Thực hành tiếng Việt. Đoạn văn diễn dịch và đoạn văn quy nạp

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đặng Minh Ấu
Ngày gửi: 20h:38' 23-10-2024
Dung lượng: 10.5 MB
Số lượt tải: 1149
Nguồn:
Người gửi: Đặng Minh Ấu
Ngày gửi: 20h:38' 23-10-2024
Dung lượng: 10.5 MB
Số lượt tải: 1149
Số lượt thích:
1 người
(Nguyễn Thị Thái)
Hoạt động
mở đầu
TRÒ CHƠI
THỬ THÁCH
TRÍ NHỚ
Yêu cầu
CÓ 5 CÂU VĂN
HS đọc nhanh và ghi
nhớ, sau đó sắp xếp thứ
tự các câu văn sao cho
hợp lí để hoàn thiện
đoạn văn mạch lạc.
(1) Đường thường
xuyên tắc nghẽn
vì những lý do
sau: gần trường
học, đường tàu
chạy qua, trời mưa
thường ngập nước,
đèn giao thông bị
hỏng mà không
được can thiệp kịp
thời của CSGT, ý
thức của người
dân...
(2) Cơ quan
hành chính,
trường học,
bệnh
viện
nên kéo ra
xa
khỏi
trung tâm.
(3) Chống ùn tắc
giao thông là vấn
đề của toàn xã hội
chứ không phải
của riêng ngành
CSGT.
(4) Hiện nay,
tình
hình
giao thông
trên địa bàn
thành
phố
đang có rất
nhiều
bất
cập, đặc biệt
là tình trạng
ùn tắc giao
thông.
(5) Về lâu
dài, nên mở
rộng
diện
tích đất của
trung
tâm
TP.HCM ra
ngoại thành,
tức là giãn
dân ra khỏi
khu
hành
chính trung
tâm để thực
hiện bài toán
trên.
Đoạn văn mẫu: Hiện nay, tình hình giao thông trên địa bàn thành
phố đang có rất nhiều bất cập, đặc biệt là tình trạng ùn tắc giao
thông (4). Đường thường xuyên tắc nghẽn vì những lý do sau: gần
trường học, đường tàu chạy qua, trời mưa thường ngập nước, đèn
giao thông bị hỏng mà không được can thiệp kịp thời của CSGT, ý
thức của người dân...(1). Chống ùn tắc giao thông là vấn đề của toàn
xã hội chứ không phải của riêng ngành CSGT (3). Về lâu dài, nên mở
rộng diện tích đất của trung tâm TP.HCM ra ngoại thành, tức là giãn
dân ra khỏi khu hành chính trung tâm để thực hiện bài toán trên (5).
Cơ quan hành chính, trường học, bệnh viện nên kéo ra xa khỏi trung
tâm (2).
-> Đoạn văn có câu văn bao quát nội dung đoạn văn nằm
ở đầu đoạn là đoạn diễn dịch.
Đoạn văn mẫu: Đường thường xuyên tắc nghẽn vì những lý do sau:
gần trường học, đường tàu chạy qua, trời mưa thường ngập nước, đèn
giao thông bị hỏng mà không được can thiệp kịp thời của CSGT, ý
thức của người dân...(1). Chống ùn tắc giao thông là vấn đề của toàn
xã hội chứ không phải của riêng ngành CSGT (3). Về lâu dài, nên mở
rộng diện tích đất của trung tâm TP.HCM ra ngoại thành, tức là giãn
dân ra khỏi khu hành chính trung tâm để thực hiện bài toán trên (5).
Cơ quan hành chính, trường học, bệnh viện nên kéo ra xa khỏi trung
tâm (2). (Như vậy) hiện nay, tình hình giao thông trên địa bàn
thành phố đang có rất nhiều bất cập, đặc biệt là tình trạng ùn tắc
giao thông. (4).
-> Đoạn văn có câu văn bao quát nội dung đoạn văn nằm
ở cuối gọi là đoạn quy nạp.
Bài: Thực hành Tiếng Việt
ĐOẠN VĂN DIỄN DỊCH
VÀ ĐOẠN VĂN QUY
NẠP
Hình thành
kiến thức
VÍ DỤ 1
Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay.
Nói thế có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt là một thứ tiếng hài hòa về mặt âm
hưởng, thanh điệu mà cũng rất tế nhị, uyển chuyển trong cách đặt câu. Nói thế
cũng có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt có đầy đủ khả năng để diễn đạt tình cảm, tư
tưởng của người Việt Nam và để thỏa mãn cho yêu cầu của đời sống văn hóa
nước nhà qua các thời kì lịch sử.
(Đặng Thai Mai, Tiếng Việt, một biểu hiện hùng hồn của sức sống dân tộc)
+ Câu chủ đề là câu in đậm được đặt ở đầu đoạn, khẳng định hai
nét đặc sắc của tiếng Việt là đẹp và hay.
+ Các câu tiếp theo nói rõ cái đẹp và cái hay thể hiện cụ thể như
thế
nào. văn diễn dịch: Đoạn văn có câu chủ đề được đặt ở
Đoạn
đầu đoạn, những câu tiếp triển khai các nội dung cụ thể để
làm rõ chủ đề của đoạn văn.
VÍ DỤ 2
Đề cao sự khác biệt không phải là cổ động cho lối sống cá nhân ích kỉ, hẹp hòi,
chối bỏ mọi trách nhiệm. Đề cao sự khác biệt không có nghĩa chấp nhận những sự kì
dị, quái đản cốt làm cho cá nhân nổi bật giữa đám đông, xa lạ với với văn hóa truyền
thống của dân tộc. Đề cao sự khác biệt cũng không đồng nghĩa với việc tán thành lối
sống tự do vô mục đích. Xét cho cùng, chỉ sự khác biệt nào toát lên được giá trị của
cá nhân và có ích cho cộng đồng thì mới thực sự có ý nghĩa, đáng được đề cao.
(Nhiều tác giả, Để làm tốt bài thi môn Ngữ văn kì thi THPT quốc gia – phần nghị luận
xã hội, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016)
+ Ba câu đầu nêu những biểu hiện của sự khác biệt tầm thường, vô nghĩa
+ Từ đó, câu chủ đề (in đậm) ở cuối đoạn văn mới có cơ sở khẳng định sự
khác biệt có ý nghĩa, đáng được đề cao.
Đoạn văn quy nạp: Đoạn văn triển khai nội dung cụ thể trước, từ
đó mới khái quát nội dung chung, được thể hiện bằng câu chủ đề ở
cuối đoạn văn.
Chức năng của đoạn diễn dịch
và quy nạp
Là hai kiểu tổ chức đoạn
văn khác nhau nhưng đều
đáp ứng yêu cầu cơ bản
của một đoạn văn: thể
hiện rõ chủ đề
Do có câu chủ đề,
việc tiếp nhận nội
dung đoạn văn trở
nên thuận tiện hơn
Hai kiểu đoạn
văn này đặc biệt
phù hợp với văn
bản nghị luận
* Đặc điểm:
- Đoạn văn diễn dịch: Đoạn văn có câu chủ đề được đặt ở đầu đoạn, những
câu tiếp triển khai các nội dung cụ thể để làm rõ chủ đề của đoạn văn.
- Đoạn văn quy nạp: Đoạn văn triển khai nội dung cụ thể trước, từ đó mới
khái quát nội dung chung, được thể hiện bằng câu chủ đề ở cuối đoạn văn.
* Chức năng:
+ Là hai kiểu tổ chức đoạn văn khác nhau nhưng đều đáp ứng yêu cầu cơ
bản của một đoạn văn: thể hiện rõ chủ đề.
+ Do có câu chủ đề, việc tiếp nhận nội dung đoạn văn trở nên thuận tiện hơn.
+ Hai kiểu đoạn văn này đặc biệt phù hợp với văn bản nghị luận.
Hoạt động
luyện tập
1.
Bài tập
1
Tìm câu chủ đề trong các đoạn văn sau, từ đó,
xác định kiểu đoạn văn (diễn dịch, quy nạp).
Phân tích tác dụng của từng cách thức tổ chức
đoạn văn.
a. Ta thường nghe: Kỉ Tín đem mình chết thay, cứu
thoát cho Cao Đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che
chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than để
báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay cứu nạn cho
nước; Kính Đức, một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái
Tông thoát khỏi vòng vây Thế Sung; Cảo Khanh,
một bề tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo
mưu kế nghịch tặc. Từ xưa các bậc trung thần
nghĩa sĩ bỏ mình vì nước, đời nào không có? Giả
sử các bậc đó cứ khư khư theo thói nữ nhi thường
tình, thì cũng chết già ở xó cửa, sao có thể lưu
danh sử sách, cùng trời đất muôn đời bất hủ được!
(Trần Quốc Tuấn, Hịch tướng sĩ)
Câu chủ đề: Giả sử các bậc
đó cứ khư khư ... trời đất
muôn đời bất hủ được!
→ Đây là đoạn văn quy nạp.
Tác dụng của cách thức tổ
chức đoạn văn:
+ Các câu đầu nêu những tấm
gương về các bậc trung
nghĩa.
+ Từ đó câu chủ đề ở cuối
đoạn văn mới có cơ sở để
nhắc nhở binh sĩ về chân lí:
Các trung thần nghĩa sĩ sẽ
được lưu danh sử sách muôn
đời.
Tìm câu chủ đề trong các đoạn văn sau, từ đó,
xác định kiểu đoạn văn (diễn dịch, quy nạp).
Phân tích tác dụng của từng cách thức tổ chức
đoạn văn.
b. Đồng phục không chỉ đẹp mà còn góp phần tạo
nên bản sắc của mỗi trường. Cậu này là học sinh
Trường THCS Lê Quý Đôn, bạn ấy thuộc Trường
THCS Lương Thế Vinh, còn cô bé kia học ở Trường
THCS Đặng Thai Mai,… tất cả đều được nhận ra
nhờ bộ đồng phục mà họ mặc. Trong cuộc thi
“nhóm bạn lí tưởng” ở huyện, “màu cờ sắc áo”
không chỉ thể hiện ở tài trí của năm bạn trong đội
hình thi đấu trên sân khấu, mà còn ở các nhóm cổ
động viên tưng bừng, nổi bật trong bộ đồng phục
của trường mình trên khán đài.
(Dẫn theo Ngữ văn 6, tập hai – Kết nối tri thức với
cuộc sống, NXB Giáo dục Việt Nam, 2021, tr. 67)
Câu chủ đề: Đồng phục không
chỉ đẹp mà còn góp phần tạo
nên bản sắc của mỗi trường.
→ Đoạn văn diễn dịch
Tác dụng của cách thức tổ
chức đoạn văn:
+ Câu chủ đề được đặt ở đầu
đoạn, khẳng định đồng phục
không chỉ đẹp mà còn tạo nên
bản sắc của mỗi trường.
+ Các câu sau nói rõ nét đặc
sắc của mỗi trường thông qua
bộ đồng phục.
2.
Bài tập
2
Hãy sắp xếp các câu sau thành đoạn văn diễn dịch, sau đó sắp xếp
lại thành đoạn văn quy nạp và cho biết dựa vào cơ sở nào, em sắp
xếp như vậy.
(1) Một cô Tấm
(2) Một Thạch Sanh (3) Ở hiền gặp
(trong truyện “Tấm
(truyện “Thạch Sanh”) lành, ác giả ác
Cám”) bao lần bị
chất phác, thật bụng tin báo là ước mơ
hại, cuối cùng vẫn
người, dẫu trải qua bao công
bằng
được làm hoàng hậu,
khổ nạn, oan khuất rồi được
nhân
nhưng mụ dì ghẻ và
đến lúc cũng cưới được dân gửi gắm
Cám – những kẻ lắm
công chúa và lên ngôi, vào truyện cổ
mưu mô tàn ác thì bị
còn Lý Thông lừa lọc, tích.
trừng phạt đích
xảo trá thì trời đất
đáng.
không dung tha.
- Đoạn văn diễn dịch: (3) – (1) – (2) – (4)
- Đoạn văn quy nạp: (1) – (2) – (4) – (3)
(4) Một người em
(truyện “Cây khế”)
thật thà, hiền lành, bị
anh đối xử bất công,
ai ngờ cuộc sống về
sau lại giàu sang
hạnh phúc, trong khi
người anh tham lam
thì bỏ mạng giữa
biển khơi.
3.
Bài tập
3
“Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu
những vật tầm thường nhất” (I-li-a Êren-bua). Hãy xem đây là câu chủ đề,
từ đó, viết hai đoạn văn, một đoạn văn
đặt câu chủ đề ở đầu đoạn (diễn dịch)
và đoạn văn đặt câu chủ dề ở cuối
đoạn (quy nạp).
Gợi ý tham khảo
Đoạn văn
diễn dịch
Lòng yêu nước ban đầu là lòng
yêu những vật tầm thường nhất. Yêu
một chùm hoa dại không tên bên con
đường quen thuộc là yêu nước. Yêu một
lối nhỏ vắng vẻ ra bến sông quê hàng
ngày là yêu nước. Yêu một tán lá cọ lặng
lẽ xòe ra che nắng giữa vườn trưa là yêu
nước. Yêu căn bếp nhỏ lặng lẽ tỏa khói
mỗi sớm chiều cũng là yêu nước.
Đoạn văn
quy nạp
Yêu một chùm hoa dại không tên
bên con đường quen thuộc là yêu
nước. Yêu một lối nhỏ vắng vẻ ra bến
sông quê hàng ngày là yêu nước. Yêu
một tán lá cọ lặng lẽ xòe ra che nắng
giữa vườn trưa là yêu nước. Yêu căn
bếp nhỏ lặng lẽ tỏa khói mỗi sớm
chiều cũng là yêu nước. Như vậy,
lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu
những vật tầm thường nhất.
Hoạt động
vận dụng
Hoạt động vận dụng
Viết một đoạn văn diễn dịch
(khoảng 5 – 7 dòng) trình bày
suy nghĩ của em về ảnh
hưởng của hiện tượng nước
biển dâng đối với đời sống con
người. Chỉ ra câu chủ đề trong
đoạn văn đó.
Hoạt động vận dụng
Nhiệm vụ
Viết một đoạn văn quy
nạp (khoảng 5 – 7
dòng) trình bày suy nghĩ
của em về tác hại của lũ
lụt. Chỉ ra câu chủ đề
trong đoạn văn đó.
mở đầu
TRÒ CHƠI
THỬ THÁCH
TRÍ NHỚ
Yêu cầu
CÓ 5 CÂU VĂN
HS đọc nhanh và ghi
nhớ, sau đó sắp xếp thứ
tự các câu văn sao cho
hợp lí để hoàn thiện
đoạn văn mạch lạc.
(1) Đường thường
xuyên tắc nghẽn
vì những lý do
sau: gần trường
học, đường tàu
chạy qua, trời mưa
thường ngập nước,
đèn giao thông bị
hỏng mà không
được can thiệp kịp
thời của CSGT, ý
thức của người
dân...
(2) Cơ quan
hành chính,
trường học,
bệnh
viện
nên kéo ra
xa
khỏi
trung tâm.
(3) Chống ùn tắc
giao thông là vấn
đề của toàn xã hội
chứ không phải
của riêng ngành
CSGT.
(4) Hiện nay,
tình
hình
giao thông
trên địa bàn
thành
phố
đang có rất
nhiều
bất
cập, đặc biệt
là tình trạng
ùn tắc giao
thông.
(5) Về lâu
dài, nên mở
rộng
diện
tích đất của
trung
tâm
TP.HCM ra
ngoại thành,
tức là giãn
dân ra khỏi
khu
hành
chính trung
tâm để thực
hiện bài toán
trên.
Đoạn văn mẫu: Hiện nay, tình hình giao thông trên địa bàn thành
phố đang có rất nhiều bất cập, đặc biệt là tình trạng ùn tắc giao
thông (4). Đường thường xuyên tắc nghẽn vì những lý do sau: gần
trường học, đường tàu chạy qua, trời mưa thường ngập nước, đèn
giao thông bị hỏng mà không được can thiệp kịp thời của CSGT, ý
thức của người dân...(1). Chống ùn tắc giao thông là vấn đề của toàn
xã hội chứ không phải của riêng ngành CSGT (3). Về lâu dài, nên mở
rộng diện tích đất của trung tâm TP.HCM ra ngoại thành, tức là giãn
dân ra khỏi khu hành chính trung tâm để thực hiện bài toán trên (5).
Cơ quan hành chính, trường học, bệnh viện nên kéo ra xa khỏi trung
tâm (2).
-> Đoạn văn có câu văn bao quát nội dung đoạn văn nằm
ở đầu đoạn là đoạn diễn dịch.
Đoạn văn mẫu: Đường thường xuyên tắc nghẽn vì những lý do sau:
gần trường học, đường tàu chạy qua, trời mưa thường ngập nước, đèn
giao thông bị hỏng mà không được can thiệp kịp thời của CSGT, ý
thức của người dân...(1). Chống ùn tắc giao thông là vấn đề của toàn
xã hội chứ không phải của riêng ngành CSGT (3). Về lâu dài, nên mở
rộng diện tích đất của trung tâm TP.HCM ra ngoại thành, tức là giãn
dân ra khỏi khu hành chính trung tâm để thực hiện bài toán trên (5).
Cơ quan hành chính, trường học, bệnh viện nên kéo ra xa khỏi trung
tâm (2). (Như vậy) hiện nay, tình hình giao thông trên địa bàn
thành phố đang có rất nhiều bất cập, đặc biệt là tình trạng ùn tắc
giao thông. (4).
-> Đoạn văn có câu văn bao quát nội dung đoạn văn nằm
ở cuối gọi là đoạn quy nạp.
Bài: Thực hành Tiếng Việt
ĐOẠN VĂN DIỄN DỊCH
VÀ ĐOẠN VĂN QUY
NẠP
Hình thành
kiến thức
VÍ DỤ 1
Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay.
Nói thế có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt là một thứ tiếng hài hòa về mặt âm
hưởng, thanh điệu mà cũng rất tế nhị, uyển chuyển trong cách đặt câu. Nói thế
cũng có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt có đầy đủ khả năng để diễn đạt tình cảm, tư
tưởng của người Việt Nam và để thỏa mãn cho yêu cầu của đời sống văn hóa
nước nhà qua các thời kì lịch sử.
(Đặng Thai Mai, Tiếng Việt, một biểu hiện hùng hồn của sức sống dân tộc)
+ Câu chủ đề là câu in đậm được đặt ở đầu đoạn, khẳng định hai
nét đặc sắc của tiếng Việt là đẹp và hay.
+ Các câu tiếp theo nói rõ cái đẹp và cái hay thể hiện cụ thể như
thế
nào. văn diễn dịch: Đoạn văn có câu chủ đề được đặt ở
Đoạn
đầu đoạn, những câu tiếp triển khai các nội dung cụ thể để
làm rõ chủ đề của đoạn văn.
VÍ DỤ 2
Đề cao sự khác biệt không phải là cổ động cho lối sống cá nhân ích kỉ, hẹp hòi,
chối bỏ mọi trách nhiệm. Đề cao sự khác biệt không có nghĩa chấp nhận những sự kì
dị, quái đản cốt làm cho cá nhân nổi bật giữa đám đông, xa lạ với với văn hóa truyền
thống của dân tộc. Đề cao sự khác biệt cũng không đồng nghĩa với việc tán thành lối
sống tự do vô mục đích. Xét cho cùng, chỉ sự khác biệt nào toát lên được giá trị của
cá nhân và có ích cho cộng đồng thì mới thực sự có ý nghĩa, đáng được đề cao.
(Nhiều tác giả, Để làm tốt bài thi môn Ngữ văn kì thi THPT quốc gia – phần nghị luận
xã hội, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016)
+ Ba câu đầu nêu những biểu hiện của sự khác biệt tầm thường, vô nghĩa
+ Từ đó, câu chủ đề (in đậm) ở cuối đoạn văn mới có cơ sở khẳng định sự
khác biệt có ý nghĩa, đáng được đề cao.
Đoạn văn quy nạp: Đoạn văn triển khai nội dung cụ thể trước, từ
đó mới khái quát nội dung chung, được thể hiện bằng câu chủ đề ở
cuối đoạn văn.
Chức năng của đoạn diễn dịch
và quy nạp
Là hai kiểu tổ chức đoạn
văn khác nhau nhưng đều
đáp ứng yêu cầu cơ bản
của một đoạn văn: thể
hiện rõ chủ đề
Do có câu chủ đề,
việc tiếp nhận nội
dung đoạn văn trở
nên thuận tiện hơn
Hai kiểu đoạn
văn này đặc biệt
phù hợp với văn
bản nghị luận
* Đặc điểm:
- Đoạn văn diễn dịch: Đoạn văn có câu chủ đề được đặt ở đầu đoạn, những
câu tiếp triển khai các nội dung cụ thể để làm rõ chủ đề của đoạn văn.
- Đoạn văn quy nạp: Đoạn văn triển khai nội dung cụ thể trước, từ đó mới
khái quát nội dung chung, được thể hiện bằng câu chủ đề ở cuối đoạn văn.
* Chức năng:
+ Là hai kiểu tổ chức đoạn văn khác nhau nhưng đều đáp ứng yêu cầu cơ
bản của một đoạn văn: thể hiện rõ chủ đề.
+ Do có câu chủ đề, việc tiếp nhận nội dung đoạn văn trở nên thuận tiện hơn.
+ Hai kiểu đoạn văn này đặc biệt phù hợp với văn bản nghị luận.
Hoạt động
luyện tập
1.
Bài tập
1
Tìm câu chủ đề trong các đoạn văn sau, từ đó,
xác định kiểu đoạn văn (diễn dịch, quy nạp).
Phân tích tác dụng của từng cách thức tổ chức
đoạn văn.
a. Ta thường nghe: Kỉ Tín đem mình chết thay, cứu
thoát cho Cao Đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che
chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than để
báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay cứu nạn cho
nước; Kính Đức, một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái
Tông thoát khỏi vòng vây Thế Sung; Cảo Khanh,
một bề tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo
mưu kế nghịch tặc. Từ xưa các bậc trung thần
nghĩa sĩ bỏ mình vì nước, đời nào không có? Giả
sử các bậc đó cứ khư khư theo thói nữ nhi thường
tình, thì cũng chết già ở xó cửa, sao có thể lưu
danh sử sách, cùng trời đất muôn đời bất hủ được!
(Trần Quốc Tuấn, Hịch tướng sĩ)
Câu chủ đề: Giả sử các bậc
đó cứ khư khư ... trời đất
muôn đời bất hủ được!
→ Đây là đoạn văn quy nạp.
Tác dụng của cách thức tổ
chức đoạn văn:
+ Các câu đầu nêu những tấm
gương về các bậc trung
nghĩa.
+ Từ đó câu chủ đề ở cuối
đoạn văn mới có cơ sở để
nhắc nhở binh sĩ về chân lí:
Các trung thần nghĩa sĩ sẽ
được lưu danh sử sách muôn
đời.
Tìm câu chủ đề trong các đoạn văn sau, từ đó,
xác định kiểu đoạn văn (diễn dịch, quy nạp).
Phân tích tác dụng của từng cách thức tổ chức
đoạn văn.
b. Đồng phục không chỉ đẹp mà còn góp phần tạo
nên bản sắc của mỗi trường. Cậu này là học sinh
Trường THCS Lê Quý Đôn, bạn ấy thuộc Trường
THCS Lương Thế Vinh, còn cô bé kia học ở Trường
THCS Đặng Thai Mai,… tất cả đều được nhận ra
nhờ bộ đồng phục mà họ mặc. Trong cuộc thi
“nhóm bạn lí tưởng” ở huyện, “màu cờ sắc áo”
không chỉ thể hiện ở tài trí của năm bạn trong đội
hình thi đấu trên sân khấu, mà còn ở các nhóm cổ
động viên tưng bừng, nổi bật trong bộ đồng phục
của trường mình trên khán đài.
(Dẫn theo Ngữ văn 6, tập hai – Kết nối tri thức với
cuộc sống, NXB Giáo dục Việt Nam, 2021, tr. 67)
Câu chủ đề: Đồng phục không
chỉ đẹp mà còn góp phần tạo
nên bản sắc của mỗi trường.
→ Đoạn văn diễn dịch
Tác dụng của cách thức tổ
chức đoạn văn:
+ Câu chủ đề được đặt ở đầu
đoạn, khẳng định đồng phục
không chỉ đẹp mà còn tạo nên
bản sắc của mỗi trường.
+ Các câu sau nói rõ nét đặc
sắc của mỗi trường thông qua
bộ đồng phục.
2.
Bài tập
2
Hãy sắp xếp các câu sau thành đoạn văn diễn dịch, sau đó sắp xếp
lại thành đoạn văn quy nạp và cho biết dựa vào cơ sở nào, em sắp
xếp như vậy.
(1) Một cô Tấm
(2) Một Thạch Sanh (3) Ở hiền gặp
(trong truyện “Tấm
(truyện “Thạch Sanh”) lành, ác giả ác
Cám”) bao lần bị
chất phác, thật bụng tin báo là ước mơ
hại, cuối cùng vẫn
người, dẫu trải qua bao công
bằng
được làm hoàng hậu,
khổ nạn, oan khuất rồi được
nhân
nhưng mụ dì ghẻ và
đến lúc cũng cưới được dân gửi gắm
Cám – những kẻ lắm
công chúa và lên ngôi, vào truyện cổ
mưu mô tàn ác thì bị
còn Lý Thông lừa lọc, tích.
trừng phạt đích
xảo trá thì trời đất
đáng.
không dung tha.
- Đoạn văn diễn dịch: (3) – (1) – (2) – (4)
- Đoạn văn quy nạp: (1) – (2) – (4) – (3)
(4) Một người em
(truyện “Cây khế”)
thật thà, hiền lành, bị
anh đối xử bất công,
ai ngờ cuộc sống về
sau lại giàu sang
hạnh phúc, trong khi
người anh tham lam
thì bỏ mạng giữa
biển khơi.
3.
Bài tập
3
“Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu
những vật tầm thường nhất” (I-li-a Êren-bua). Hãy xem đây là câu chủ đề,
từ đó, viết hai đoạn văn, một đoạn văn
đặt câu chủ đề ở đầu đoạn (diễn dịch)
và đoạn văn đặt câu chủ dề ở cuối
đoạn (quy nạp).
Gợi ý tham khảo
Đoạn văn
diễn dịch
Lòng yêu nước ban đầu là lòng
yêu những vật tầm thường nhất. Yêu
một chùm hoa dại không tên bên con
đường quen thuộc là yêu nước. Yêu một
lối nhỏ vắng vẻ ra bến sông quê hàng
ngày là yêu nước. Yêu một tán lá cọ lặng
lẽ xòe ra che nắng giữa vườn trưa là yêu
nước. Yêu căn bếp nhỏ lặng lẽ tỏa khói
mỗi sớm chiều cũng là yêu nước.
Đoạn văn
quy nạp
Yêu một chùm hoa dại không tên
bên con đường quen thuộc là yêu
nước. Yêu một lối nhỏ vắng vẻ ra bến
sông quê hàng ngày là yêu nước. Yêu
một tán lá cọ lặng lẽ xòe ra che nắng
giữa vườn trưa là yêu nước. Yêu căn
bếp nhỏ lặng lẽ tỏa khói mỗi sớm
chiều cũng là yêu nước. Như vậy,
lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu
những vật tầm thường nhất.
Hoạt động
vận dụng
Hoạt động vận dụng
Viết một đoạn văn diễn dịch
(khoảng 5 – 7 dòng) trình bày
suy nghĩ của em về ảnh
hưởng của hiện tượng nước
biển dâng đối với đời sống con
người. Chỉ ra câu chủ đề trong
đoạn văn đó.
Hoạt động vận dụng
Nhiệm vụ
Viết một đoạn văn quy
nạp (khoảng 5 – 7
dòng) trình bày suy nghĩ
của em về tác hại của lũ
lụt. Chỉ ra câu chủ đề
trong đoạn văn đó.
 








Các ý kiến mới nhất