Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Bài 7. Viết đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về một bài thơ tự do

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: MAI VĂN NĂM
Ngày gửi: 22h:45' 02-03-2026
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 195
Số lượt thích: 1 người (dương thị kim dung)
VIẾT ĐOẠN VĂN
GHI LẠI CẢM NGHĨ
VỀ MỘT BÀI THƠ TỰ DO

-Kể tên một số bài thơ tự do mà em biết hoặc đã được học.
-Bài thơ tự do nào đã để lại cho em ấn tượng sâu sắc nhất? Vì sao?
- Học sinh đọc phần mở đầu SGK.

I. YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIẾT ĐOẠN VĂN GHI LẠI CẢM NGHĨ
VỀ MỘT BÀI THƠ TỰ DO
- Giới thiệu được bài thơ, tác giả; nêu cảm nghĩ chung về bài thơ.
- Nêu được cảm nghĩ về nội dung và nghệ thuật; nêu được tác dụng
của thể thơ tự do trong việc thể hiện mạch cảm xúc, tạo nên nét độc
đáo của bài thơ.
- Khái quát được cảm nghĩ về bài thơ (thông điệp bài thơ).

II. PHÂN TÍCH BÀI VIẾT THAM KHẢO
“Lá đỏ” – niềm tin và hi vọng ngày chiến thắng
Gặp em trên cao lộng gió
Rừng lạ ào ào lá đỏ
Em đứng bên đường
như quê hương
Vai áo bạc quàng súng trường
Đoàn quân vẫn đi vội vã
Bụi Trường Sơn nhoà trời lửa
Chào em, em gái tiền phương
Hẹn gặp nhau nhé giữa Sài Gòn...

Xác định bố cục của đoạn văn (mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn).
* Mở đoạn:
- Tìm câu văn giới thiệu bài thơ, tác giả.
Bài thơ “Lá đỏ” được viết vào năm 1974, trong thời
gian nhà thơ Nguyễn Đình Thi đến với chiến trường
Tây Nguyên.
- Tìm câu văn nêu cảm nghĩ chung về bài thơ.
Ra đời trong bom rơi, đạn nổ, vào thời điểm khốc liệt của cuộc
chiến đấu giải phóng miền Nam, bài thơ vẫn ngời lên niềm tin,
niềm hi vọng.

* Thân đoạn:
-Tìm những câu văn trình bày cảm nghĩ về nội dung
và nghệ thuật của bài thơ.
“Mạch cảm xúc (...) vào thắng lợi cuối cùng”.
- Tìm câu văn nêu tác dụng của thể thơ tự do trong
việc tạo nên nét độc đáo của bài thơ.
Thể thơ tự do với hình thức phóng khoáng; vần, nhịp
linh hoạt giúp nhà thơ khắc hoạ được bối cảnh Trường
Sơn hùng vĩ, khí thế hào hùng, tâm hồn lạc quan phơi
phới của đoàn quân ra trận.

* Kết đoạn:
Tìm câu văn nêu khái quát cảm nghĩ về bài thơ.
Bài thơ ra đời cách đây gần nửa thế kỉ vẫn gọi lên
trong lòng người đọc niềm xúc động, tự hào, lòng biết
ơn thế hệ cha anh đã hiến dâng tuổi xanh cho hoà
bình của đất nước.

III. THỰC HÀNH VIẾT THEO CÁC BƯỚC
1. Trước khi viết
a. Lựa chọn bài thơ
- Yêu thích.
- Phù hợp với lứa tuổi, với khả năng cảm nhận của em.

b. Tìm ý
- Đọc bài thơ nhiều lần để cảm nhận âm điệu, mạch cảm xúc của
nó.
- Ghi lại cảm nghĩ của em về những nét đặc sắc trên hai phương
diện nội dung và nghệ thuật của bài thơ:
+ Thể thơ, vần, nhịp.
+ Yếu tố miêu tả, hình ảnh nổi bật, từ ngữ đặc sắc, biện pháp tu
từ….
+ Nội dung cảm xúc, thông điệp của bài thơ.
- Xác định cảm nghĩ chung về về bài thơ (sử dụng những từ ngữ
diễn tả cảm xúc như xúc động, tự hào, biết ơn,…).

c. Lập dàn ý
- Mở đoạn: Giới thiệu bài thơ và tác giả; nêu cảm nghĩ
chung về bài thơ
- Thân đoạn:
+ Trình bày cảm nghĩ về nét độc đáo của bài thơ trên hai
phương diện nội dung (chủ đề, thông điệp, hình ảnh, cảm
xúc...) và nghệ thuật (thể thơ, vần, nhịp, hình ảnh, từ ngữ,
biện pháp tu từ...).
+ Nêu tác dụng của thể thơ tự do trong việc thể hiện mạch
cảm xúc, nét độc đáo của bài thơ.
- Kết đoạn: Nêu khái quát cảm nghĩ về bài thơ.

2. Viết bài
- Sắp xếp bố cục của đoạn văn nêu cảm nghĩ về một bài thơ tự do cũng
tương tự như đoạn văn nói chung (Mở đoạn, Thân đoạn, Kết đoạn). Mỗi
phần trong đoạn văn cần liên kết chặt chẽ với nhau về nội dung: giới
thiệu được bài thơ và trình bày được cảm nghĩ về phương diện nội dung,
nghệ thuật, khái quát được những điều đã trình bày. Chú ý sử dụng các
phương tiện liên kết hình thức phù hợp để thể hiện được mối quan hệ về
nội dung.
- Lựa chọn từ ngữ và các kiểu câu phù hợp để biểu đạt được đúng cảm
nghĩ về nội dung, nghệ thuật của bài thơ.
- Trình bày đúng quy định về hình thức đối với đoạn văn: Các câu được
viết liên tục (không xuống dòng), câu đầu tiên viết lùi đầu dòng.

Yêu cầu
Đạt
1. Đảm bảo hình thức, cấu trúc một đoạn văn  
hoàn chỉnh.
2. Mở đoạn giới thiệu được về tác giả, tác  
phẩm; cảm nhận chung về bài thơ.
3. Thân đoạn phân tích bài thơ theo hệ thống ý  
tương ứng, hợp lí, làm rõ được đặc sắc nội
dung và nghệ thuật của bài thơ.
4. Kết đoạn khẳng định vị trí và ý nghĩa của  
bài thơ.
5. Tỉ lệ các phần, dung lượng và quy mô các ý  
trong bài viết cân đối, phù hợp.
6. Đảm bảo yêu cầu về chính tả, diễn đạt  
(logic, dùng từ, đặt câu, sử dụng từ ngữ liên kết
câu và đoạn văn,...).

 
 
 

 
 
 

Không đạt

Hướng sửa chữa

IV. LUYỆN TẬP, VẬN DỤNG
Hãy viết một đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về
một bài thơ tự do.

KHOẢNG TRỜI – HỐ BOM
(Lâm Thị Mĩ Dạ)
Chuyện kể rằng: em, cô gái mở đường
Để cứu con đường đêm ấy khỏi bị thương
Cho đoàn xe kịp giờ ra trận
Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa
Đánh lạc hướng thù, hứng lấy luồng bom...
Đơn vị tôi hành quân qua con đường mòn
Gặp hố bom nhắc chuyện người con gái
Một nấm mồ, nắng ngời bao sắc đá,
Tình yêu thương bồi đắp cao lên...
Tôi nhìn xuống hố bom đã giết em
Mưa đọng lại một khoảng trời nho nhỏ
Đất nước mình nhân hậu
Có nước trời xoa dịu vết thương đau.

Em nằm dưới đất sâu
Như khoảng trời đã nằm yên trong đất
Đêm đêm, tâm hồn em toả sáng
Những vì sao ngời chói, lung linh.
Có phải thịt da em mềm mại, trắng trong
Đã hoá thành những làn mây trắng?
Và ban ngày khoảng trời ngập nắng
Đi qua khoảng trời em - Vầng dương thao thức
Hỡi mặt trời, hay chính trái tim em trong ngực
Soi cho tôi
Ngày hôm nay bước tiếp quãng đường dài?
Tên con đường là tên em gửi lại
Cái chết em xanh khoảng-trời-con-gái
Tôi soi lòng mình trong cuộc sống của em
Gương mặt em, bạn bè tôi không biết
Nên mỗi người có gương mặt em riêng!
Trường Sơn, 10-1972

Trong dòng thơ chống Mĩ, “Khoảng trời – hố bom” của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
là một thi phẩm đặc sắc, khắc họa vẻ đẹp trong trẻo mà kiên cường của những
cô gái thanh niên xung phong nơi tuyến lửa Trường Sơn. Bài thơ mở ra bằng sự
đối lập giữa tàn khốc và bình yên, giữa cái chết và sự sống, để rồi từ đó lay động
người đọc bằng hình ảnh cao đẹp của một tâm hồn trẻ trung đã hóa thành
“khoảng trời” bất tử. Ấn tượng đọng lại ở bài thơ không chỉ nằm ở nỗi xót thương
mà còn ở sự kính phục sâu xa trước vẻ đẹp tinh thần của con người Việt Nam
trong chiến tranh. Điều tạo nên nét độc đáo đầu tiên của bài thơ nằm ở phương
diện nội dung. Tác giả không kể lại chiến tranh bằng âm thanh bom đạn hay
những cảnh tượng dữ dội, mà lựa chọn tái hiện nó qua hình ảnh hố bom – vết
thương mà chiến tranh để lại trên mảnh đất Trường Sơn. Chính tại nơi tàn khốc
ấy, vẻ đẹp lặng thầm của cô gái thanh niên xung phong hiện lên diệu kì: hồn
nhiên, trong sáng, đầy lòng dũng cảm. Sự hi sinh của cô không được miêu tả bi
thương; trái lại, nó được nâng lên thành một biểu tượng: từ trong hố bom,
“khoảng trời” xanh vẫn soi xuống, gợi nên cảm giác tâm hồn cô như hòa vào
thiên nhiên, hóa thành ánh sáng bất diệt. Sự đối lập giữa “khoảng trời” và
“hố

bom” vì thế không chỉ mang ý nghĩa tả thực mà còn là một cấu trúc mang tính
biểu tượng, khẳng định chiến tranh có thể hủy hoại thân thể con người nhưng
không thể dập tắt vẻ đẹp của lý tưởng và ước mơ. Về nghệ thuật, bài thơ đặc
sắc ở chất tượng trưng và lối liên tưởng tinh tế. Các hình ảnh được đặt cạnh
nhau một cách có chủ đích, tạo ra đối sánh giàu giá trị: khoảng trời – hố bom,
ánh sáng – tối tăm, trong trẻo – tàn khốc. Giọng thơ nhẹ mà thấm, không gào
thét, không bi lụy, như chính sự thủ thỉ của một tâm hồn nhạy cảm đang hồi
tưởng một mất mát không thể nguôi. Ngôn ngữ thơ giản dị, giàu sức gợi, khiến
hình ảnh cô gái trở nên lung linh, đẹp mà đau, mong manh mà bất tử. Một
điểm đáng chú ý là tác phẩm được viết bằng thể thơ tự do, tạo điều kiện cho
cảm xúc tuôn chảy tự nhiên. Nhịp thơ khi ngắn khi dài như nhịp của dòng hồi
ức lúc nghẹn lại, lúc dào dạt. Sự linh hoạt ấy giúp nhà thơ biểu đạt trọn vẹn
những chuyển động tinh tế của cảm xúc: từ nỗi bàng hoàng trước hố bom
loang lổ, đến sự xót xa và cuối cùng là niềm tôn kính sâu nặng. Thể thơ tự do
cũng làm nổi bật nét độc đáo của hình tượng thơ – nơi cái đẹp và cái đau đan
xen, nơi hiện thực khốc liệt hòa lẫn với vẻ đẹp mang tính biểu

tượng, tạo nên dư âm ám ảnh mà khó quên. “Khoảng trời – hố
bom” là một khúc tưởng niệm lặng lẽ nhưng đầy sức nặng,
tôn vinh vẻ đẹp thánh thiện của người con gái Việt Nam trong
chiến tranh. Bài thơ khép lại nhưng khoảng trời xanh trong hố
bom năm ấy vẫn còn lay động tâm trí người đọc như lời nhắc
nhở về sự hi sinh lớn lao mà bình dị. Đó cũng là lí do khiến tác
phẩm trở thành dấu ấn sâu đậm trong thơ ca thời chống Mĩ –
một vẻ đẹp lặng thầm mà bất diệt.

NHỮNG CÁNH BUỒM
(Hoàng Trung Thông)
Hai cha con bước đi trên cát
Ánh mặt trời rực rỡ biển xanh
Bóng cha dài lênh khênh
Bóng con tròn chắc nịch.
Sau trận mưa đêm rả rích
Cát càng mịn, biển càng trong.
Cha dắt con đi dưới ánh mai hồng,
Nghe con bước lòng vui phơi phới.
Con bỗng lắc tay cha khẽ hỏi:
“Cha ơi!
Sao xa kia chỉ thấy nước, thấy trời
Không thấy nhà, không thấy cây, không thấy người ở đó?”

Cha mỉm cười xoa đầu con nhỏ:
“Theo cánh buồm đi mãi đến nơi xa,
Sẽ có cây, có cửa, có nhà
Vẫn là đất nước của ta,
Ở nơi đó cha chưa hề đi đến.”
Cha lại dắt con đi trên cát mịn,
Ánh nắng chảy đầy vai,
Cha trầm ngâm nhìn mãi cuối chân trời,
Con lại trỏ cánh buồm xa hỏi khẽ:
“Cha mượn cho con buồm trắng nhé,
Để con đi...”
Lời của con hay tiếng sóng thầm thì
Hay tiếng của lòng cha từ một thời xa thẳm
Lần đầu tiên trước biển khơi vô tận
Cha gặp lại mình trong tiếng ước mơ con.
1963

Bài thơ “Những cánh buồm” của nhà thơ Hoàng Trung Thông là một
tác phẩm giàu giá trị nhân văn, được sáng tác trong bối cảnh gợi lên
niềm tin và hy vọng vào một tương lai tươi sáng. Bài thơ đã để lại trong
em cảm xúc sâu sắc về tình cha con thiêng liêng, sự ấm áp trong gia
đình, đồng thời khơi dậy niềm ngưỡng mộ với những ước mơ trong sáng
và khát vọng vươn tới những chân trời mới. Về phương diện nội dung, nét
độc đáo của bài thơ được thể hiện qua hình ảnh trung tâm là hai cha con
bên bờ biển và biểu tượng cánh buồm trắng. Khung cảnh thiên nhiên sau
cơn mưa tuy đơn giản nhưng lại rất ấm áp, bình yên: "Ánh mặt trời rực
rỡ", "nước biển trong xanh", "cát thì mịn màng". Điều khiến em xúc động
nhất là sự đối lập nhưng luôn song hành giữa hai thế hệ qua hình ảnh hai
chiếc bóng: "Bóng cha dài lênh khênh" - tượng trưng cho sự từng trải,
gánh vác; còn "Bóng con tròn chắc nịch" - biểu thị sức sống căng tràn của
tuổi thơ. Chính cuộc đối thoại giữa con và cha đã khơi nguồn cảm hứng
mạnh mẽ: khao khát khám phá thế giới của con qua lời thỉnh cầu "Cha
mượn cho con buồm trắng nhé / Để con đi..." đã đánh thức chính ước
mơ dang dở của người cha thuở trước, được thể hiện qua câu kết đầy
triết lý: "Cha gặp lại mình trong tiếng ước mơ con."

Về phương diện nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ giản dị, gần gũi
nhưng đầy sức gợi cảm. Đặc biệt, Hoàng Trung Thông đã rất thành công
khi sử dụng thể thơ tự do. Việc không bị gò bó bởi luật bằng trắc hay số
câu cố định đã giúp tác giả tự do miêu tả không gian bao la của biển cả,
diễn tả mạch cảm xúc lúc lắng đọng (như tiếng sóng thầm thì) lúc lại
bay bổng, phóng khoáng (như cánh buồm vươn xa). Thể thơ này đặc
biệt phù hợp để truyền tải những chiêm nghiệm sâu sắc về triết lý thế
hệ một cách tự nhiên nhất, khiến lời thủ thỉ của người cha và tiếng lòng
của đứa trẻ hòa quyện nhuần nhuyễn. “Những cánh buồm” là một bài
thơ đẹp đẽ, sâu lắng, không chỉ tôn vinh tình phụ tử thiêng liêng mà
còn nhắc nhở mỗi chúng ta về sứ mệnh tiếp nối và kiên trì theo đuổi
những khát vọng cao đẹp. Đọc bài thơ, ta càng thêm trân trọng những
ước mơ của mình và tin tưởng vào khả năng được chắp cánh bay cao
dưới sự dìu dắt của những người đi trước.

NÓI VỚI CON
(Y Phương)
Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười
Người đồng mình yêu lắm con ơi
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát
 Rừng cho hoa
 Con đường cho những tấm lòng
Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.

*

Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc
Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục
Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con.
1980

Bài thơ "Nói với con" của nhà thơ Y Phương, một nhà thơ dân tộc Tày,
mang đến cho em những cảm xúc sâu lắng về tình cha con, tình yêu quê
hương và niềm tự hào về sức sống mãnh liệt của dân tộc mình. Bài thơ không
chỉ là lời tâm tình, dặn dò của người cha dành cho con mà còn là hành trang
quý báu trao gửi cho thế hệ mai sau. Về nội dung, bài thơ độc đáo ở chỗ nó
không chỉ dừng lại ở tình cảm gia đình mà còn mở rộng ra tình yêu quê
hương, đất nước. Tình cảm gia đình được khắc họa thật ấm áp qua hình ảnh
con trẻ chập chững bước đi, quấn quýt bên cha mẹ: "Chân phải bước tới cha /
Chân trái bước tới mẹ / Một bước chạm tiếng nói / Hai bước tới tiếng cười".
Qua đó, người đọc cảm nhận được sự yêu thương, che chở vô bờ bến mà cha
mẹ dành cho con. Bên cạnh đó, tình yêu quê hương được thể hiện qua hình
ảnh "người đồng mình" - những con người chân chất, cần cù lao động và luôn
lạc quan, yêu đời. Cha muốn con hiểu và yêu quý cội nguồn, yêu quý những
người đã sinh thành, nuôi dưỡng mình khôn lớn. Những lời dặn dò về "cao đo
nỗi buồn / xa nuôi chí lớn" hay tinh thần "Sống trên đá không chê đá gập
ghềnh / Sống trong thung không chê thung nghèo đói" đã
hun đúc nên
những phẩm chất cao đẹp: ý chí, nghị lực, lòng thủy chung son sắt với

quê hương. Về nghệ thuật, bài thơ ghi dấu ấn bởi giọng điệu tâm tình,
tha thiết, gần gũi. Tác giả sử dụng thể thơ tự do, nhịp điệu phóng
khoáng, gần với lời nói hàng ngày, tạo nên sự chân thành, mộc mạc.
Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh, mang đậm màu sắc dân tộc miền núi như
"đan lờ cài nan hoa", "vách nhà ken câu hát", "thô sơ da thịt". Các biện
pháp tu từ như nhân hóa ("rừng cho hoa", "con đường cho những tấm
lòng") làm cho bức tranh quê hương thêm sống động, tươi đẹp và ấm
áp. Cách gọi "người đồng mình" thân thương, trìu mến càng làm nổi bật
tình đoàn kết, gắn bó của cộng đồng. Đọc "Nói với con", em cảm nhận
được sâu sắc ý nghĩa của cội nguồn, biết ơn công lao sinh thành, dưỡng
dục của cha mẹ và yêu thêm mảnh đất quê hương mình. Bài thơ là lời
nhắc nhở về việc giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp,
xây dựng một cuộc sống ý nghĩa và bền vững. Em rất muốn tìm hiểu
thêm về hoàn cảnh ra đời của bài thơ để hiểu rõ hơn những tâm tư, tình
cảm mà nhà thơ Y Phương muốn gửi gắm.
 
Gửi ý kiến