.3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức
nghệ thuật của tác phẩm:
- Nghệ thuật kể chuyện: Truyện được kể theo ngôi kể thứ ba với thủ pháp
giấu kín sự việc; sắp xếp tình tiết chặt chẽ, khéo lẽo. Đặc biệt là ở tình
huống truyện đảo ngược hai lần. Giôn -xi từ chỗ tuyệt vọng, không còn
niềm tin vào cuộc sống đến chỗ lấy lại niềm tin, khỏi bệnh và sống vui vẻ;
cụ Bơ-men từ chỗ khỏe mạnh đến chỗ mất đi một cách đột ngột. Kết thúc
bất ngờ, giàu ý nghĩa tạo dư âm sâu đậm trong lòng người đọc.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật cũng rất thành công. Ba nhân vật có cảnh
ngộ gần gũi, nhưng mỗi người đều có tính cách riêng.
- Xây dựng chi tiết mang tính biểu tượng: Hình tượng chiếc lá cuối cùng giàu tính
nhân văn cao cả: Chiếc lá được cụ Bơ-men vẽ bằng cả tấm lòng yêu thương, đức hi
sinh thầm lặng đã cứu sống Giôn-xi. Hình tượng chiếc lá cuối cùng là hiện thân của
sức mạnh nghệ thuật chân chính, lòng nhân ái giữa con người với con người.
3. Kết bài: Khẳng định ý nghĩa, giá trị của tác phẩm.
Truyện ngắn đầy kịch tính, chứa chan ý vị nhân văn cao cả của O Hen-ri đã đột
ngột kết thúc sau khi toàn bộ sự việc đã sáng tỏ. Những dư âm của nó như còn ngân
vang mãi, nâng thêm lên trong ta khát vọng sống có ích cho người, cho đời. Cụ Bơmen đã ra đi mãi mãi nhưng kệt tác chiếc lá cuối cùng cuối cùng cụ để lại sẽ mãi mãi
là bằng chứng của tấm lòng yêu thương con người. Bởi thế, Chiếc lá cuối cùng sẽ mãi
bất tử với thời gian.
Đề số 03: Phân tích truyện ngắn “Gió lạnh đầu mùa” (Thạch Lam) Ngữ văn 6 KNTTVCS
Gợi ý lập dàn ý
1. Mở bài
- Giới thiệu khái quát về Thạch Lam: Là nhà văn lãng mạn nhưng các
truyện giàu yếu tố hiện thực và thấm đượm tấm lòng nhân ái cùng niềm
xót thương cho những con người nhỏ bé, bất hạnh.
- Giới thiệu chung về truyện ngắn “Gió lạnh đầu mùa”: tác phẩm tiêu biểu
cho phong cách của Thạch Lam.
2. Thân bài
2.1. Nêu ngắn gọn nội dung chính của tác phẩm:
Truyện kể về hai chị em sinh ra trong một gia đình khá giá tên là Sơn và Lan, luôn
hòa đồng và gần gũi với những đứa trẻ trong xóm chợ nghèo. Vào mùa đông năm ấy,
khi tiết trời chuyển lạnh, hai chị em được mặc áo ấm ra chợ chơi thì bắt gặp hình ảnh
một cô bé hàng xóm tên Hiền đứng co ro với quần áo mỏng manh, rách tả tơi. Thấy
hoàn cảnh đáng thương, hai chị em đã hăm hở chạy về nhà lấy chiếc áo bông cũ của
người em gái đã mất đem tặng cho Hiên. Chỉ một hành động nhỏ ấy nhưng ta cũng
thấy được tấm lòng trắc ẩn của hai chị em Sơn. Khi vú già biết chuyện, hai chị em Sơn
và Lan lo bị mẹ đánh đòn nên đi tìm cái Hiên định đòi lại áo mà không gặp. Khi hai
chị em về đến nhà thì mẹ cái Hiên đã đem áo đến trả. Mẹ Sơn cho mẹ cái Hiên vay
năm hào về may áo cho con. Bà nhẹ nhàng, âu yếm ôm hai con vào lòng mà bảo: “Hai
con tôi quý quá, dám tự do lấy áo đem cho người ta, không sợ mẹ mắng ư?'.
2.2. Nêu chủ đề của tác phẩm:
Truyện đã để lại nhiều ấn tượng trong lòng độc giả bởi tất cả đều thấm thía từng
nỗi cơ cực của những đứa trẻ sinh ra trong hoàn cảnh nghèo khó, bất hạnh. Đặc biệt,
truyện ngắn ngợi ca tình yêu thương, tấm lòng nhân ái của con người.
- Đọc truyện ngắn “Gió lạnh đầu mùa”, người đọc không khỏi xót xa cho số
phận của những đứa trẻ nghèo khổ, bất hạnh nơi xóm chợ nghèo. Chị em Sơn là
con nhà trung lưu và được mẹ săn sóc cẩn thận. Cậu bé mặc áo dạ chỉ đỏ lẫn áo vệ
sinh, ngoài lại phủ cái áo dạ cánh thâm. Trang phục ấy với những đứa trẻ nhà nghèo
khó thực sự chỉ như một giấc mơ. Đối lập với cuộc sống sung túc, đủ đầy của chị em
Lan và Sơn là những đứa trẻ nơi xóm chợ. Khi gió lạnh đầu mùa thổi đến phố chợ,
trong khi hai chị em Lan và Sơn xúng xính với chiếc áo ấm thì mấy đứa trẻ con hàng
xóm vẫn phải mặc những manh áo mỏng thường ngày. Riêng bé Hiên còn tội nghiệp
hơn, em co ro vì rét bởi tấm áo rách nát, tả tơi. Cuộc sống của những em nhỏ nghèo
khổ, thiếu thốn thật ngây thơ và tội nghiệp. Chúng tỏ vẻ khao khát, thèm muốn tấm áo
như chị em Sơn, suy nghĩ non nớt ấy không khỏi khiến người đọc cảm thấy xót xa.
- Nhưng trên hết, nhà văn đã xua tan đi cái lạnh lẽo của những cơn
gió đầu mùa ấy bằng tình người ấm áp. Đó là thứ tình cảm trẻ thơ
trong trẻo, hồn nhiên mà chị em Lan và Sơn dành cho những đứa trẻ
nhà nghèo cùng xóm.
+ Cuộc sống của chị em Sơn và Lan đối lập hoàn toàn với mấy đứa
bạn nhỏ nghèo khổ, tuy vậy Thạch Lam rất nhân hậu khi viết về tình bạn
tuổi thơ, các bé ấy vẫn thân mật chơi đùa cùng chúng bạn chứ không kiêu
kỳ như những “cậu ấm, cô chiêu” khác.
+ Đặc biệt là tình huống khi nhìn thấy cái Hiên đứng “co ro” bên cột quán,
trong gió lạnh chỉ mặc có manh áo “rách tả tơi”, “hở cả lưng và tay”, Sơn đã
“động lòng thương” và chợt nhớ ra mẹ cái Hiên rất nghèo, nhớ đến em Duyên
ngày trước vẫn cùng chơi với Hiên ở vườn nhà. Hai chị em Sơn bàn nhau về nhà
lấy chiếc áo bông cũ đem cho Hiên. Chiếc áo chứa đựng biết bao tình người, thể
hiện tình cảm san sẻ của những đứa trẻ có một trái tim giàu tình yêu
thương.Tình cảm hồn nhiên, ngây thơ bắt nguồn từ sự đồng cảm ấy như thắp
sáng lên tia lửa ấm áp giữa cuộc sống u buồn, đem lại niềm hy vọng và thấm
đẫm tình người. Hành động cảm xúc ấy cũng mang đến cho cậu bé “sự ấm áp
vui vui”, chiếc áo bông cũ đối với Hiên lúc bấy giờ là vô giá, chứa đựng biết
bao tình cảm. Hành động tặng bé Hiên chiếc áo bông hoàn toàn xuất phát từ tình
cảm hồn hậu của con trẻ khi Sơn thấy mình được mặc áo ấm và mong muốn bạn
bè xung quanh cũng vậy. Tuy gió lạnh đầu mùa nhưng thế giới tuổi thơ lại được
sưởi ấm bằng tình người cao quý.
+ Một chi tiết khá chân thực là khi câu chuyện hai chị em tặng áo tới tai người vú già,
cả hai sợ bị mẹ mắng nên đã đi tìm cái Hiên để đòi lại nhưng không gặp. Hai chị em
Sơn nhận ra lỗi vì đã tự ý cho bạn đồ mà chưa xin phép mẹ. Chi tiết này miêu tả hết
sức chân thực, tự nhiên tâm lý non nớt của trẻ thơ, phản ánh đúng sự hồn nhiên, trong
sáng của thế giới trẻ thơ.
Như vậy, truyện ngắn của Thạch Lam luôn hướng hướng ngòi bút vào từng mảnh
đời nghèo khó để đồng cảm, cùng vui, cùng buồn với họ. Nhà văn đã phát hiện và ngợi
ca tấm lòng nhân ái tình yêu thương, sự chia sẻ giữa người với người, không hề phân
biệt giai cấp, khoảng cách giàu nghèo. Dù viết về cái nghèo, sự đói khổ nhưng văn
chương của Thạch Lam vẫn thật đẹp, luôn có những con người tuyệt vời xóa mờ đi
mọi khoảng cách, tạo nên tình thương giữa người với người, thắp lên ngọn lửa ấm áp
trong mùa đông lạnh giá.
2.3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật
của tác phẩm:
- Tác phẩm không có cốt truyện: “Gió lạnh đầu mùa” không có cốt truyện, chủ yếu đi
sâu miêu tả tinh tế những cảm xúc trong tâm hồn nhân vật Sơn: đó là cảm nhận về
không gian quanh mình vào một sáng đầu đông, cảm xúc về người em gái đã mất, lòng
trắc ẩn đối với những đứa trẻ xóm chợ nghèo,...
Không cần đến những xung đột gay cấn hay tình huống éo le, trang văn của Thạch
Lam vẫn nhẹ nhàng đi vào lòng bạn đọc bởi chất man mác, êm dịu mà đầy sâu sắc.
- Hình tượng nhân vật trẻ em trong văn Thạch Lam tuy có nhiều hoàn cảnh, cách cư xử
khác nhau nhưng lúc nào cũng thật đáng yêu, đáng mến cùng những cảm xúc quá đỗi
trong trẻo, non tơ.
- Ngôn ngữ kể chuyện mộc mạc, giản dị; ngôn ngữ đối thoại gần gũi, tự
nhiên, chân thực
- Giọng văn nhỏ nhẹ, điềm tĩnh.
- Xây dựng những chi tiết đặc sắc: "Sơn nhận thấy chúng ăn mặc không
khác ngày thường", "Sơn thấy động lòng thương ...", "Một ý nghĩ tốt bỗng
thoáng qua trong trí..."
=> Truyện ngắn có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, cho thấy tài năng
viết truyện ngắn và tấm lòng trân trọng, thương yêu con người của Thạch
Lam.
III. KẾT BÀI: Khẳng định lại vấn đề.
“Gió lạnh đầu mùa” là một câu chuyện nhẹ nhàng, nhưng lại
chan chứa tình yêu thương. Truyện đã đem đến những bài học vô
cùng quý giá cho mỗi người đọc. Hãy thử chọn đọc tác phẩm vào
những ngày cuối thu đầu đông, cảm nhận những cơn gió lạnh
vờn bên làn da nhưng trái tim mỗi người lại thấy ấm nồng bởi
tình yêu thương trong tác phẩm, giúp chúng ta thêm yêu cuộc
đời và niềm tin vào những giá trị sống tích cực.
Đề số 04: Phân tích truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao.
Văn bản truyện:
Lão Hạc thổi cái mồi rơm, châm đóm. Tôi đã thông điếu và bỏ
thuốc rồi. Tôi mời lão hút trước. Nhưng lão không nghe...
- Ông giáo hút trước đi.
Lão đưa đóm cho tôi...
- Tôi xin cụ...
Và tôi cầm lấy đóm, vo viên một điếu. Tôi rít một hơi xong, thông điếu
rồi mới đặt vào lòng lão. Lão bỏ thuốc, nhưng chưa hút vội. Lão cầm lấy
đóm, gạt tàn, và bảo:
- Có lẽ tôi bán con chó đấy, ông giáo ạ!
Lão đặt xe điếu, hút. Tôi vừa thở khói, vừa gà gà đôi mắt của người
say, nhìn lão, nhìn để làm ra vẻ chú ý đến câu nói của lão đó thôi. Thật ra
thì trong lòng tôi rất dửng dưng. Tôi nghe câu ấy đã nhàm rồi. Tôi lại biết
rằng: lão nói là nói để có đấy thôi; chẳng bao giờ lão bán đâu. Vả lại, có
bán thật nữa thì đã sao? Làm quái gì một con chó mà lão có vẻ băn khoăn
quá thế...[...]
Tôi nghĩ thầm trong bụng thế. Còn lão Hạc, lão nghĩ gì? Đột nhiên lão
bảo tôi:
- Này! Thằng cháu nhà tôi, đến một năm nay, chẳng có giấy má gì đấy,
ông giáo ạ!
À! Thì ra lão đang nghĩ đến thằng con lão. Nó đi cao su năm sáu năm
rồi. Hồi tôi mới về, nó đã hết một hạn công-ta. Lão Hạc, đem thư của nó
sang, mượn tôi xem. Nhưng nó xin đăng thêm một hạn nữa... Lão vội cắt
nghĩa cho tôi hiểu tại sao lão đang nói chuyện con chó, lại nhảy vọt sang
chuyện thằng con như vậy:
- Con chó là của cháu nó mua đấy chứ!... Nó mua về nuôi,
định để đến lúc cưới vợ thì giết thịt...
Ấy! Sự đời lại cứ thường như vậy đấy. Người ta đã định rồi
chẳng bao giờ người ta làm được. Hai đứa mê nhau lắm. Bố mẹ
đứa con gái biết vậy, nên cũng bằng lòng gả. Nhưng họ thách
nặng quá: nguyên tiền mặt phải một trăm đồng bạc, lại còn cau,
còn rượu... cả cưới nữa thì mất đến cứng hai trăm bạc. Lão Hạc
không lo được. Ý thằng con lão, thì nó muốn bán vườn, cố lo cho
bằng được. Nhưng lão không cho bán. Ai lại bán vườn đi mà lấy
vợ? Vả lại bán vườn đi, thì cưới vợ về, ở đâu?
Với lại, nói cho cùng nữa, nếu đằng nhà gái họ cứ khăng khăng đòi như
vậy, thì dẫu có bán vườn đi cũng không đủ cưới. Lão Hạc biết vậy đấy,
nhưng cũng không dám xẵng. Lão tìm lời lẽ giảng giải cho con trai hiểu.
Lão khuyên nó hãy dằn lòng bỏ đám này, để rồi gắng lại ít lâu, xem có
đám nào khác mà nhẹ tiền hơn sẽ liệu; chẳng lấy đứa này thì lấy đứa khác;
làng này đã chết hết con gái đâu mà sợ?... Lạy trời lạy đất! Nó cũng là
thằng khá, nó thấy bố nói thế thì nó thôi ngay, nó không đả động đến việc
cưới xin nữa. Nhưng nó có vẻ buồn. Và lão biết nó vẫn theo đuổi con kia
mãi. Lão thương con lắm. Nhưng biết làm sao được?... Tháng mười năm
ấy, con kia đi lấy chồng; nó lấy con trai một ông phó lý, nhà có của. Thằng
con lão sinh phẫn chí. Ngay mấy hôm sau, nó ra tỉnh đến sở mộ phu, đưa
thẻ, ký giấy xin đi làm đồn điền cao su...[...]
Lão Hạc ơi! Bây giờ thì tôi hiểu tại sao lão không muốn bán con chó
vàng của lão. Lão chỉ còn một mình nó để làm khuây. Vợ lão chết rồi. Con
lão đi bằn bặt. Già rồi mà ngày cũng như đêm, chỉ thui thủi một mình thì
ai mà chả phải buồn? Những lúc buồn, có con chó làm bạn thì cũng đỡ
buồn một chút. Lão gọi nó là cậu Vàng như một bà hiếm hoi gọi đứa con
cầu tự. Thỉnh thoảng không có việc gì làm, lão lại bắt rận cho nó hay đem
nó ra ao tắm. Lão cho nó ăn cơm trong một cái bát như một nhà giàu. Lão
ăn gì lão cũng chia cho nó cùng ăn. Những buổi tối, khi lão uống rượu, thì
nó ngồi ở dưới chân. Lão cứ nhắm vài miếng lại gắp cho nó một miếng
như người ta gắp thức ăn cho con trẻ. Rồi lão chửi yêu nó, lão nói với nó
như nói với một đứa cháu bé về bố nó.[...]
Sau khi thằng con đi, lão tự hỏi rằng: “Cái vườn là của con ta. Hồi còn
mồ ma mẹ nó, mẹ nó cố thắt lưng buộc bụng, dè sẻn mãi, mới để ra được
năm mươi đồng bạc tậu. Hồi ấy, mọi thức còn rẻ cả... Của mẹ nó tậu, thì
nó hưởng. Lớp trước nó đòi bán, ta không cho bán là ta có ý giữ cho nó,
chứ có phải giữ để ta ăn đâu? Nó không có tiền cưới vợ, phẫn chí bước ra
đi, thì đến lúc có tiền để lấy vợ, mới chịu về. Ta bòn vườn của nó, cũng
nên để ra cho nó; đến lúc nó về, nếu nó không đủ tiền cưới vợ thì ta thêm
vào với nó, nếu nó có đủ tiền cưới vợ, thì ta cho vợ chồng nó để có chút
vốn mà làm ăn...”. Lão tự bảo lão như thế, và lão làm đúng như thế. Lão
làm thuê kiếm ăn. Hoa lợi của khu vườn được bao nhiêu, lão để riêng ra.
Lão chắc mẩm thế nào đến lúc con lão về, lão cũng có được một trăm
đồng bạc...
Lão lắc đầu chán nản, bảo tôi:
- Ấy thế mà bây giờ hết nhẵn, ông giáo ạ! Tôi chỉ ốm có một trận đấy
thôi. Một trận đúng hai tháng, mười tám ngày, ông giáo ạ! Hai tháng mười
tám ngày đã không làm ra được một xu, lại còn thuốc, lại còn ăn... Ông
thử tính ra xem bao nhiêu tiền vào đấy?...
Sau trận ốm, lão yếu người đi ghê lắm. Những công việc nặng không
làm được nữa. Làng mất vé sợi, nghề vải đảnh phải bỏ. Đàn bà rỗi rãi
nhiều. Còn tí việc nhẹ nào, họ tranh nhau làm mất cả. Lão Hạc không có
việc. Rồi lại bão. Hoa mầu bị phá sạch sành sanh. Từ ngày bão đến nay,
vườn lão chưa có một tí gì bán. Gạo thì cứ kém mãi đi. Một lão với một
con chó mỗi ngày ba hào gạo, mà gia sự vẫn còn đói deo đói dắt...
- Thì ra cậu Vàng cậu ấy ăn khỏe hơn cả tôi ông giáo ạ. Mỗi ngày cậu
ấy ăn thế, bỏ rẻ cũng mất hào rưỡi, hai hào đấy. Cứ mãi thế này thì tôi lấy
tiền đâu mà nuôi được? Mà cho cậu ấy ăn ít thì cậu ấy gày đi, bán hụt tiền,
có phải hoài không? Bây giờ cậu ấy béo trùng trục, mua đắt, người ta cũng
thích...
Lão ngắt lại một chút, rồi tắc lưỡi:
- Thôi thì bán phắt đi! Đỡ được đồng nào, hay đồng ấy. Bây giờ tiêu
một xu cũng là tiêu vào tiền của cháu. Tiêu lắm chỉ chết nó. Tôi bây giờ có
làm gì được đâu?
Hôm sau lão Hạc sang nhà tôi. Vừa thấy tôi, lão báo ngay:
- Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ!
- Cụ bán rồi?
- Bán rồi? Họ vừa bắt xong.
Lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão
ầng ậng nước, tôi muốn ôm choàng lấy lão mà òa lên khóc. Bây giờ thì tôi
không xót năm quyển sách của tôi quá như trước nữa. Tôi chỉ ái ngại cho
lão Hạc. Tôi hỏi cho có chuyện:
- Thế nó cho bắt à?
Mặt lão đột nhiên co dúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho
nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém
của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc...
- Khốn nạn... Ông giáo ơi! Nó có biết gì đâu! Nó thấy tôi gọi về thì
chạy ngay về, vẫy đuôi mừng. Tôi cho nó ăn cơm. Nó đang ăn thì thằng
Mục nấp trong nhà, ngay đằng sau nó, tóm lấy hai cẳng sau nó dốc ngược
nó lên. Cứ thế là thằng Mục với thằng Xiên, hai thằng chúng nó chỉ loay
hoay một lúc đã trói chặt cả bốn chân nó lại. Bấy giờ cu cậu mới biết là cu
cậu chết! Này! Ông giáo ạ! Cái giống nó cũng khôn! Nó cứ làm in như nó
trách tôi; nó kêu ư ử, nhìn tôi như muốn bảo tôi rằng: “A! Lão già tệ lắm!
Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này?”. Thì ra tôi già
bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm
lừa nó!
Tôi an ủi lão:
- Cụ cứ tưởng thế đấy chứ nó chả hiểu đâu! Vả lại ai nuôi chó mà chả
bán hay giết thịt? Ta giết nó chính là hóa kiếp cho nó đấy, hóa kiếp để cho
nó làm kiếp khác.
Lão chua chát bảo:
- Ông giáo nói phải! Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hóa kiếp cho nó để
nó làm kiếp người, may ra có sung sướng hơn một chút... kiếp người như
kiếp tôi chẳng hạn!...
Tôi bùi ngùi nhìn lão bảo:
- Kiếp ai cũng thế thôi, cụ ạ! Cụ tưởng tôi sung sướng hơn chăng?
- Thế thì không biết nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm gì cho
thật sướng?
Lão cười và ho sòng sọc. Tôi nắm lấy cái vai gầy của lão, ôn tồn bảo:
- Chẳng kiếp gì sung sướng thật, nhưng có cái này là sung sướng: Bây
giờ cụ ngồi xuống phản này chơi, tôi đi luộc mấy củ khoai lang, nấu một
ấm nước chè tươi thật đặc; ông con mình ăn khoai, uống nước chè, rồi hút
thuốc lào... Thế là sướng.
- Vâng! Ông giáo dạy phải! Đối với chúng mình thì thế là sung sướng.
Lão nói xong lại cười đưa đà. Tiếng cười gượng nhưng nghe đã hiền
hậu lại. Tôi vui vẻ bảo:
- Thế là được, chứ gì? Vậy cụ ngồi xuống đây, tôi đi luộc khoai, nấu
nước.
- Nói đùa thế, chứ ông giáo cho để khi khác?...
- Việc gì còn phải chờ khi khác?... Không bao giờ nên hoãn sự sung
sướng lại. Cụ cứ ngồi xuống đây! Tôi làm nhanh lắm...
- Đã biết, nhưng tôi còn muốn nhờ ông một việc...
Mặt lão nghiêm trang lại...
- Việc gì thế, cụ?
- Ông giáo để tôi nói... Nó hơi dài dòng một tí.
- Vâng, cụ nói.
- Nó thế này, ông giáo ạ!
Và lão kể. Lão kể nhỏ nhẹ và dài dòng thật. Nhưng đại khái có thể rút
vào hai việc. Việc thứ nhất: Lão thì già, con đi vắng, vả lại nó cũng còn dại
lắm, nếu không có người trông nom cho thì khó mà giữ được vườn đất để
làm ăn ở làng này.
Tôi là người nhiều chữ nghĩa, nhiều lý luận, người ta kiêng nể, vậy lão
muốn nhờ tôi cho lão gửi ba sào vườn của thằng con lão, lão viết văn tự
nhượng cho tôi để không ai còn tơ tưởng dòm ngó đến; khi nào con lão về
thì nó sẽ nhận vườn làm, nhưng văn tự cứ để tên tôi cũng được, để thế để
tôi trông coi cho nó... Việc thứ hai: Lão già yếu lắm rồi, không biết sống
chết lúc nào: con không có nhà, lỡ chết không biết ai đứng ra lo cho được;
để phiền cho hàng xóm thì chết không nhắm mắt: lão còn được hăm nhăm
đồng bạc với năm đồng vừa bán chó là ba mươi đồng bạc, muốn gửi tôi để
lỡ có chết thì tôi đem ra, nói với hàng xóm giúp, gọi là của lão có tí chút,
còn bao nhiêu đành nhờ hàng xóm cả...
Tôi bật cười bảo lão:
- Sao cụ lo xa quá thế? Cụ còn khỏe lắm, chưa chết đâu mà sợ! Cụ cứ
để tiền ấy mà ăn, lúc chết hãy hay! Tội gì bây giờ nhịn đói mà tiền để lại?
- Không, ông giáo ạ! Ăn mãi hết đi thì đến lúc chết lấy gì mà lo liệu?
Đã đành rằng là thế, nhưng tôi bòn vườn của nó bao nhiêu, tiêu hết cả. Nó
vợ con chưa có. Ngộ nó không lấy gì lo được, lại bán vườn thì sao?... Tôi
cắn rơm, cắn cỏ tôi lạy ông giáo! Ông giáo có nghĩ cái tình tôi già nua tuổi
tác mà thương thì ông giáo cứ cho tôi gửi.
Thấy lão nằn nì mãi, tôi đành nhận vậy. Lúc lão ra về, tôi còn hỏi:
- Có đồng nào, cụ nhặt nhạnh đưa cho tôi cả thì cụ lấy gì mà ăn?
Lão cười nhạt bảo:
- Được ạ! Tôi đã liệu đâu vào đấy... Thế nào rồi cũng xong.
Luôn mấy hôm, tôi thấy lão Hạc chỉ ăn khoai. Rồi thì khoai cũng hết. Bắt đầu từ
đấy, lão chế tạo được món gì, ăn món ấy. Hôm thì lão ăn củ chuối, hôm thì lão ăn sung
luộc, hôm thì ăn rau má, với thỉnh thoảng một vài củ ráy, hay bữa trai, bữa ốc. Tôi nói
chuyện lão với vợ tôi. Thị gạt phắt đi:
- Cho lão chết! Ai bảo lão có tiền mà chịu khổ! Lão làm lão khổ chứ ai làm lão
khổ! Nhà mình sung sướng gì mà giúp lão? Chính con mình cũng đói...
Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu
họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi... toàn những
cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng
thương: không bao giờ ta thương... Vợ tôi không ác, nhưng thị khổ quá rồi.
Một người đau chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ
đến một cái gì khác đâu? Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ
gì đến ai được nữa. Cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng,
buồn đau ích kỷ che lấp mất. Tôi biết vậy, nên tôi chỉ buồn chứ không nỡ
giận. Tôi giấu giếm vợ tôi, thỉnh thoảng giúp ngấm ngầm lão Hạc. Nhưng
hình như lão cũng biết vợ tôi không ưng giúp lão. Lão từ chối tất cả những
cái gì tôi cho lão. Lão từ chối một cách gần n...
VIẾT BÀI VĂN PHÂN TÍCH
MỘT TÁC PHẨM (TRUYỆN)
PHẦN 1: ÔN TẬP LÝ THUYẾT
1. Khái niệm
Phân tích một tác phẩm truyện là làm sáng tỏ chủ đề và những nét đặc sắc về
nghệ thuật của tác phẩm được thể hiện qua những yếu tố cơ bản của thể loại truyện
như cốt truyện, nhân vật, cốt truyện,…
2. Yêu cầu của kiểu bài
- Giới thiệu tác phẩm truyện (nhan đề, tác giả) và nêu ý kiến khái quát về tác phẩm.
- Nêu ngắn gọn nội dung chính của tác phẩm.
- Nêu được chủ đề của tác phẩm.
- Chỉ ra và phân tích được tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của
tác phẩm (như cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôi kể, ngôn ngữ, …)
- Sử dụng các bằng chứng từ tác phẩm để làm sáng tỏ ý kiến nêu trong bài viết.
- Nêu được ý nghĩa, giá trị của tác phẩm.
3. Dàn ý chung
Mở - Giới thiệu khái quát ngắn gọn về tác giả và tác phẩm truyện.
bài - Nêu ý kiến khái quát về tác phẩm truyện.
++ Cách 1: Giới thiệu khái quát về tác giả (vị trí, đặc điểm sáng
tác – trong trường hợp là một giả mới lạ, dựa vào phần chú thích
để giới thiệu), về tác phẩm (vị trí của truyện ngắn trong sự
nghiệp sáng tác; ý kiến khái quát về tác phẩm truyện: Truyện viết
về đề tài gì? Nói lên chủ đề gì? Ấn tượng về đặc sắc nghệ thuật?)
++ Cách 2: Dẫn dắt một ý kiến lí luận bàn về truyện ngắn rồi
dẫn đến tác phẩm truyện cần phân tích, trích dẫn.
Thân
bài
- Ý 1: Nêu nội dung chính của tác phẩm: Truyện viết về nhân vật chính
nào? Xoay quanh những sự việc gì?
- Ý 2: Nêu chủ đề của tác phẩm:
+ Phân tích ý nghĩa của nhan đề;
+ Phân tích các nhân vật nhằm làm rõ chủ đề của truyện;
+ Khẳng định chủ đề của truyện.
(Lưu ý: Một tác phẩm truyện có thể có nhiều chủ đề khác nhau)
- Ý 3: Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức
nghệ thuật của tác phẩm: cốt truyện, ngôi kể, nghệ thuật xây dựng nhân
vật, lời kể, chi tiết tiêu biểu, hình ảnh biểu tượng.
Kết bài Kết bài: Khẳng định vị trí ý nghĩa của tác phẩm.
Bảng kiểm đánh giá kĩ năng viết bài văn phân tích một tác phẩm truyện
Tiêu chí
Đạt
Giới thiệu tác phẩm truyện (nhan đề, tác giả)
Nêu ý kiến khái quát về tác phẩm.
Nêu nội dung chính của tác phẩm.
Nêu chủ đề của tác phẩm.
Trích dẫn một số bằng chứng để làm sáng tỏ chủ đề tác
phẩm.
Chỉ ra và phân tích một số nét đặc sắc về hình thức
nghệ thuật của tác phẩm.
Trích dẫn một số bằng chứng để làm sáng tỏ đặc sắc vể
hình thức nghệ thuật của tác phẩm.
Chưa
đạt
KB
Kĩ năng, trình bày
diễn đạt
Khẳng định ý nghĩa, giá trị của tác
phẩm.
Sắp xếp các ý triển khai và dẫn chứng
hợp lí.
Bố cục chặt chẽ, trình bày mạch lạc.
Đảm bảo chính tả, dùng từ và diễn
đạt.
Sử dụng các từ ngữ, câu văn để liên
kết các ý.
PHIẾU CHỈNH SỬA BÀI VIẾT
Nội dung lỗi cần sửa
Sửa lỗi
Phát hiện lỗi về Thiếu ý
ý và trình tự
Sắp xếp lại ý lộn xộn
triển khai ý
Sửa lại các ý lạc đề
Sửa lại các ý tản mạn
Phát hiện sửa
lỗi diễn đạt
Lỗi dùng từ
Lỗi viết câu
Lỗi chính tả
Lỗi chính tả
II. THỰC HÀNH VIẾT
Đề số 01: Phân tích truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” (Nguyễn Thành
Long).
Gợi ý lập dàn ý
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả: Nguyễn Thành Long là cây bút chuyên viết truyện ngắn. Các tác
phẩm của ông gây ấn tượng với người đọc bởi lối viết nhẹ nhàng, giàu chất thơ,
giọng văn trong sáng.
- Giới thiệu và nêu ý kiến khái quát về tác phẩm: “Lặng lẽ Sa Pa” là thành quả nghệ
thuật đẹp đẽ của nhà văn sau chuyến đi thực tế Lào Cai năm 1970. Đây là một
truyện ngắn đầy chất thơ, lôi cuốn người đọc bởi vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên
và vẻ đẹp tâm hồn của những con người lao động lặng thầm nơi vùng cao Tây Bắc.
2. Thân bài:
2.1. Nêu ngắn gọn nội dung chính của tác phẩm:
Truyện xoay quanh cuộc gặp gỡ đầy bất ngờ giữa anh thanh niên làm
việc trong ngành khí tượng với một họa sĩ già và một kỹ sư trẻ đang đi
trên chuyến xe đi từ Hà Nội lên Lào Cai. Trong cuộc nói chuyện chỉ kéo
dài 30 phút, anh thanh niên đã kể cho những vị khách nghe về công việc
của mình và những người lao động khác nơi Sa Pa. Giữa thiên nhiên Sa Pa
thơ mộng, trữ tình là biết bao con người lao động thầm lặng đang ngày
đêm cống hiến cho sự nghiệp chung của đất nước.
2.2. Nêu chủ đề của tác phẩm:
- Ngay từ nhan đề Lặng lẽ Sa Pa đã gợi lên vẻ đẹp của Sa Pa, một vẻ đẹp yên bình,
êm đềm và rất thơ mộng, lặng lẽ mà không hề quanh hiu.
- Tuy nhiên nhà văn còn muốn nói đến vẻ đẹp “lặng lẽ” của những con người lao
động nơi đây. Các nhân vật không có tên riêng, gọi tên theo nghề nghiệp, dụng ý tác
giả muốn nói đến nhiều người với nhiều ngành nghề khác nhau ở Sapa ra sức lao
động cống hiến sức mình xây dựng quê hương đất nước. Tác giả còn muốn nói đến
thái độ cống hiến vô tư của con người trong hoàn cảnh đất nước còn khó khăn. Họ
không hề đòi hỏi quyền lợi cho bản thân mà tất cả vì ý thức trách nhiệm đối với tổ
quốc. Truyện đã khẳng định và ca ngợi vẻ đẹp của những con người lao động đang
lặng lẽ quên mình cống hiến cho Tổ quốc nơi núi rừng Sa Pa.
+ Qua câu chuyện với ông họa sĩ già và cô kĩ sư trẻ, người đọc thấy được
bao nét đẹp đáng yêu, đáng quý của người thanh niên. Đó là tinh thần
trách nhiệm với công việc, luôn yêu nghề, sống lạc quan, biết tìm niềm vui
trong cuộc sống. Anh rất cởi mở, chân thành và khiêm tốn.
+ Những người lao động khác nơi Sa Pa cũng đang thầm lặng cống hiến
từng ngày : ông kĩ sư vườn rau, anh kĩ sư nghiên cứu bản đồ sét.
+ Nhà văn Nguyễn Thành Long cũng bày tỏ những những trăn trở, suy
ngẫm về con người và nghệ thuật qua những cảm xúc, suy ngẫm của người
họa sĩ : mục đích của người làm nghệ thuật là tìm ra cái đẹp tiềm ẩn trong
cuộc sống, trong con người.
2.3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về
hình thức nghệ thuật của tác phẩm:
- Cốt truyện đơn giản, xoay quanh một tình huống đó là có cuộc
gặp gỡ bất ngờ giữa ông họa sĩ già,cô kĩ sư trẻ và một anh thanh
niên làm công tác khí tượng. Cuộc gặp gỡ chỉ diễn ra trong chốc
lát nhưng đã để lại một ấn tượng gợi nhiều suy nghĩ và dẫn
chúng ta tới những nhân vật mới: kĩ sư vườn rau, nhà nghiên cứu
sét.
- Xây dựng nhân vật chân dung, nhân vật được ghi lại được đánh
giá qua những cảm nhận trực tiếp nhưng không hề nhạt nhòa bởi
được khắc họa qua nhiều điểm nhìn và miêu tả tinh tế.
- Chất thơ của “Lặng lẽ Sa Pa” cũng phụ trợ đắc lực cho bài ca,
ca ngợi con người bình dị mà cao quý: trong tình huống trữ tình,
trong bức tranh thiên nhiên, trong lời đối thoại, nhưng quan
trọng nhất đó là những ý nghĩ, cảm xúc của người trong cuộc và
vẻ đẹp rất đỗi nên thơ, nên hoa, nên nhạc của lối sống mà nhân
vật chính gợi ra.
- Ngôn ngữ và giọng điệu:
+ Những câu văn dài kết hợp với hình ảnh đẹp, thơ mộng núi rừng Sa Pa.
+ Giọng văn nhẹ nhàng, êm dịu nhưng sâu lắng như bản nhạc ca ngợi vẻ
đẹp thiên nhiên và con người.
3. Kết bài: Khẳng định ý nghĩa, giá trị của tác phẩm.
Truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” (Nguyễn Thành Long) nói về những con
người bình thường, những nhịp sống bình thường. Nhưng đằng sau nhịp
điệu bình thường đó là những dư âm của cuộc sống. Nguyễn Thành Long
đã góp một tiếng nói nhỏ ca ngợi cuộc đời và tái hiện đầy đủ những nét
đẹp của những con người có năng lực, phẩm chất, nhiệt huyết và say mê
cách mạng trên mặt trận xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đề số 02: Phân tích truyện ngắn “Chiếc lá cuối cùng” (O. Hen-ry)
Gợi ý lập dàn ý
1. Mở bài
- Giới thiệu khái quát về tác giả: O Hen-ri là nhà văn nổi tiếng người Mĩ,
chuyên viết truyện ngắn. Truyện của ông thường nhẹ nhàng, mang tính
nhân đạo sâu sắc khi phần lớn tác phẩm của ông phản ánh cuộc sống bất
hạnh của tầng lớp dân nghèo. Nhiều truyện ngắn đã để lại ấn tượng khó
quên trong lòng người đọc, trong đó có truyện Chiếc lá cuối cùng.
- Chiếc lá cuối cùng là tác phẩm thể hiện niềm tin mãnh liệt vào sự sống,
khẳng định giá trị nhân văn cao cả.
2. Thân bài:
2.1. Nêu ngắn gọn nội dung chính của tác phẩm:
Xiu và Giôn-xi là hai nữ hoạ sĩ nghèo cùng nhau thuê và sống trong
một căn hộ giá rẻ. Vào mùa đông, Giôn-xi bị mắc chứng viêm phổi rất
nặng. Cô đếm ngược từng chiếc lá còn lại trên cây thường xuân ở bức
tường gạch phía trước mặt và tin rằng khi nào chiếc lá cuối cùng rụng thì
cô cũng ra đi. Biết được ý nghĩ đó của Giôn-xi, cụ Bơ-men đã âm thầm vẽ
chiếc lá thường xuân trong một đêm mưa tuyết khủng khiếp. Chiếc lá cuối
cùng đã không rụng khiến Giôn-xi lạc quan hơn và muốn được sống. Tuy
nhiên, cụ Bơ-men lại chết vì sưng phổi sau đêm vẽ chiếc lá cuối cùng ấy.
2.2. Nêu chủ đề của tác phẩm:
- Tác giả thể hiện tình yêu thương với những người nghèo khó và ca ngợi
tám lòng nhân hậu, cao thượng của họ:
+ Xiu là bạn cùng phòng với Giôn-xi, cũng là một họa sĩ nghèo, trong
những ngày bạn ốm, Xiu đã hết lòng thương yêu, chăm sóc: nấu cháo, lời
nói dịu dàng, cử chỉ ân cần dỗ dành Giôn-xi mong cho bạn lấy lại tinh
thần, bệnh tật sớm qua khỏi. Trong những ngày Giôn-xi ốm, điều cô lo sợ
nhất chính là mở tấm mành cửa lên và thấy chiếc là cuối cùng đã rụng
xuống. Vào đêm mưa gió, Xiu không thể ngủ được, cô lo sợ chiếc lá ngoài
kia đã bị mưa gió cuốn đi và người bạn Giôn-xi sẽ rời xa mình mãi mãi.
Bởi vậy, sáng hôm đó, khi nhận lệnh của Giôn-xi cô chán nản, tuyệt vọng, đầy lo lắng
kéo tấm mành lên. Và cô đã vui biết nhường nào khi chiếc lá vẫn còn đó, cô nấu cháo,
gọi bác sĩ đến khám bệnh cho Giôn-xi. Chính tình yêu thương, sự quan tâm chân thành
của Xiu đã phần nào tiếp thêm động lực sống cho Giôn-xi.
+ Cụ Bơ-men chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, nhưng tấm lòng, sự hi sinh
của cụ lại có ý nghĩa quan trọng nhất với Giôn-xi. Cụ Bơ-men là một họa sĩ già, đã
ngoài sáu mươi tuổi, kiếm sống bằng cách ngồi làm mẫu vẽ cho các họa sĩ trẻ. Hơn
bốn mươi năm trong nghề cụ chỉ có một khao khát tột cùng đó là vẽ được một kiệt tác.
Khi biết được tâm trạng chán chường, tuyệt vọng của Giôn-xi cụ hết sức lo lắng và tìm
cách cứu sống Giôn-xi. Tình yêu thương của cụ dành cho Giôn-xi thật sâu sắc và cao
thượng. Trong đêm tối mưa to gió lớn cụ đã không quản gió lạnh, không lo nghĩ cho
sức khỏe, tính mạng mình mà thức suốt đêm bí mật vẽ chiếc lá thường xuân cuối cùng
để cứu sống Giôn-xi. Người họa sĩ già ấy đã quên mình vì người khác – một sự hi sinh
thầm lặng, cao cả mà lớn lao.
- Truyện còn gửi gắm thông điệp về ý nghĩa của nghệ thuật chân chính: Nghệ thuật chỉ
có giá trị khi nó bắt rễ từ cuộc đời, tạo nên bởi tài năng và tấm lòng của người nghệ sĩ
và ra đời vì cuộc đời và con người. Chiếc lá cụ Bơ-men vẽ lên bức tường gạch đối diện
với cửa sổ căn gác nhỏ của Giôn-xi đúng là một kiệt tác vì trước hết trông nó giống y
như thật: Ở gần cuống lá còn giữ màu xanh sẫm, nhưng với rìa lá hình răng cưa đã
nhuốm màu vàng úa, chiếc lá vẫn dũng cảm treo bám vào cành cách mặt đất chừng hai
mươi bộ, khiến Giôn-xi tưởng đấy chính là chiếc lá cuối cùng. Quan trọng hơn cả là
chiếc lá do cụ Bơ-men vẽ đã đem lại sự sống cho Giôn-xi. Chiếc lá không phải chỉ
được vẽ bằng bút lông, bột màu, mà bằng cả tình cảm chân thành và lòng vị tha cùng
đức hy sinh cao cả của cụ Bơ-men. Người hoạ sĩ già đã quên cả tuổi tác lẫn sức khỏe
của mình để cố gắng nhen nhóm lại hi vọng sống trong lòng cô gái trẻ đáng thương.
2.3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức
nghệ thuật của tác phẩm:
- Nghệ thuật kể chuyện: Truyện được kể theo ngôi kể thứ ba với thủ pháp
giấu kín sự việc; sắp xếp tình tiết chặt chẽ, khéo lẽo. Đặc biệt là ở tình
huống truyện đảo ngược hai lần. Giôn -xi từ chỗ tuyệt vọng, không còn
niềm tin vào cuộc sống đến chỗ lấy lại niềm tin, khỏi bệnh và sống vui vẻ;
cụ Bơ-men từ chỗ khỏe mạnh đến chỗ mất đi một cách đột ngột. Kết thúc
bất ngờ, giàu ý nghĩa tạo dư âm sâu đậm trong lòng người đọc.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật cũng rất thành công. Ba nhân vật có cảnh
ngộ gần gũi, nhưng mỗi người đều có tính cách riêng.
- Xây dựng chi tiết mang tính biểu tượng: Hình tượng chiếc lá cuối cùng giàu tính
nhân văn cao cả: Chiếc lá được cụ Bơ-men vẽ bằng cả tấm lòng yêu thương, đức hi
sinh thầm lặng đã cứu sống Giôn-xi. Hình tượng chiếc lá cuối cùng là hiện thân của
sức mạnh nghệ thuật chân chính, lòng nhân ái giữa con người với con người.
3. Kết bài: Khẳng định ý nghĩa, giá trị của tác phẩm.
Truyện ngắn đầy kịch tính, chứa chan ý vị nhân văn cao cả của O Hen-ri đã đột
ngột kết thúc sau khi toàn bộ sự việc đã sáng tỏ. Những dư âm của nó như còn ngân
vang mãi, nâng thêm lên trong ta khát vọng sống có ích cho người, cho đời. Cụ Bơmen đã ra đi mãi mãi nhưng kệt tác chiếc lá cuối cùng cuối cùng cụ để lại sẽ mãi mãi
là bằng chứng của tấm lòng yêu thương con người. Bởi thế, Chiếc lá cuối cùng sẽ mãi
bất tử với thời gian.
Đề số 03: Phân tích truyện ngắn “Gió lạnh đầu mùa” (Thạch Lam) Ngữ văn 6 KNTTVCS
Gợi ý lập dàn ý
1. Mở bài
- Giới thiệu khái quát về Thạch Lam: Là nhà văn lãng mạn nhưng các
truyện giàu yếu tố hiện thực và thấm đượm tấm lòng nhân ái cùng niềm
xót thương cho những con người nhỏ bé, bất hạnh.
- Giới thiệu chung về truyện ngắn “Gió lạnh đầu mùa”: tác phẩm tiêu biểu
cho phong cách của Thạch Lam.
2. Thân bài
2.1. Nêu ngắn gọn nội dung chính của tác phẩm:
Truyện kể về hai chị em sinh ra trong một gia đình khá giá tên là Sơn và Lan, luôn
hòa đồng và gần gũi với những đứa trẻ trong xóm chợ nghèo. Vào mùa đông năm ấy,
khi tiết trời chuyển lạnh, hai chị em được mặc áo ấm ra chợ chơi thì bắt gặp hình ảnh
một cô bé hàng xóm tên Hiền đứng co ro với quần áo mỏng manh, rách tả tơi. Thấy
hoàn cảnh đáng thương, hai chị em đã hăm hở chạy về nhà lấy chiếc áo bông cũ của
người em gái đã mất đem tặng cho Hiên. Chỉ một hành động nhỏ ấy nhưng ta cũng
thấy được tấm lòng trắc ẩn của hai chị em Sơn. Khi vú già biết chuyện, hai chị em Sơn
và Lan lo bị mẹ đánh đòn nên đi tìm cái Hiên định đòi lại áo mà không gặp. Khi hai
chị em về đến nhà thì mẹ cái Hiên đã đem áo đến trả. Mẹ Sơn cho mẹ cái Hiên vay
năm hào về may áo cho con. Bà nhẹ nhàng, âu yếm ôm hai con vào lòng mà bảo: “Hai
con tôi quý quá, dám tự do lấy áo đem cho người ta, không sợ mẹ mắng ư?'.
2.2. Nêu chủ đề của tác phẩm:
Truyện đã để lại nhiều ấn tượng trong lòng độc giả bởi tất cả đều thấm thía từng
nỗi cơ cực của những đứa trẻ sinh ra trong hoàn cảnh nghèo khó, bất hạnh. Đặc biệt,
truyện ngắn ngợi ca tình yêu thương, tấm lòng nhân ái của con người.
- Đọc truyện ngắn “Gió lạnh đầu mùa”, người đọc không khỏi xót xa cho số
phận của những đứa trẻ nghèo khổ, bất hạnh nơi xóm chợ nghèo. Chị em Sơn là
con nhà trung lưu và được mẹ săn sóc cẩn thận. Cậu bé mặc áo dạ chỉ đỏ lẫn áo vệ
sinh, ngoài lại phủ cái áo dạ cánh thâm. Trang phục ấy với những đứa trẻ nhà nghèo
khó thực sự chỉ như một giấc mơ. Đối lập với cuộc sống sung túc, đủ đầy của chị em
Lan và Sơn là những đứa trẻ nơi xóm chợ. Khi gió lạnh đầu mùa thổi đến phố chợ,
trong khi hai chị em Lan và Sơn xúng xính với chiếc áo ấm thì mấy đứa trẻ con hàng
xóm vẫn phải mặc những manh áo mỏng thường ngày. Riêng bé Hiên còn tội nghiệp
hơn, em co ro vì rét bởi tấm áo rách nát, tả tơi. Cuộc sống của những em nhỏ nghèo
khổ, thiếu thốn thật ngây thơ và tội nghiệp. Chúng tỏ vẻ khao khát, thèm muốn tấm áo
như chị em Sơn, suy nghĩ non nớt ấy không khỏi khiến người đọc cảm thấy xót xa.
- Nhưng trên hết, nhà văn đã xua tan đi cái lạnh lẽo của những cơn
gió đầu mùa ấy bằng tình người ấm áp. Đó là thứ tình cảm trẻ thơ
trong trẻo, hồn nhiên mà chị em Lan và Sơn dành cho những đứa trẻ
nhà nghèo cùng xóm.
+ Cuộc sống của chị em Sơn và Lan đối lập hoàn toàn với mấy đứa
bạn nhỏ nghèo khổ, tuy vậy Thạch Lam rất nhân hậu khi viết về tình bạn
tuổi thơ, các bé ấy vẫn thân mật chơi đùa cùng chúng bạn chứ không kiêu
kỳ như những “cậu ấm, cô chiêu” khác.
+ Đặc biệt là tình huống khi nhìn thấy cái Hiên đứng “co ro” bên cột quán,
trong gió lạnh chỉ mặc có manh áo “rách tả tơi”, “hở cả lưng và tay”, Sơn đã
“động lòng thương” và chợt nhớ ra mẹ cái Hiên rất nghèo, nhớ đến em Duyên
ngày trước vẫn cùng chơi với Hiên ở vườn nhà. Hai chị em Sơn bàn nhau về nhà
lấy chiếc áo bông cũ đem cho Hiên. Chiếc áo chứa đựng biết bao tình người, thể
hiện tình cảm san sẻ của những đứa trẻ có một trái tim giàu tình yêu
thương.Tình cảm hồn nhiên, ngây thơ bắt nguồn từ sự đồng cảm ấy như thắp
sáng lên tia lửa ấm áp giữa cuộc sống u buồn, đem lại niềm hy vọng và thấm
đẫm tình người. Hành động cảm xúc ấy cũng mang đến cho cậu bé “sự ấm áp
vui vui”, chiếc áo bông cũ đối với Hiên lúc bấy giờ là vô giá, chứa đựng biết
bao tình cảm. Hành động tặng bé Hiên chiếc áo bông hoàn toàn xuất phát từ tình
cảm hồn hậu của con trẻ khi Sơn thấy mình được mặc áo ấm và mong muốn bạn
bè xung quanh cũng vậy. Tuy gió lạnh đầu mùa nhưng thế giới tuổi thơ lại được
sưởi ấm bằng tình người cao quý.
+ Một chi tiết khá chân thực là khi câu chuyện hai chị em tặng áo tới tai người vú già,
cả hai sợ bị mẹ mắng nên đã đi tìm cái Hiên để đòi lại nhưng không gặp. Hai chị em
Sơn nhận ra lỗi vì đã tự ý cho bạn đồ mà chưa xin phép mẹ. Chi tiết này miêu tả hết
sức chân thực, tự nhiên tâm lý non nớt của trẻ thơ, phản ánh đúng sự hồn nhiên, trong
sáng của thế giới trẻ thơ.
Như vậy, truyện ngắn của Thạch Lam luôn hướng hướng ngòi bút vào từng mảnh
đời nghèo khó để đồng cảm, cùng vui, cùng buồn với họ. Nhà văn đã phát hiện và ngợi
ca tấm lòng nhân ái tình yêu thương, sự chia sẻ giữa người với người, không hề phân
biệt giai cấp, khoảng cách giàu nghèo. Dù viết về cái nghèo, sự đói khổ nhưng văn
chương của Thạch Lam vẫn thật đẹp, luôn có những con người tuyệt vời xóa mờ đi
mọi khoảng cách, tạo nên tình thương giữa người với người, thắp lên ngọn lửa ấm áp
trong mùa đông lạnh giá.
2.3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật
của tác phẩm:
- Tác phẩm không có cốt truyện: “Gió lạnh đầu mùa” không có cốt truyện, chủ yếu đi
sâu miêu tả tinh tế những cảm xúc trong tâm hồn nhân vật Sơn: đó là cảm nhận về
không gian quanh mình vào một sáng đầu đông, cảm xúc về người em gái đã mất, lòng
trắc ẩn đối với những đứa trẻ xóm chợ nghèo,...
Không cần đến những xung đột gay cấn hay tình huống éo le, trang văn của Thạch
Lam vẫn nhẹ nhàng đi vào lòng bạn đọc bởi chất man mác, êm dịu mà đầy sâu sắc.
- Hình tượng nhân vật trẻ em trong văn Thạch Lam tuy có nhiều hoàn cảnh, cách cư xử
khác nhau nhưng lúc nào cũng thật đáng yêu, đáng mến cùng những cảm xúc quá đỗi
trong trẻo, non tơ.
- Ngôn ngữ kể chuyện mộc mạc, giản dị; ngôn ngữ đối thoại gần gũi, tự
nhiên, chân thực
- Giọng văn nhỏ nhẹ, điềm tĩnh.
- Xây dựng những chi tiết đặc sắc: "Sơn nhận thấy chúng ăn mặc không
khác ngày thường", "Sơn thấy động lòng thương ...", "Một ý nghĩ tốt bỗng
thoáng qua trong trí..."
=> Truyện ngắn có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, cho thấy tài năng
viết truyện ngắn và tấm lòng trân trọng, thương yêu con người của Thạch
Lam.
III. KẾT BÀI: Khẳng định lại vấn đề.
“Gió lạnh đầu mùa” là một câu chuyện nhẹ nhàng, nhưng lại
chan chứa tình yêu thương. Truyện đã đem đến những bài học vô
cùng quý giá cho mỗi người đọc. Hãy thử chọn đọc tác phẩm vào
những ngày cuối thu đầu đông, cảm nhận những cơn gió lạnh
vờn bên làn da nhưng trái tim mỗi người lại thấy ấm nồng bởi
tình yêu thương trong tác phẩm, giúp chúng ta thêm yêu cuộc
đời và niềm tin vào những giá trị sống tích cực.
Đề số 04: Phân tích truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao.
Văn bản truyện:
Lão Hạc thổi cái mồi rơm, châm đóm. Tôi đã thông điếu và bỏ
thuốc rồi. Tôi mời lão hút trước. Nhưng lão không nghe...
- Ông giáo hút trước đi.
Lão đưa đóm cho tôi...
- Tôi xin cụ...
Và tôi cầm lấy đóm, vo viên một điếu. Tôi rít một hơi xong, thông điếu
rồi mới đặt vào lòng lão. Lão bỏ thuốc, nhưng chưa hút vội. Lão cầm lấy
đóm, gạt tàn, và bảo:
- Có lẽ tôi bán con chó đấy, ông giáo ạ!
Lão đặt xe điếu, hút. Tôi vừa thở khói, vừa gà gà đôi mắt của người
say, nhìn lão, nhìn để làm ra vẻ chú ý đến câu nói của lão đó thôi. Thật ra
thì trong lòng tôi rất dửng dưng. Tôi nghe câu ấy đã nhàm rồi. Tôi lại biết
rằng: lão nói là nói để có đấy thôi; chẳng bao giờ lão bán đâu. Vả lại, có
bán thật nữa thì đã sao? Làm quái gì một con chó mà lão có vẻ băn khoăn
quá thế...[...]
Tôi nghĩ thầm trong bụng thế. Còn lão Hạc, lão nghĩ gì? Đột nhiên lão
bảo tôi:
- Này! Thằng cháu nhà tôi, đến một năm nay, chẳng có giấy má gì đấy,
ông giáo ạ!
À! Thì ra lão đang nghĩ đến thằng con lão. Nó đi cao su năm sáu năm
rồi. Hồi tôi mới về, nó đã hết một hạn công-ta. Lão Hạc, đem thư của nó
sang, mượn tôi xem. Nhưng nó xin đăng thêm một hạn nữa... Lão vội cắt
nghĩa cho tôi hiểu tại sao lão đang nói chuyện con chó, lại nhảy vọt sang
chuyện thằng con như vậy:
- Con chó là của cháu nó mua đấy chứ!... Nó mua về nuôi,
định để đến lúc cưới vợ thì giết thịt...
Ấy! Sự đời lại cứ thường như vậy đấy. Người ta đã định rồi
chẳng bao giờ người ta làm được. Hai đứa mê nhau lắm. Bố mẹ
đứa con gái biết vậy, nên cũng bằng lòng gả. Nhưng họ thách
nặng quá: nguyên tiền mặt phải một trăm đồng bạc, lại còn cau,
còn rượu... cả cưới nữa thì mất đến cứng hai trăm bạc. Lão Hạc
không lo được. Ý thằng con lão, thì nó muốn bán vườn, cố lo cho
bằng được. Nhưng lão không cho bán. Ai lại bán vườn đi mà lấy
vợ? Vả lại bán vườn đi, thì cưới vợ về, ở đâu?
Với lại, nói cho cùng nữa, nếu đằng nhà gái họ cứ khăng khăng đòi như
vậy, thì dẫu có bán vườn đi cũng không đủ cưới. Lão Hạc biết vậy đấy,
nhưng cũng không dám xẵng. Lão tìm lời lẽ giảng giải cho con trai hiểu.
Lão khuyên nó hãy dằn lòng bỏ đám này, để rồi gắng lại ít lâu, xem có
đám nào khác mà nhẹ tiền hơn sẽ liệu; chẳng lấy đứa này thì lấy đứa khác;
làng này đã chết hết con gái đâu mà sợ?... Lạy trời lạy đất! Nó cũng là
thằng khá, nó thấy bố nói thế thì nó thôi ngay, nó không đả động đến việc
cưới xin nữa. Nhưng nó có vẻ buồn. Và lão biết nó vẫn theo đuổi con kia
mãi. Lão thương con lắm. Nhưng biết làm sao được?... Tháng mười năm
ấy, con kia đi lấy chồng; nó lấy con trai một ông phó lý, nhà có của. Thằng
con lão sinh phẫn chí. Ngay mấy hôm sau, nó ra tỉnh đến sở mộ phu, đưa
thẻ, ký giấy xin đi làm đồn điền cao su...[...]
Lão Hạc ơi! Bây giờ thì tôi hiểu tại sao lão không muốn bán con chó
vàng của lão. Lão chỉ còn một mình nó để làm khuây. Vợ lão chết rồi. Con
lão đi bằn bặt. Già rồi mà ngày cũng như đêm, chỉ thui thủi một mình thì
ai mà chả phải buồn? Những lúc buồn, có con chó làm bạn thì cũng đỡ
buồn một chút. Lão gọi nó là cậu Vàng như một bà hiếm hoi gọi đứa con
cầu tự. Thỉnh thoảng không có việc gì làm, lão lại bắt rận cho nó hay đem
nó ra ao tắm. Lão cho nó ăn cơm trong một cái bát như một nhà giàu. Lão
ăn gì lão cũng chia cho nó cùng ăn. Những buổi tối, khi lão uống rượu, thì
nó ngồi ở dưới chân. Lão cứ nhắm vài miếng lại gắp cho nó một miếng
như người ta gắp thức ăn cho con trẻ. Rồi lão chửi yêu nó, lão nói với nó
như nói với một đứa cháu bé về bố nó.[...]
Sau khi thằng con đi, lão tự hỏi rằng: “Cái vườn là của con ta. Hồi còn
mồ ma mẹ nó, mẹ nó cố thắt lưng buộc bụng, dè sẻn mãi, mới để ra được
năm mươi đồng bạc tậu. Hồi ấy, mọi thức còn rẻ cả... Của mẹ nó tậu, thì
nó hưởng. Lớp trước nó đòi bán, ta không cho bán là ta có ý giữ cho nó,
chứ có phải giữ để ta ăn đâu? Nó không có tiền cưới vợ, phẫn chí bước ra
đi, thì đến lúc có tiền để lấy vợ, mới chịu về. Ta bòn vườn của nó, cũng
nên để ra cho nó; đến lúc nó về, nếu nó không đủ tiền cưới vợ thì ta thêm
vào với nó, nếu nó có đủ tiền cưới vợ, thì ta cho vợ chồng nó để có chút
vốn mà làm ăn...”. Lão tự bảo lão như thế, và lão làm đúng như thế. Lão
làm thuê kiếm ăn. Hoa lợi của khu vườn được bao nhiêu, lão để riêng ra.
Lão chắc mẩm thế nào đến lúc con lão về, lão cũng có được một trăm
đồng bạc...
Lão lắc đầu chán nản, bảo tôi:
- Ấy thế mà bây giờ hết nhẵn, ông giáo ạ! Tôi chỉ ốm có một trận đấy
thôi. Một trận đúng hai tháng, mười tám ngày, ông giáo ạ! Hai tháng mười
tám ngày đã không làm ra được một xu, lại còn thuốc, lại còn ăn... Ông
thử tính ra xem bao nhiêu tiền vào đấy?...
Sau trận ốm, lão yếu người đi ghê lắm. Những công việc nặng không
làm được nữa. Làng mất vé sợi, nghề vải đảnh phải bỏ. Đàn bà rỗi rãi
nhiều. Còn tí việc nhẹ nào, họ tranh nhau làm mất cả. Lão Hạc không có
việc. Rồi lại bão. Hoa mầu bị phá sạch sành sanh. Từ ngày bão đến nay,
vườn lão chưa có một tí gì bán. Gạo thì cứ kém mãi đi. Một lão với một
con chó mỗi ngày ba hào gạo, mà gia sự vẫn còn đói deo đói dắt...
- Thì ra cậu Vàng cậu ấy ăn khỏe hơn cả tôi ông giáo ạ. Mỗi ngày cậu
ấy ăn thế, bỏ rẻ cũng mất hào rưỡi, hai hào đấy. Cứ mãi thế này thì tôi lấy
tiền đâu mà nuôi được? Mà cho cậu ấy ăn ít thì cậu ấy gày đi, bán hụt tiền,
có phải hoài không? Bây giờ cậu ấy béo trùng trục, mua đắt, người ta cũng
thích...
Lão ngắt lại một chút, rồi tắc lưỡi:
- Thôi thì bán phắt đi! Đỡ được đồng nào, hay đồng ấy. Bây giờ tiêu
một xu cũng là tiêu vào tiền của cháu. Tiêu lắm chỉ chết nó. Tôi bây giờ có
làm gì được đâu?
Hôm sau lão Hạc sang nhà tôi. Vừa thấy tôi, lão báo ngay:
- Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ!
- Cụ bán rồi?
- Bán rồi? Họ vừa bắt xong.
Lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão
ầng ậng nước, tôi muốn ôm choàng lấy lão mà òa lên khóc. Bây giờ thì tôi
không xót năm quyển sách của tôi quá như trước nữa. Tôi chỉ ái ngại cho
lão Hạc. Tôi hỏi cho có chuyện:
- Thế nó cho bắt à?
Mặt lão đột nhiên co dúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho
nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém
của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc...
- Khốn nạn... Ông giáo ơi! Nó có biết gì đâu! Nó thấy tôi gọi về thì
chạy ngay về, vẫy đuôi mừng. Tôi cho nó ăn cơm. Nó đang ăn thì thằng
Mục nấp trong nhà, ngay đằng sau nó, tóm lấy hai cẳng sau nó dốc ngược
nó lên. Cứ thế là thằng Mục với thằng Xiên, hai thằng chúng nó chỉ loay
hoay một lúc đã trói chặt cả bốn chân nó lại. Bấy giờ cu cậu mới biết là cu
cậu chết! Này! Ông giáo ạ! Cái giống nó cũng khôn! Nó cứ làm in như nó
trách tôi; nó kêu ư ử, nhìn tôi như muốn bảo tôi rằng: “A! Lão già tệ lắm!
Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này?”. Thì ra tôi già
bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm
lừa nó!
Tôi an ủi lão:
- Cụ cứ tưởng thế đấy chứ nó chả hiểu đâu! Vả lại ai nuôi chó mà chả
bán hay giết thịt? Ta giết nó chính là hóa kiếp cho nó đấy, hóa kiếp để cho
nó làm kiếp khác.
Lão chua chát bảo:
- Ông giáo nói phải! Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hóa kiếp cho nó để
nó làm kiếp người, may ra có sung sướng hơn một chút... kiếp người như
kiếp tôi chẳng hạn!...
Tôi bùi ngùi nhìn lão bảo:
- Kiếp ai cũng thế thôi, cụ ạ! Cụ tưởng tôi sung sướng hơn chăng?
- Thế thì không biết nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm gì cho
thật sướng?
Lão cười và ho sòng sọc. Tôi nắm lấy cái vai gầy của lão, ôn tồn bảo:
- Chẳng kiếp gì sung sướng thật, nhưng có cái này là sung sướng: Bây
giờ cụ ngồi xuống phản này chơi, tôi đi luộc mấy củ khoai lang, nấu một
ấm nước chè tươi thật đặc; ông con mình ăn khoai, uống nước chè, rồi hút
thuốc lào... Thế là sướng.
- Vâng! Ông giáo dạy phải! Đối với chúng mình thì thế là sung sướng.
Lão nói xong lại cười đưa đà. Tiếng cười gượng nhưng nghe đã hiền
hậu lại. Tôi vui vẻ bảo:
- Thế là được, chứ gì? Vậy cụ ngồi xuống đây, tôi đi luộc khoai, nấu
nước.
- Nói đùa thế, chứ ông giáo cho để khi khác?...
- Việc gì còn phải chờ khi khác?... Không bao giờ nên hoãn sự sung
sướng lại. Cụ cứ ngồi xuống đây! Tôi làm nhanh lắm...
- Đã biết, nhưng tôi còn muốn nhờ ông một việc...
Mặt lão nghiêm trang lại...
- Việc gì thế, cụ?
- Ông giáo để tôi nói... Nó hơi dài dòng một tí.
- Vâng, cụ nói.
- Nó thế này, ông giáo ạ!
Và lão kể. Lão kể nhỏ nhẹ và dài dòng thật. Nhưng đại khái có thể rút
vào hai việc. Việc thứ nhất: Lão thì già, con đi vắng, vả lại nó cũng còn dại
lắm, nếu không có người trông nom cho thì khó mà giữ được vườn đất để
làm ăn ở làng này.
Tôi là người nhiều chữ nghĩa, nhiều lý luận, người ta kiêng nể, vậy lão
muốn nhờ tôi cho lão gửi ba sào vườn của thằng con lão, lão viết văn tự
nhượng cho tôi để không ai còn tơ tưởng dòm ngó đến; khi nào con lão về
thì nó sẽ nhận vườn làm, nhưng văn tự cứ để tên tôi cũng được, để thế để
tôi trông coi cho nó... Việc thứ hai: Lão già yếu lắm rồi, không biết sống
chết lúc nào: con không có nhà, lỡ chết không biết ai đứng ra lo cho được;
để phiền cho hàng xóm thì chết không nhắm mắt: lão còn được hăm nhăm
đồng bạc với năm đồng vừa bán chó là ba mươi đồng bạc, muốn gửi tôi để
lỡ có chết thì tôi đem ra, nói với hàng xóm giúp, gọi là của lão có tí chút,
còn bao nhiêu đành nhờ hàng xóm cả...
Tôi bật cười bảo lão:
- Sao cụ lo xa quá thế? Cụ còn khỏe lắm, chưa chết đâu mà sợ! Cụ cứ
để tiền ấy mà ăn, lúc chết hãy hay! Tội gì bây giờ nhịn đói mà tiền để lại?
- Không, ông giáo ạ! Ăn mãi hết đi thì đến lúc chết lấy gì mà lo liệu?
Đã đành rằng là thế, nhưng tôi bòn vườn của nó bao nhiêu, tiêu hết cả. Nó
vợ con chưa có. Ngộ nó không lấy gì lo được, lại bán vườn thì sao?... Tôi
cắn rơm, cắn cỏ tôi lạy ông giáo! Ông giáo có nghĩ cái tình tôi già nua tuổi
tác mà thương thì ông giáo cứ cho tôi gửi.
Thấy lão nằn nì mãi, tôi đành nhận vậy. Lúc lão ra về, tôi còn hỏi:
- Có đồng nào, cụ nhặt nhạnh đưa cho tôi cả thì cụ lấy gì mà ăn?
Lão cười nhạt bảo:
- Được ạ! Tôi đã liệu đâu vào đấy... Thế nào rồi cũng xong.
Luôn mấy hôm, tôi thấy lão Hạc chỉ ăn khoai. Rồi thì khoai cũng hết. Bắt đầu từ
đấy, lão chế tạo được món gì, ăn món ấy. Hôm thì lão ăn củ chuối, hôm thì lão ăn sung
luộc, hôm thì ăn rau má, với thỉnh thoảng một vài củ ráy, hay bữa trai, bữa ốc. Tôi nói
chuyện lão với vợ tôi. Thị gạt phắt đi:
- Cho lão chết! Ai bảo lão có tiền mà chịu khổ! Lão làm lão khổ chứ ai làm lão
khổ! Nhà mình sung sướng gì mà giúp lão? Chính con mình cũng đói...
Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu
họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi... toàn những
cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng
thương: không bao giờ ta thương... Vợ tôi không ác, nhưng thị khổ quá rồi.
Một người đau chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ
đến một cái gì khác đâu? Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ
gì đến ai được nữa. Cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng,
buồn đau ích kỷ che lấp mất. Tôi biết vậy, nên tôi chỉ buồn chứ không nỡ
giận. Tôi giấu giếm vợ tôi, thỉnh thoảng giúp ngấm ngầm lão Hạc. Nhưng
hình như lão cũng biết vợ tôi không ưng giúp lão. Lão từ chối tất cả những
cái gì tôi cho lão. Lão từ chối một cách gần n...
 







Các ý kiến mới nhất