bài 2. Thiên Trường vãn vọng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: MAI VĂN NĂM
Ngày gửi: 21h:57' 08-10-2025
Dung lượng: 2.5 MB
Số lượt tải: 115
Nguồn:
Người gửi: MAI VĂN NĂM
Ngày gửi: 21h:57' 08-10-2025
Dung lượng: 2.5 MB
Số lượt tải: 115
Số lượt thích:
0 người
Văn bản 2:
THIÊN TRƯỜNG VÃN VỌNG
(Ngắm cảnh Thiên Trường trong buổi chiều tà)
- Trần Nhân Tông-
KHỞI ĐỘNG
Em có thích ngắm cảnh hoàng hôn không? Vì sao?
Mỗi ngày, em đều mong đến lúc được ngắm nhìn hoàng
hôn buông xuống. Em rất thích ngắm cảnh hoàng hôn vì khi
ấy bầu trời có nhiều màu sắc đẹp và yên bình. Ngắm hoàng
hôn giúp em cảm thấy thư giãn, dễ chịu và yêu thiên nhiên
hơn. Mỗi buổi hoàng hôn trôi qua đều để lại trong em một
cảm giác thật nhẹ nhàng và đáng nhớ.
I. ĐỌC – HIỂU CHUNG
1. Đọc
- Đọc to, rõ ràng, diễn cảm.
Chú ý cách ngắt nhịp, gieo
vần của các câu thơ.
- Chiến lược đọc: theo dõi,
hình dung.
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô bán hữu tịch dương biên.
Mục đồng địch lí quy ngưu tận,
Bạch lộ song song phi hạ điền.
Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,
Bóng chiều dường có lại dường không.
Mục đồng sáo vẳng, trâu về hết,
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.
Cước chú:
+ Thiên Trường: quê hương của tác giả (thuộc
tỉnh Nam Định ngày nay).
+ Vãn: buổi chiều
+ Vọng: ngắm, trông
+ Thôn: làng, xóm
+ Hậu: sau
+ Tiền: trước
+ Đạm: nhạt
+ Tự: tựa như
+ Yên: khói
+ Bán: nửa
+ Vô: không
+Hữu: có
+ Tịch: buổi chiều, ban đêm
+ Dương: ánh sáng mặt trời
+ Biên: bên
+ Mục đồng: (mục: nuôi súc vật,
đồng: trẻ con): trẻ chăn trâu, bò.
+ Địch: ống sáo
+ Lí: trong
+ Ngưu: trâu
+ Quy: về
+ Tận: hết
+ Bạch: trắng
+ Lộ: con cò
+ Song: hai cái, một đôi
+ Phi: bay
+ Hạ: xuống
+ Điền: ruộng
2. Tìm hiểu chung:
a. Tác giả
- Trần Nhân Tông (1258 – 1308), vị vua thứ ba
của nhà Trần.
- Ông là vị hoàng đế anh minh lãnh đạo nhân
dân ta đánh thắng hai cuộc xâm lược của quân
Nguyên và khôi phục nền kinh tế, văn hóa Đại
Việt.
- Ông là vị thiền sư sáng lập dòng thiền Trúc
Lâm Yên Tử, đồng thời là một tác giả có đóng
góp quan trọng cho nền văn học dân tộc.
anh minh: trí tuệ thông minh, sáng suốt
- Đặc điểm thơ:
+ Tràn đầy cảm hứng yêu nước và hào khí
Đông A; cảm xúc rất tinh tế, lãng mạn, sâu
sắc mà vẫn gần gũi, thân thuộc.
+ Ngôn ngữ thơ hàm súc; hình ảnh thơ vừa
chân thực, bình dị vừa giàu ý nghĩa ẩn dụ,
tượng trưng.
+ Luôn thể hiện cái nhìn trìu mến, nâng niu;
tình cảm gắn bó với cảnh sắc thiên nhiên đất
nước và cuộc sống của nhân dân.
b. Tác phẩm
* Hoàn cảnh sáng tác:
Khoảng những năm 90 của thế kỉ
XIII, dịp nhà thơ về thăm quê cũ ở
Thiên Trường (Nam Định).
* Thể thơ:
Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
1. Đặc điểm thi luật của thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật trong bài
thơ.
HS trả lời câu 1, trang 44.
(Số câu, chữ trong bài thơ, bố cục, niêm, luật bằng trắc, vần, nhịp)
* Số câu, chữ trong bài thơ:
Mỗi bài thơ có 4 câu, mỗi câu 7 chữ (tiếng)
* Bố cục:
Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,
- Khởi (khai): Mở ý cho thơ.
Bóng chiều dường có lại dường không.
- Thừa: Tiếp nối, phát triển ý thơ.
Mục đồng sáo vẳng, trâu về hết,
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.
- Chuyển: Chuyển hướng ý thơ.
- Hợp: Thâu tóm ý tứ của toàn bài.
* Niêm:
Chữ thứ 2 của các cặp câu 1- 4, 2- 3 cùng thanh
Câu
1
2
3
4
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
T
Bán vô bán hữu tịch dương biên.
B
Mục đồng địch lí quy ngưu tận,
B
Bạch lộ song song phi hạ điền.
T
Niêm
Niêm
Câu
1
2
3
4
Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,
T
Bóng chiều dường có lại dường không.
B
Mục đồng sáo vẳng, trâu về hết,
B
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.
T
Niêm
Niêm
*Luật bằng trắc:
-Luật trắc (căn cứ vào chữ thứ 2 câu đầu).
-Trong mỗi câu, các thanh bằng, trắc đan xen nhau (bắt buộc ở các tiếng
2, 4, 6): 2B - 1T, 2T - 1B.
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
T
B
T
Bán vô bán hữu tịch dương biên.
B
T
B
Mục đồng địch lí quy ngưu tận,
B
T
B
Bạch lộ song song phi hạ điền.
T
B
T
Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,
T
B
T
Bóng chiều dường có lại dường không.
B
T
B
Mục đồng sáo vẳng, trâu về hết,
B
T
B
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.
T
B
B
- Trong mỗi cặp câu, các thanh bằng, trắc phải ngược nhau.
Ví dụ:
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
T
B
T
Câu 1 - 2
Bán vô bán hữu tịch dương biên.
B
T
B
Mục đồng địch lí quy ngưu tận,
B
T
B
Câu 3 - 4
Bạch lộ song song phi hạ điền.
T
B
T
* Vần
Vần bằng ở chữ cuối của các câu
1,2,4
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô bán hữu tịch dương biên.
Mục đồng địch lí quy ngưu tận,
Bạch lộ song song phi hạ điền.
Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,
Bóng chiều dường có lại dường không.
Mục đồng sáo vẳng, trâu về hết,
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.
* Nhịp:
4/3
Thôn hậu thôn tiền / đạm tự yên,
Bán vô bán hữu / tịch dương biên.
Mục đồng địch lí / quy ngưu tận,
Bạch lộ song song / phi hạ điền.
2. Bức tranh làng quê thôn dã
(Phiếu học tập)
Không gian
Thời gian
Ánh sáng, âm thanh,
màu sắc, cảnh vật
Nhận xét về bức tranh
làng quê thôn dã
* Thời gian:
Buổi hoàng hôn, mùa thu.
* Không gian:
Làng quê.
- Không gian trải rộng, từ xa đến gần: nhan đề
“vãn vọng” (trông xa), hình ảnh “sau thôn,
trước thôn), từ toàn cảnh đến cận cảnh.
- Không gian trải dài: theo con đường trẻ mục
đồng “lùa trâu về hết”.
- Không gian được nối từ cao xuống thấp: theo
những đôi cò trắng bay liệng, đậu xuống cánh
đồng.
* Ánh sáng, âm thanh, màu sắc, cảnh vật:
- Trước thôn, sau thôn “mờ mờ như khói phủ” (khói nhạt).
- Cảnh hoàng hôn mờ ảo “nửa như có, nửa như không”. -> Quang cảnh chập
chờn, bảng lảng, man mác khiến cho bóng chiều nơi đồng quê càng thêm
lắng đọng trong lòng người.
- Tiếng sáo vẳng mục đồng dẫn trâu về. -> Gợi không gian thanh tĩnh, khi
mọi hoạt động dần lắng xuống, con người và loài vật đều tìm về nơi sum
vầy, nghỉ ngơi.
- Từng đôi cò trắng liệng xuống đồng. -> Hình ảnh gần gũi, thân quen nơi
những cánh đồng quê Bắc Bộ, gợi nhịp sống bình yên, ấm áp.
=> Bức tranh cuộc sống làng quê thanh bình, thơ mộng, đáng yêu.
3. Con người nhà thơ
Theo em, qua bức tranh thiên nhiên
và cuộc sống được tái hiện trong bài
thơ, tác giả bộc lộ cảm xúc, tâm trạng
gì?
- Tình yêu thương, thái độ trân trọng
dành cho thiên nhiên, con người, cuộc
sống.
- Niềm vui, hạnh phúc trước vẻ đẹp
thanh bình của cuộc sống đời thường.
Câu kết trong bài thơ tứ tuyệt Đường luật thường để lại dư âm. Hãy cho biết
câu kết trong “Thiên Trường vãn vọng” có thể gợi cho em những cảm xúc,
suy nghĩ gì?
Bạch lộ song song phi hạ điền
(Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng)
Tính hàm súc và tính chất “mở” của thơ tứ tuyệt Đường luật – lời hết mà ý
chưa hết.
- Vẻ đẹp của cuộc sống thanh bình: Câu thơ gợi khung cảnh đồng quê bình
yên, mở ra liên tưởng về những vụ mùa no ấm, về sự sống sinh sôi nảy nở,
nhịp sống bình yên quý giá sau những năm tháng chống quân Nguyên xâm
lược.
- Vẻ đẹp của tâm hồn tác giả được thể hiện qua tình yêu thương bao trùm
vạn vật; thái độ nâng niu, trân trọng vẻ đẹp bình dị của đời thường; niềm
hạnh phúc trước cuộc sống thanh bình của nhân dân.
Tác giả “Thiên Trường vãn vọng” còn là một vị vua. Điều đó gợi cho em
những suy nghĩ gì khi đọc bài thơ?
Tác giả tuy có địa vị tối cao nhưng vẫn có tâm hồn giản dị, yêu thiên nhiên
và quê hương tha thiết.
(Tác giả là một vị vua, tâm hồn như vậy không dễ gì có được.)
III. TỔNG KẾT
1. Nội dung
- Bài thơ là bức tranh cuộc
sống bình yên, thơ mộng nơi
làng quê trong buổi hoàng hôn.
- Tâm hồn gắn bó máu thịt,
thắm thiết với cuộc sống bình
dị của tác giả - một vị hoàng đế
- thi nhân.
2. Nghệ thuật
- Lựa chọn ngôn ngữ tinh tế,
hàm súc (đậm chất hội hoạ,
ca nhạc).
- Hình ảnh nên thơ, bình dị.
- Dùng cái hư làm nổi bật
cái thực và ngược lại.
- Điệp ngữ, tiểu đối, tạo
nhịp điệu thơ êm ái, hài hoà.
VIẾT KẾT NỐI VỚI ĐỌC
Viết đoạn văn (khoảng 7 - 9 câu) trình bày cảm nhận của
em về nhan đề hoặc một hình ảnh đặc sắc trong bài thơ
"Thiên Trường vãn vọng" của Trân Nhân Tông.
Nhan đề “Thiên Trường vãn vọng” (Ngắm cảnh buổi chiều ở Thiên
Trường) gợi mở một khung cảnh quê hương yên bình và chứa đựng nhiều
tầng ý nghĩa sâu sắc. “Thiên Trường” là quê hương của vua Trần Nhân Tông
– nơi gắn bó với tuổi thơ và tình cảm máu thịt của nhà vua đối với nhân dân.
Hai chữ “vãn vọng” nghĩa là ngắm cảnh lúc chiều tà, gợi cảm giác tĩnh lặng,
thanh thoát và tràn đầy suy tư. Nhan đề ấy không chỉ nói về một buổi chiều
bình thường mà còn ẩn chứa tâm thế của một vị vua biết lắng lòng trước vẻ
đẹp giản dị của quê hương, của cuộc sống lao động dân dã. Giữa khung cảnh
chiều quê yên ả, lòng nhà vua như hòa làm một với thiên nhiên và con
người. Qua nhan đề, ta cảm nhận được tâm hồn thanh cao, nhân hậu và trí
tuệ minh triết của một vị vua – thiền sư. Nhan đề ngắn gọn mà giàu sức gợi,
vừa vẽ nên một bức tranh quê thanh bình, vừa thể hiện chiều sâu tư tưởng và
tình cảm yêu nước, thương dân sâu sắc của Trần Nhân Tông.
Hình ảnh “Bạch lộ song song phi hạ điền” (Cò trắng từng
đôi liệng xuống đồng) trong bài thơ “Thiên Trường vãn vọng” là
một nét vẽ tuyệt đẹp, gợi lên vẻ thanh bình, trong sáng của làng
quê Việt. Trên nền trời buổi chiều êm ả, những cánh cò trắng nhẹ
nhàng bay lượn rồi đáp xuống cánh đồng vàng đang chìm trong
ánh hoàng hôn, tạo nên một bức tranh thơ mộng và tràn đầy sức
sống. Hình ảnh ấy không chỉ khắc họa vẻ đẹp tự nhiên, hiền hòa
của quê hương mà còn tượng trưng cho cuộc sống thanh thản,
yên vui của người dân sau một ngày lao động vất vả. Màu trắng
của cánh cò nổi bật giữa không gian mênh mang, gợi cảm giác
tinh khiết, thanh cao – cũng chính là tâm hồn trong sáng, giản dị
của nhà vua. Giữa cảnh chiều quê thanh bình, Trần Nhân Tông
không chỉ nhìn thấy cảnh mà còn cảm nhận được tình người, tình
đời, thấy niềm vui ấm áp trong sự yên ả của dân quê. Câu thơ
mang vẻ đẹp chan hòa giữa thiên nhiên và con người, thể hiện
tấm lòng yêu quê hương, thương dân sâu sắc và tâm hồn thanh
tịnh của vị vua – thiền sư.
THIÊN TRƯỜNG VÃN VỌNG
(Ngắm cảnh Thiên Trường trong buổi chiều tà)
- Trần Nhân Tông-
KHỞI ĐỘNG
Em có thích ngắm cảnh hoàng hôn không? Vì sao?
Mỗi ngày, em đều mong đến lúc được ngắm nhìn hoàng
hôn buông xuống. Em rất thích ngắm cảnh hoàng hôn vì khi
ấy bầu trời có nhiều màu sắc đẹp và yên bình. Ngắm hoàng
hôn giúp em cảm thấy thư giãn, dễ chịu và yêu thiên nhiên
hơn. Mỗi buổi hoàng hôn trôi qua đều để lại trong em một
cảm giác thật nhẹ nhàng và đáng nhớ.
I. ĐỌC – HIỂU CHUNG
1. Đọc
- Đọc to, rõ ràng, diễn cảm.
Chú ý cách ngắt nhịp, gieo
vần của các câu thơ.
- Chiến lược đọc: theo dõi,
hình dung.
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô bán hữu tịch dương biên.
Mục đồng địch lí quy ngưu tận,
Bạch lộ song song phi hạ điền.
Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,
Bóng chiều dường có lại dường không.
Mục đồng sáo vẳng, trâu về hết,
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.
Cước chú:
+ Thiên Trường: quê hương của tác giả (thuộc
tỉnh Nam Định ngày nay).
+ Vãn: buổi chiều
+ Vọng: ngắm, trông
+ Thôn: làng, xóm
+ Hậu: sau
+ Tiền: trước
+ Đạm: nhạt
+ Tự: tựa như
+ Yên: khói
+ Bán: nửa
+ Vô: không
+Hữu: có
+ Tịch: buổi chiều, ban đêm
+ Dương: ánh sáng mặt trời
+ Biên: bên
+ Mục đồng: (mục: nuôi súc vật,
đồng: trẻ con): trẻ chăn trâu, bò.
+ Địch: ống sáo
+ Lí: trong
+ Ngưu: trâu
+ Quy: về
+ Tận: hết
+ Bạch: trắng
+ Lộ: con cò
+ Song: hai cái, một đôi
+ Phi: bay
+ Hạ: xuống
+ Điền: ruộng
2. Tìm hiểu chung:
a. Tác giả
- Trần Nhân Tông (1258 – 1308), vị vua thứ ba
của nhà Trần.
- Ông là vị hoàng đế anh minh lãnh đạo nhân
dân ta đánh thắng hai cuộc xâm lược của quân
Nguyên và khôi phục nền kinh tế, văn hóa Đại
Việt.
- Ông là vị thiền sư sáng lập dòng thiền Trúc
Lâm Yên Tử, đồng thời là một tác giả có đóng
góp quan trọng cho nền văn học dân tộc.
anh minh: trí tuệ thông minh, sáng suốt
- Đặc điểm thơ:
+ Tràn đầy cảm hứng yêu nước và hào khí
Đông A; cảm xúc rất tinh tế, lãng mạn, sâu
sắc mà vẫn gần gũi, thân thuộc.
+ Ngôn ngữ thơ hàm súc; hình ảnh thơ vừa
chân thực, bình dị vừa giàu ý nghĩa ẩn dụ,
tượng trưng.
+ Luôn thể hiện cái nhìn trìu mến, nâng niu;
tình cảm gắn bó với cảnh sắc thiên nhiên đất
nước và cuộc sống của nhân dân.
b. Tác phẩm
* Hoàn cảnh sáng tác:
Khoảng những năm 90 của thế kỉ
XIII, dịp nhà thơ về thăm quê cũ ở
Thiên Trường (Nam Định).
* Thể thơ:
Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
1. Đặc điểm thi luật của thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật trong bài
thơ.
HS trả lời câu 1, trang 44.
(Số câu, chữ trong bài thơ, bố cục, niêm, luật bằng trắc, vần, nhịp)
* Số câu, chữ trong bài thơ:
Mỗi bài thơ có 4 câu, mỗi câu 7 chữ (tiếng)
* Bố cục:
Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,
- Khởi (khai): Mở ý cho thơ.
Bóng chiều dường có lại dường không.
- Thừa: Tiếp nối, phát triển ý thơ.
Mục đồng sáo vẳng, trâu về hết,
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.
- Chuyển: Chuyển hướng ý thơ.
- Hợp: Thâu tóm ý tứ của toàn bài.
* Niêm:
Chữ thứ 2 của các cặp câu 1- 4, 2- 3 cùng thanh
Câu
1
2
3
4
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
T
Bán vô bán hữu tịch dương biên.
B
Mục đồng địch lí quy ngưu tận,
B
Bạch lộ song song phi hạ điền.
T
Niêm
Niêm
Câu
1
2
3
4
Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,
T
Bóng chiều dường có lại dường không.
B
Mục đồng sáo vẳng, trâu về hết,
B
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.
T
Niêm
Niêm
*Luật bằng trắc:
-Luật trắc (căn cứ vào chữ thứ 2 câu đầu).
-Trong mỗi câu, các thanh bằng, trắc đan xen nhau (bắt buộc ở các tiếng
2, 4, 6): 2B - 1T, 2T - 1B.
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
T
B
T
Bán vô bán hữu tịch dương biên.
B
T
B
Mục đồng địch lí quy ngưu tận,
B
T
B
Bạch lộ song song phi hạ điền.
T
B
T
Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,
T
B
T
Bóng chiều dường có lại dường không.
B
T
B
Mục đồng sáo vẳng, trâu về hết,
B
T
B
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.
T
B
B
- Trong mỗi cặp câu, các thanh bằng, trắc phải ngược nhau.
Ví dụ:
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
T
B
T
Câu 1 - 2
Bán vô bán hữu tịch dương biên.
B
T
B
Mục đồng địch lí quy ngưu tận,
B
T
B
Câu 3 - 4
Bạch lộ song song phi hạ điền.
T
B
T
* Vần
Vần bằng ở chữ cuối của các câu
1,2,4
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô bán hữu tịch dương biên.
Mục đồng địch lí quy ngưu tận,
Bạch lộ song song phi hạ điền.
Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,
Bóng chiều dường có lại dường không.
Mục đồng sáo vẳng, trâu về hết,
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.
* Nhịp:
4/3
Thôn hậu thôn tiền / đạm tự yên,
Bán vô bán hữu / tịch dương biên.
Mục đồng địch lí / quy ngưu tận,
Bạch lộ song song / phi hạ điền.
2. Bức tranh làng quê thôn dã
(Phiếu học tập)
Không gian
Thời gian
Ánh sáng, âm thanh,
màu sắc, cảnh vật
Nhận xét về bức tranh
làng quê thôn dã
* Thời gian:
Buổi hoàng hôn, mùa thu.
* Không gian:
Làng quê.
- Không gian trải rộng, từ xa đến gần: nhan đề
“vãn vọng” (trông xa), hình ảnh “sau thôn,
trước thôn), từ toàn cảnh đến cận cảnh.
- Không gian trải dài: theo con đường trẻ mục
đồng “lùa trâu về hết”.
- Không gian được nối từ cao xuống thấp: theo
những đôi cò trắng bay liệng, đậu xuống cánh
đồng.
* Ánh sáng, âm thanh, màu sắc, cảnh vật:
- Trước thôn, sau thôn “mờ mờ như khói phủ” (khói nhạt).
- Cảnh hoàng hôn mờ ảo “nửa như có, nửa như không”. -> Quang cảnh chập
chờn, bảng lảng, man mác khiến cho bóng chiều nơi đồng quê càng thêm
lắng đọng trong lòng người.
- Tiếng sáo vẳng mục đồng dẫn trâu về. -> Gợi không gian thanh tĩnh, khi
mọi hoạt động dần lắng xuống, con người và loài vật đều tìm về nơi sum
vầy, nghỉ ngơi.
- Từng đôi cò trắng liệng xuống đồng. -> Hình ảnh gần gũi, thân quen nơi
những cánh đồng quê Bắc Bộ, gợi nhịp sống bình yên, ấm áp.
=> Bức tranh cuộc sống làng quê thanh bình, thơ mộng, đáng yêu.
3. Con người nhà thơ
Theo em, qua bức tranh thiên nhiên
và cuộc sống được tái hiện trong bài
thơ, tác giả bộc lộ cảm xúc, tâm trạng
gì?
- Tình yêu thương, thái độ trân trọng
dành cho thiên nhiên, con người, cuộc
sống.
- Niềm vui, hạnh phúc trước vẻ đẹp
thanh bình của cuộc sống đời thường.
Câu kết trong bài thơ tứ tuyệt Đường luật thường để lại dư âm. Hãy cho biết
câu kết trong “Thiên Trường vãn vọng” có thể gợi cho em những cảm xúc,
suy nghĩ gì?
Bạch lộ song song phi hạ điền
(Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng)
Tính hàm súc và tính chất “mở” của thơ tứ tuyệt Đường luật – lời hết mà ý
chưa hết.
- Vẻ đẹp của cuộc sống thanh bình: Câu thơ gợi khung cảnh đồng quê bình
yên, mở ra liên tưởng về những vụ mùa no ấm, về sự sống sinh sôi nảy nở,
nhịp sống bình yên quý giá sau những năm tháng chống quân Nguyên xâm
lược.
- Vẻ đẹp của tâm hồn tác giả được thể hiện qua tình yêu thương bao trùm
vạn vật; thái độ nâng niu, trân trọng vẻ đẹp bình dị của đời thường; niềm
hạnh phúc trước cuộc sống thanh bình của nhân dân.
Tác giả “Thiên Trường vãn vọng” còn là một vị vua. Điều đó gợi cho em
những suy nghĩ gì khi đọc bài thơ?
Tác giả tuy có địa vị tối cao nhưng vẫn có tâm hồn giản dị, yêu thiên nhiên
và quê hương tha thiết.
(Tác giả là một vị vua, tâm hồn như vậy không dễ gì có được.)
III. TỔNG KẾT
1. Nội dung
- Bài thơ là bức tranh cuộc
sống bình yên, thơ mộng nơi
làng quê trong buổi hoàng hôn.
- Tâm hồn gắn bó máu thịt,
thắm thiết với cuộc sống bình
dị của tác giả - một vị hoàng đế
- thi nhân.
2. Nghệ thuật
- Lựa chọn ngôn ngữ tinh tế,
hàm súc (đậm chất hội hoạ,
ca nhạc).
- Hình ảnh nên thơ, bình dị.
- Dùng cái hư làm nổi bật
cái thực và ngược lại.
- Điệp ngữ, tiểu đối, tạo
nhịp điệu thơ êm ái, hài hoà.
VIẾT KẾT NỐI VỚI ĐỌC
Viết đoạn văn (khoảng 7 - 9 câu) trình bày cảm nhận của
em về nhan đề hoặc một hình ảnh đặc sắc trong bài thơ
"Thiên Trường vãn vọng" của Trân Nhân Tông.
Nhan đề “Thiên Trường vãn vọng” (Ngắm cảnh buổi chiều ở Thiên
Trường) gợi mở một khung cảnh quê hương yên bình và chứa đựng nhiều
tầng ý nghĩa sâu sắc. “Thiên Trường” là quê hương của vua Trần Nhân Tông
– nơi gắn bó với tuổi thơ và tình cảm máu thịt của nhà vua đối với nhân dân.
Hai chữ “vãn vọng” nghĩa là ngắm cảnh lúc chiều tà, gợi cảm giác tĩnh lặng,
thanh thoát và tràn đầy suy tư. Nhan đề ấy không chỉ nói về một buổi chiều
bình thường mà còn ẩn chứa tâm thế của một vị vua biết lắng lòng trước vẻ
đẹp giản dị của quê hương, của cuộc sống lao động dân dã. Giữa khung cảnh
chiều quê yên ả, lòng nhà vua như hòa làm một với thiên nhiên và con
người. Qua nhan đề, ta cảm nhận được tâm hồn thanh cao, nhân hậu và trí
tuệ minh triết của một vị vua – thiền sư. Nhan đề ngắn gọn mà giàu sức gợi,
vừa vẽ nên một bức tranh quê thanh bình, vừa thể hiện chiều sâu tư tưởng và
tình cảm yêu nước, thương dân sâu sắc của Trần Nhân Tông.
Hình ảnh “Bạch lộ song song phi hạ điền” (Cò trắng từng
đôi liệng xuống đồng) trong bài thơ “Thiên Trường vãn vọng” là
một nét vẽ tuyệt đẹp, gợi lên vẻ thanh bình, trong sáng của làng
quê Việt. Trên nền trời buổi chiều êm ả, những cánh cò trắng nhẹ
nhàng bay lượn rồi đáp xuống cánh đồng vàng đang chìm trong
ánh hoàng hôn, tạo nên một bức tranh thơ mộng và tràn đầy sức
sống. Hình ảnh ấy không chỉ khắc họa vẻ đẹp tự nhiên, hiền hòa
của quê hương mà còn tượng trưng cho cuộc sống thanh thản,
yên vui của người dân sau một ngày lao động vất vả. Màu trắng
của cánh cò nổi bật giữa không gian mênh mang, gợi cảm giác
tinh khiết, thanh cao – cũng chính là tâm hồn trong sáng, giản dị
của nhà vua. Giữa cảnh chiều quê thanh bình, Trần Nhân Tông
không chỉ nhìn thấy cảnh mà còn cảm nhận được tình người, tình
đời, thấy niềm vui ấm áp trong sự yên ả của dân quê. Câu thơ
mang vẻ đẹp chan hòa giữa thiên nhiên và con người, thể hiện
tấm lòng yêu quê hương, thương dân sâu sắc và tâm hồn thanh
tịnh của vị vua – thiền sư.
 








Các ý kiến mới nhất