Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Bài 5: Màu sắc trăm miền - Đọc: Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt (trích, Vũ Bằng).

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: MAI VĂN NĂM
Ngày gửi: 23h:48' 11-12-2024
Dung lượng: 73.6 MB
Số lượt tải: 978
Số lượt thích: 0 người
Bài 5

MÀU SẮC TRĂM MIỀN

Tôi yêu cuộc đời, yêu hành tinh tôi ở
Yêu đến từng góc nhỏ khắp gần xa.
(Ra-xun Gam-da-tốp)

GIỚI THIỆU BÀI HỌC VÀ TRI THỨC NGỮ VĂN

+ Giai điệu bài hát khơi dậy trong em cảm xúc gì?
+ Em thấy đất nước mình hiện lên như thế nào qua
bài hát?

+ Cảm xúc: tự hào, xúc động, yêu quê hương đất
nước…
+ Vẻ đẹp đất nước muôn màu, từ miền ngược,
miền xuôi, biển đảo, đồi núi, Bắc Nam…

HS đọc phần Giới thiệu bài học (SGK)
-Chủ đề:
Những vẻ đẹp của các vùng miền khác nhau (nhất là những màu
sắc văn hoá).
-Thể loại:
+ Tuỳ bút. (Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt, Vũ Bằng)
+ Tản văn. (Chuyện cơm hến, Hoàng Phủ Ngọc Tường)
-Loại văn bản:
Văn bản thông tin. (Hội lồng tồng, Trần Quốc Vượng, Lê Văn
Hảo, Dương Tất Từ)

1. Tuỳ bút
- Tuỳ bút là một thể loại văn xuôi thuộc loại hình kí.
- Điểm tựa:
+ Là cái tôi của tác giả.
+ Thông qua việc ghi chép về con người, sự kiện cụ thể, có thực, tác
giả tuỳ bút thể hiện cảm xúc, tình cảm, suy nghĩ của mình.
+ Tuỳ bút thiên về tính trữ tình; có thể kết hợp trữ tình, suy tưởng,
triết lí, chính luận.
- Bố cục: khá tự do trong cách biểu hiện, được triển khai theo một
cảm hứng chủ đạo, một tư tưởng chủ đề nhất định.
- Ngôn từ: giàu hình ảnh, giàu chất thơ.
Kí: thể văn ghi chép người thật, việc thật.

2. Tản văn
- Là thể loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc.
- Điểm tựa:
+ Người viết thường dựa trên một vài nét chấm phá về đời sống để
thể hiện tâm trạng, suy nghĩ, chủ kiến của mình.
+ Kết hợp tự sự, trữ tình, nghị luận, miêu tả, khảo cứu...
- Bố cục: Tản văn khá tự do trong cách biểu hiện.
- Ngôn từ: gần gũi đời thường, như lời chuyện trò, bàn luận, tâm sự.

RUNG CHUÔNG VÀNG

Câu hỏi 1
Ký là một loại tác phẩm văn học chú trọng điều gì?
B. Ghi chép lại con
A. Ghi lại một sự kiện
người thực và sự việc
quan trọng diễn ra
thực trong cuộc sống.
trong ngày.
C. Ghi chép về
những chuyến đi tới các
vùng đất các xứ sở nào đó.

D. Ghi chép về
những điều đã diễn ra
trong quá khứ.

Tùy bút là:

Câu hỏi 2

A. thể loại thơ
thuộc loại hình
kí.

B. thể loại văn
xuôi ngắn gọn,
hàm súc.

C. thể loại văn
nghị luận sắc
bén.

D. thể loại văn
xuôi thuộc loại
hình kí.

Câu hỏi 3

 Điểm tựa của tuỳ bút là:
A. Cá tính của tác
giả.

C. Cái tôi của tác giả.

B. Tính cách của tác
giả.

D. Tài năng của tác
giả.

Câu hỏi 4
Tản văn là:
A. thể loại văn xuôi
thuộc loại hình kí.

C. thể loại văn xuôi
ngắn gọn, hàm súc.

B. thể loại thơ
thuộc loại hình kí.

D. thể loại văn
nghị luận sắc
bén.

Câu hỏi 5

Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu chất thơ, chất trữ tình
là đặc điểm của:
A. Nghị luận

B. Tản văn

C. Kí

D. Tùy bút

Văn bản 1:

THÁNG GIÊNG, MƠ VỀ
TRĂNG NON RÉT NGỌT
(Trích, Vũ Bằng)

I. KHỞI ĐỘNG
Em biết những bài hát hay bức tranh, bức ảnh nào
về mùa xuân? Hãy chia sẻ cùng các bạn.

Vào mỗi dịp Tết đến xuân về, chúng ta được nghe
nhiều bài hát về mùa xuân rất quen thuộc. Ví dụ
như:

BÀI HÁT VỀ MÙA XUÂN

BÀI HÁT VỀ MÙA XUÂN

TRANH VẼ VỀ MÙA XUÂN

Em thích nhất điều gì ở mùa xuân?
Mùa xuân là mùa khởi đầu của một năm. Xuân về, thiên nhiên như khoác
màu áo mới. Những cành cây bắt đầu đâm chồi nảy lộc. Không khí ấm áp vui
tươi, không còn rét căm căm như mùa đông nữa. Mùa xuân gắn với lễ hội
truyền thống, với Tết cổ truyền của dân tộc. Trẻ em được mặc quần áo mới, háo
hức nhận lì xì. Người người, nhà nhà quây quần đoàn tụ.
Chẳng phải ngẫu nhiên mà mùa xuân từ lâu đã trở thành nguồn cảm hứng bất
tận cho biết bao tâm hồn nghệ sĩ. Với Nguyễn Trãi, đó là tiếng quốc kêu khi
xuân đã muộn: “Đầy xuân mưa bụi nở hoa xoan”. Với Hàn Mặc Tử, đó là
“Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời / Bao cô thôn nữ hát trên đồi / Ngày mai trong
đám xuân xanh ấy / Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi”.
Và hôm nay, thầy sẽ cùng đồng hành các em nói về chủ đề mùa xuân trong
một tác phẩm nổi tiếng của Vũ Bằng, đó là “Tháng Giêng, mơ về trăng non rét
ngọt” trích trong “Thương nhớ Mười Hai”.

II. ĐỌC HIỂU CHUNG
1. Đọc
-Ở bài này, tác giả thể hiện rõ nỗi nhớ quê nhà, cho nên,
khi đọc cần có ngữ điệu thể hiện sự da diết, nhớ thương.
Chú ý thực hiện chiến lược đọc như kết nối, hình dung,
theo dõi.
-Tìm hiểu nghĩa của những từ ngữ khó ở chân trang.

còn son

lộc (nai)

mưa riêu riêu

uyên ương

huê tình

ra ràng

nhuỵ vẫn còn phong

hoá vàng

màn điều

2. Tìm hiểu chung
a.Tác giả
-Vũ Bằng (1913-1984), quê ở Hà Nội.
-Là nhà văn, nhà báo, nhà hoạt động cách mạng.
-Sở trường: truyện ngắn, tuỳ bút, bút kí.
-Tuỳ bút giàu chất trữ tình và chất thơ, hướng vào biểu hiện thế giới nội
tâm phong phú. Văn tràn đầy cảm xúc, biểu thị những cảm giác tinh tế.
-Tác phẩm tiêu biểu:

b.Tác phẩm
-Thể loại:
Tuỳ bút
-Xuất xứ:
Trích thiên tuỳ bút “Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt” mở đầu cuốn
“Thương nhớ Mười Hai”.

-Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt.
-Tháng Hai, tương tư hoa đào.
-Tháng Ba, rét nàng Bân.
-Tháng Tư, mơ đi tắm suối Mường.
- Tháng Năm, nhớ nhót, mận, rượu nếp và lá móng.
-Tháng Sáu, thèm nhãn Hưng Yên.
-Tháng Bảy, ngày rằm xá tội vong nhân.
-Tháng Tám, ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu.
-Tháng Chín, gạo mới chim ngói.
-Tháng Mười, nhớ gió bấc mưa phùn.
-Tháng Mười Một, thương về những ngày nhể bọng con rận rồng.
-Tháng Chạp, nhớ ơi chợ Tết.
-Tết, hỡi cô mặc cái yếm xanh.

+Nhan đề trong mỗi bài tuỳ bút trong “Thương nhớ Mười Hai” đều gợi ra
một nét đặc trưng nào đó của không gian, phong tục, nếp sống… ở miền
Bắc.
+Nhan đề bài tuỳ bút “Tháng Giêng mơ về trăng non rét ngọt” gợi ra
khung cảnh mùa xuân và những nét sinh hoạt gia đình trong cái rét đặc
trưng của miền Bắc thời điểm tháng đầu tiên của một năm, trong không
gian mùa trăng đầu tiên của một năm - được tác giả coi như là trăng non:
Cái trăng tháng Giêng, non như người con gái mơn mởn đào tơ, hình như
cũng đẹp hơn các tháng khác trong năm thì phải: sáng nhưng không lộng
lẫy như trăng sáng mùa thu, đẹp nhưng không đẹp một cách úa héo như
trăng tháng Một (trích Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt).

-Hoàn cảnh sáng tác:
Đất nước bị chia cắt, tác giả sống ở miền Nam, xa cách quê hương đất
Bắc.
-Phương thức biểu đạt:
Biểu cảm kết hợp với miêu tả và tự sự.
-Chủ đề (thông điệp):
Bài tuỳ bút biểu lộ tình yêu, sự gắn bó tha thiết với quê hương, gia đình
của tác giả. Qua những rung động tinh tế của một tâm hồn nhạy cảm, sức
sống con người và hương sắc đất trời Hà Nội - miền Bắc vào tháng Giêng
hiện lên như một sự khởi đầu cho dòng hồi tưởng (với mỗi tháng là một
khung cảnh, một câu chuyện), “sống lại” với quá khứ đầy thương nhớ.

-Bố cục:
+Phần 1: Từ đầu đến “mê luyến mùa xuân”: Tình cảm của con người với
mùa xuân là một quy luật tất yếu, tự nhiên.
+Phần 2: Tiếp theo đến “mở hội liên hoan”: Cảnh sắc và không khí mùa
xuân của thiên nhiên đất trời và lòng người.
+Phần 3: Còn lại: Cảnh sắc mùa xuân đất Bắc từ sau ngày rằm tháng
Giêng.

III. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
1. Những ấn tượng về không gian Hà Nội (miền Bắc) trong nỗi nhớ
của tác giả
Tìm những chi tiết miêu tả không gian đặc trưng (riêng có) mùa xuân Hà
Nội và chi tiết miêu tả không gian gia đình.
Không gian đặc trưng
của mùa xuân Hà Nội
Đầu tháng Giêng

Sau rằm
tháng Giêng

Không gian gia đình
Đầu tháng Giêng

Sau rằm
tháng Giêng

Không gian đặc trưng, riêng có của mùa xuân Hà Nội
Đầu tháng Giêng

Sau rằm tháng Giêng

mưa riêu riêu; gió lành
lạnh; tiếng nhạn kêu
trong đêm xanh; tiếng
trống chèo vọng lại từ
những thôn xóm xa xa;
câu hát huê tình, đất
trời mang mang; đường
sá không còn lấy lội
nữa; cái rét ngọt ngào,
chớ không còn tê buốt
căm căm nữa;...

-Có sự chuyển đổi của không gian: đào hơi phai nhưng
nhuỵ vẫn còn phong, cỏ không mướt xanh như cuối đông,
đầu Giêng, nhưng trái lại lại nức một mùi hương man mác;
mưa xuân bắt đầu thay thế cho mưa phùn, không còn làm
cho nền trời đùng đục như màu pha lê mờ; bầu trời đã có
những vệt xanh tươi; đã có hoa thiên lí, vài con ong siêng
năng đã bay đi kiếm nhị hoa; nền trời trong có những làn
sáng hồng;...
-Đặc biệt, khung cảnh đêm trăng tháng Giêng trong cái rét
ngọt đầu năm: đêm xanh biêng biếc, có mưa dây, nhìn rõ
từng cánh sếu bay, trời vẫn rét một cách tình tứ nên thơ, có
những đêm không mưa, trời sáng lung linh như ngọc.

Không gian của những sinh hoạt văn hoá cộng đồng
và sinh hoạt gia đình
Đầu tháng Giêng
-Món ăn ngày Tết: thịt mỡ dưa
hành.
-Cuộc sống tưng bừng với các lễ
hội, trò chơi ngày Tết: nhang
trầm, đèn nến, bầu không khí gia
đình đoàn tụ êm đềm, trên kính
dưới nhường, bàn thờ Phật, bàn
thờ Thánh, bàn thờ Tổ tiên.

Sau rằm tháng Giêng
-Bữa cơm giản dị ngày thường: cà om
với thịt than điểm những lá tía tô thái
nhỏ hay bát canh trứng cua vắt chanh ăn
mát như quạt vào long.
-Cuộc sống êm đềm thường nhật: Cánh
màn điều treo ở bàn thờ ông vải đã hạ
xuống từ hôm hoá vàng, các trò vui ngày
Tết cũng tạm thời kết thúc.

Nghệ thuật: điệp ngữ, liệt kê, từ láy, so sánh…
=>Qua việc hồi tưởng vế những điều có thực trong không gian
Hà Nội vào mùa xuân mà mình đã từng trải nghiệm, tác giả đã
bộc lộ những cảm nhận tinh tế, tình cảm gắn bó, mến yêu tha
thiết với quê hương, gia đình. (Đây cũng chính là một trong
những nét đặc trưng của thể loại tuỳ bút.).

2. Sức sống của thiên nhiên và con người trong cái rét ngọt đầu xuân
a.Các chi tiết diễn tả sức sống của thiên nhiên và con người trong tiết
trời mùa xuân
Trong cái rét ngọt đầu xuân, sức sống của thiên nhiên và con người được
diễn tả qua những chi tiết nào?

-Người yêu cảnh, tự nhiên thấy một cái thú giang hồ êm ái như
nhung và không cần uống rượu mạnh cũng nghe như lòng mình say
sưa một cái gì đó – có lẽ là sự sống.
-Làm cho người ta muốn phát điên lên như thế đấy.
-Nhựa sống ở trong người căng lên như máu căng lên trong lộc của
loài nai, như mầm non của cây cối, nằm im mãi không chịu được,
phải trỗi ra thành những cái lá nhỏ tí ti.
-Tim người ta dường như cũng trẻ hơn và đập mạnh hơn.

-Y như những con vật nằm thu hình một nơi trốn rét thấy nắng ấm trở về
thì lại bò ra để nhảy nhót kiếm ăn, anh cũng “sống” lại và thèm khát yêu
thương thực sự. Ra ngoài trời, thấy ai cũng muốn yêu thương, về đến nhà
lại cũng thấy yêu thương nữa.
-Trong lòng thì cảm như có không biết bao nhiêu là hoa mới nở, bướm ra
rang mở hội liên hoan.
-Cảm thấy rạo rực một niềm vui sáng sủa.
Þ Bừng dậy lòng yêu đời, khao khát sống và yêu thương; thôi thúc lòng
người tình cảm gia đình gắn bó, hướng về cội nguồn, tổ tiên.
=> Mùa xuân có sức mạnh kì diệu, khơi dậy sự sống mãnh liệt, làm hồi
sinh vạn vật.

b.Cách diễn tả thế giới tâm hồn của tác giả
Cảm giác của con người có dễ nhận biết không? Làm thế nào để cho người
khác cảm thấy được những cảm giác đó của mình?
+Rất khó nhận biết, vì cảm giác thuộc về thế giới vô hình, khó nắm bắt.
Nêu nhận xét của em về cách tác giả diễn tả cảm giác của lòng mình khi mùa
xuân đến.
-Bằng hình ảnh cụ thể, giàu sức gợi; những so sánh dễ hình dung; cách nói
mới lạ, thú vị với các động từ mạnh (phát điên lên, căng lên, không chịu được,
trỗi ra, trẻ hơn ra, đập mạnh hơn, sống lại, thèm khát…), giọng điệu sôi nổi,
êm ái, thiết tha, cảm xúc mạnh mẽ, tuôn trào.
-Bằng từ ngữ thể hiện trực tiếp tình cảm: “tôi yêu”, “muốn yêu thương”,
“thèm khát yêu thương”…
(Việc diễn tả thế giới tâm hồn, cảm xúc tạo nên đặc trưng trữ tình của tuỳ bút.)

3.Cách triển khai bài tuỳ bút
Tác giả đã triển khai bài tuỳ bút theo mạch chủ đề về mùa xuân bắt đầu từ
“ai cũng chuộng mùa xuân” như thế nào?

Nêu chủ đề: “ai cũng chuộng mùa xuân”

Cảm
hứng chủ
đạo: cảm
hứng về
mùa
xuân

Đưa ra
các “lí
lẽ”, “dẫn
chứng”

Lí lẽ dựa trên những chân lí khồng thể đảo ngược: Ai bảo
được non đừng thương nước, bướm đừng thương hoa,
trăng đừng thương gió; ai cấm được trai thương gái, ai
cấm được mẹ yêu con, ai cấm được cô gái còn son nhớ
chồng thì mới hết được người mê luyến mùa xuân.
Dẫn chứng là những “phỏng đoán' đầy tính chú quan dưới
dạng cầu hỏi đồng thời là cầu trả lời cho các nhân vật
tưởng tượng: em gái, chàng trai, thiếu phụ.

Chứng minh bằng trải nghiệm của bản thân về mùa xuân – “mùa xuân
của tôi”: tình yêu sâu nặng với quê nhà, mùa xuân gắn với những kỉ
niệm, hồi ức gần gũi, chan chứa yêu thương.

4. Cái tôi của người viết trong bài tùy bút
Trong đoạn trích, khi nói về mùa xuân, tác giả dùng các cụm từ
như mùa xuân của tôi, mùa xuân thần thánh của tôi, mùa xuân
của Hà Nội thân yêu. Cách viết này cho em hiểu điều gì về cuộc
sống và tình cảm riêng của người viết?

Những sắc thái nghĩa khác nhau
trong các định danh mùa xuân quê hương
“mùa xuân của tôi”

“mùa xuân
thần thánh của tôi”

“mùa xuân
của Hà Nội thân yêu”

cho thấy những kỉ
niệm của tác giả với
quê nhà

cho thấy mùa xuân
quê hương đem đến
những đổi thay kì
diệu

cho thấy sự gắn bó sâu
nặng của tác giả - người
con xa quê – với quê nhà

Hình bóng cái tôi tác giả được thể hiện khá rõ.

5. Lời văn bài tuỳ bút
Chọn một câu văn cho thấy lời văn của bài tùy bút như lời trò chuyện tâm
tình. Theo em, đặc điểm đó của lời văn có tác động như thế nào đến cảm
nhận của người đọc?
Lời văn của bài tùy bút như lời trò chuyện tâm tình.
+ Ơi ơi người em gái xõa tóc bên cửa sổ!
+ Ấy đấy, cái mùa xuân thần thánh của tôi nó làm cho người ta muốn phát
điên lên như thế đấy.
+ Đẹp quá đi, mùa xuân ơi – mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt
thương mến.
-> Những câu văn như lời nói thường, như là nhà văn đang trò chuyện với
ai đó, đồng thời như lời hô gọi làm cho người đọc có ấn tượng. Khoảng
cách giữa người viết và người đọc sẽ bị rút ngắn.

IV. TỔNG KẾT
1.Nghệ thuật
- Trình bày nội dung văn bản theo dòng cảm xúc lôi cuốn, say mê (tính trữ
tình) .
- Quan sát, cảm nhận tinh tế, tài hoa; nghệ thuật tả cảnh vật sinh động,
chân thực.
- Ngôn ngữ giàu hình ảnh, chất thơ.
- Lời văn giàu nhịp điệu, giàu sức biểu cảm.
-Có những so sánh, liên tưởng độc đáo.
2.Nội dung
- Cảnh sắc thiên nhiên, không khí mùa xuân Hà Nội và miền Bắc được
cảm nhận, tái hiện trong nỗi nhớ thương da diết của một người xa quê.
- Bài tùy bút đã biểu lộ chân thực và cụ thể tình quê hương, đất nước, lòng
yêu cuộc sống và tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, ngòi bút tài hoa của tác giả .

VIẾT KẾT NỐI VỚI ĐỌC

Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) nêu cảm nhận của em về cảnh sắc
và không khí mùa xuân.
* Yêu cầu:
- Hình thức: đoạn văn dung lượng khoảng 5 đến 7 câu.
- Nội dung: Nêu cảm nhận của em về cảnh sắc và không khí mùa xuân.
+ Khi nhắc đến mùa xuân, điều gì hiện lên đầu tiên trong tâm trí em?
+ Khi hình dung lại rõ hơn về điều đó, em có cảm giác gì?
+ Em hãy tìm những hình ảnh cụ thể để diễn tả những cảm giác đó.

Hãy vẽ một bức tranh về
chủ đề mùa xuân
 
Gửi ý kiến