Bài 2, văn bản 2

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Hiếu
Ngày gửi: 14h:24' 20-10-2026
Dung lượng: 7.6 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Hiếu
Ngày gửi: 14h:24' 20-10-2026
Dung lượng: 7.6 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
TRÀNG GIANG
(Huy Cận)
www.themegallery.com
KHỞI ĐỘNG
TRÒ CHƠI LẬT MẢNH GHÉP
1
2
3
4
Câu 1: Tác giả của bài thơ “Đoàn thuyền đánh
cá” là ai?
Huy Cận
Hết giờ
Quay về
Câu 2: Năm 1996, Huy Cận được trao giải
thưởng gì?
Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học
nghệ thuật
Hết giờ
Quay về
Câu 3: Tràng giang được gợi cảm xúc từ dòng
sông nào?
Sông Hồng (1939)
Hết giờ
Quay về
Câu 4: Tràng giang được trích từ tập thơ nào?
Lửa thiêng
Hết giờ
Quay về
HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
TRÀNG GIANG
(Huy Cận)
www.themegallery.com
CẤU TRÚC BÀI HỌC
I. GIỚI THIỆU CHUNG
II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
III. TỔNG KẾT
IV. LUYỆN TẬP
I. GIỚI THIỆU CHUNG
1. Tác giả Huy Cận
- Huy Cận (1919 - 2005), tên khai sinh là Cù Huy Cận, quê ở tỉnh
Hà Tĩnh. Là một trong những đỉnh cao xuất sắc của phong trào Thơ
mới, đồng thời là một chính khách lỗi lạc, từng giữ nhiều trọng
trách trong Chính phủ Việt Nam.
- Trước cách mạng: Là tác giả tiêu biểu của phong trào thơ Mới
(Lửa thiêng, Kinh cầu tự, Vũ trụ ca,).
- Sau cách mạng: Là nhà thơ cách mạng, thành công trong cảm
hứng sáng tác về chế độ mới (Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa,)
- Thơ Huy Cận giàu chất suy tưởng, tràn đầy cảm xúc về vũ trụ, thể
hiện sự kết hợp hài hòa giữa vẻ đẹp cổ điển và vẻ đẹp hiện đại, giữa
chất lãng mạn và tính triết lí, tượng trưng.
I. GIỚI THIỆU CHUNG
2. Bài thơ: “Tràng giang”.
- “Tràng giang” in trong tập “Lửa thiêng”
(1940), tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ
Huy Cận.
- Mùa thu năm 1939, khi còn là sinh viên của
trường Cao đẳng Canh Nông, sau những buổi
chiều tan học Huy Cận thường tới ngắm cảnh
mênh mang sông nước của sông Hồng ở bến
Chèm. Bài thơ được gợi cảm hứng từ sông
Hồng.
II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
1. Cấu tứ và mạch cảm xúc của bài thơ.
1
a. Nhan đề
Từ Hán Việt
giang
giang
Tràng
Sông dài
Điệp âm
“Ang”
Màu sắc cổ điển
Ý khái quát
Gợi hình: Không gian vô biên
Gợi cảm: Nỗi buồn rung động, âm
vang lòng người
Nhan đề vừa thể hiện đặc trưng phong cách thơ Huy Cận, vừa thể hiện
chủ đề của tác phẩm.
II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
1.1Cấu tứ và mạch cảm xúc của bài thơ.
b. Lời đề từ:“Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”
Chủ thể con người
Con người bâng
khuâng, trăn trở, suy
tư, lo lắng trước khung
cảnh trời rộng,
sông dài.
Con người cô đơn, lẻ
loi, sầu, nhớ.
Nỗi buồn của con người trước vũ trụ
Chủ thể vũ trụ
Trời rộng
Sông dài
Thời gian vô tận
II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
1 Cấu tứ và mạch cảm xúc của bài thơ.
1.
b. Lời đề từ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”
Lời đề từ thể hiện cảm hứng chủ đạo của bài thơ: Cả con người, tạo vật
ngập tràn trong nỗi buồn, nỗi sầu, lòng thương nhớ bâng khuâng.
Sự vận động mạch cảm xúc: Đi từ cái nhìn trực cảnh mênh mông, hiu
quạnh trên dòng sông rộng đến sự tự vấn nội tâm về thân phận dạt trôi,
rốt cuộc kết lại ở tình yêu quê hương, đất nước thầm kín.
II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
2. Bức tranh không gian "Tràng giang" cổ điển và hiện đại
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song,
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng”.
II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
2. Bức tranh không gian "Tràng giang" cổ điển và hiện đại
Không có điểm đầu, điểm cuối
Sóng gợn
Cảnh sông dài
Thuyền xuôi mái chèo
Cành củi khô đang trôi dạt
Hình ảnh sông quê bình dị, thân thương, dòng sông miên man sóng
nước, một không gian hữu hình.
Sông không chỉ là sông, hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng, gợi
cho người đọc những suy ngẫm sâu xa hơn về cuộc đời, về vũ trụ.
Nếu xem dòng sông là biểu
tượng của dòng đời thì theo
em ý nghĩa tượng trưng của
hình ảnh con thuyền và cành
củi khô là gì?
Ý nghĩa biểu tượng:
- Thuyền, củi: Những kiếp người nhỏ bé, đơn côi, lạc loài giữa dòng đời.
2. Bức tranh không gian "Tràng giang" cổ điển và hiện đại
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
Cảnh trên sông:
- Cồn nhỏ lơ thơ: Cồn nhỏ thưa thớt, lơ thơ.
- Gió đìu hiu: Gió thổi hiu hắt, hoang vắng, thê lương
Cảnh vắng lặng, thiếu sự sống của con người.
Tâm trạng thi nhân: - Cô đơn, lẻ loi.
2. Bức tranh không gian "Tràng giang" cổ điển và hiện đại
“Nắng xuống, trời lên sâu chót vót,
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”.
- Không gian:
Cao
Dài
Rộng
Được mở ra nhiều chiều.
+ “Sâu chót vót”: Huy Cận mượn chiều sâu để tả chiều cao.
Bầu trời cao thăm thẳm khôn cùng.
Cảnh càng hiu hắt, con người nhỏ bé, rợn ngợp.
3. Khát vọng của thi nhân
“Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”.
Cảnh trên sông:
Những cánh bèo lênh đênh, phiêu bạt, vô định.
Không một chuyến đò, không một cây cầu.
Chỉ thấy bờ xanh tiếp bãi vàng.
Không có sự giao hoà, thân mật.
Chỉ có sự vắng vẻ cô tịch của thiên nhiên.
3. Khát vọng của thi nhân
Nỗi lòng của thi
nhân:
Khao khát giao cảm với đời, muốn giao
tiếp với con người nhưng càng với tới
càng thất vọng. Nỗi buồn gắn với nỗi
đau thành nỗi sầu, sầu lớn lắm, “sầu
nhân thế”, “sầu vạn cổ”.
4. Tình yêu quê hương và bi kịch nội tâm trong thế giới cảm xúc của chủ thể trữ tình
“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.
4. Tình yêu quê hương và bi kịch nội tâm trong thế giới cảm xúc của chủ thể trữ tình
1
- Cảnh hoàng hôn:
Mây trắng tạo hình thành những ngọn núi
Chim nghiêng cánh
Không có khói sóng bảng lảng, mơ hồ.
Khung cảnh hoàng hôn trên sông sống động, rực rỡ, rất đẹp.
“Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu”
(Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai)
(Tả Đà dịch)
Có khói
sóng
Nỗi buồn bắt
nguồn từ ngoại
cảnh.
4. Tình yêu quê hương và bi kịch nội tâm trong thế giới cảm xúc của chủ thể trữ tình
- Đến “Tràng giang”, sóng sông đã trở
thành sóng lòng. Huy Cận đã buồn
càng buồn hơn. Thi nhân buồn vì nhớ
nhà. Ở tại quê hương mà vẫn thấy
thiếu quê hương. Đó là tâm trạng uất
của một người dân mất nước.
4. Đặc sắc nghệ thuật
a. Ngôn ngữ mang dấu ấn tác giả
Cách kết hợp từ mới: "buồn điệp điệp", "nước song song", "sầu trăm
ngả", "sâu chót vớt", "niềm thân mật", …
Mô hình cú pháp không giống cú pháp ngôn ngữ giao tiếp quen thuộc:
"thuyền về nước lại", "nắng xuống trời lên", "Chim nghiêng cánh nhỏ,
bóng chiều sa“.
Đây chính là hiện tượng phá vỡ những quy tắc thông thường tạo nên
tính đa nghĩa của ngôn từ trong tác phẩm văn học, dấu ấn riêng của tác
giả.
b. Thi liệu truyền thống
- Về hình ảnh: Sông dài, thuyền - nước, bèo - nước, làng xa bên
sông, núi mây bạc, cánh chim chiều, …
- Về từ ngữ: "đìu hiu", "đùn".
- Về tứ thơ: "không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà"
Bài thơ "Tràng giang" "mang đậm vẻ đẹp cổ điển".
III. TỔNG KẾT
1. Giá trị nội dung
- Tràng giang thể hiện lòng yêu nước thầm kín của Huy Cận.
2. Giá trị nghệ thuật
- Bài thơ mang vẻ đẹp cổ điển và hiện đại.
IV. LUYỆN TẬP
ĐỀ BÀI
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều xa.
Lòng quê rờn rợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
(Ngữ văn 11, Tập hai, NXB Giáo dục, 2007, tr.29)
Câu 1. Đoạn trích trên được rút ra từ tác phẩm nào? Nêu ý nghĩa nhan đề tác
phẩm đó?
Câu 2. Chỉ ra các lỗi sai trong đoạn trích. Sửa lại cho đúng với nguyên tác.
Câu 3. Vẻ đẹp cổ điển của lời thơ được thể hiện như thế nào trong đoạn trích?
Câu 4. Nêu cảm nhận về từ dợn dợn.
Câu 5. Chỉ ra sự sáng tạo của Huy Cận trong cách diễn đạt: “Không khói hoàng
hôn cũng nhớ nhà”. Hai câu thơ cuối bộc lộ nỗi niềm, tâm trạng gì trong thi
nhân?
Câu 1: Đoạn trích trên được rút ra từ bài thơ Tràng Giang của Huy Cận.
- Ý nghĩa nhan đề của tác phẩm: Nhan đề của bài thơ là “Tràng Giang” cũng là một trong
những dụng ý nghệ thuật của nhà thơ Huy Cận. “Tràng Giang” vốn là hai từ Hán Việt để
chỉ dòng sông dài.
+/ Trong Tiếng Việt, có hai từ nhằm miêu tả chiều dài đó là từ “Tràng” và từ “Trường”. Ở
đây nhà thơ Huy Cận không viết là “Trường Giang” mà lại viết là “Tràng Giang”. Bởi chữ
“Trường” chỉ đơn thuần là miêu tả chiều dài. Còn chữ “Tràng” với âm “vang” vốn là âm
mở, nó không chỉ miêu tả chiều dài của dòng sông mà còn gợi lên chiều rộng của con sông.
⇒ Đó là một con sông được vẽ lên với không gian ba chiều: sâu chót vót; rộng mênh
mông; dài dằng dặc. Dòng sông càng mênh mông, càng vô biên, vô cùng bao nhiêu thì tâm
hồn thi nhân càng cô liêu, cô sầu bấy nhiêu.
Câu 2:
- Lỗi sai trong đoạn trích: Sai các từ xa, rờn rợn.
- Chữa lại các lỗi sai: Xa sa, rờn rợn dợn dợn.
Câu 3: Vẻ đẹp cổ điển của lời thơ:
- Huy Cận cũng vẽ lên trời chiều đang chuyển một hình ảnh cánh chim
nghiêng bé nhỏ.
- Nghệ thuật đối lập tương phản: hình ảnh thiên nhiên mang vẻ đẹp kì vĩ
(những lớp mây như đùn lên từ mặt đất, cả bầu trời lớp lớp mây tạo thành
những núi mây và ánh mặt trời buổi chiều chiếu sáng làm cho những đám
mây ánh lên như núi bạc) đối lập với cánh chim nghiêng quá bé nhỏ.
Câu 3: Vẻ đẹp cổ điển của lời thơ:
a. Hai câu đầu: Màu sắc cổ điển của các hình ảnh thiên nhiên
Các hình ảnh mây, núi, gió được thể hiện rất rõ và nổi bật qua đoạn thơ
Hình ảnh lớp mây thể hiện nỗi buồn của tác giả vô bờ
Hình ảnh cánh chim lẻ loi, thể hiện nỗi buồn của tác giả thêm sâu nặng
Hình ảnh cánh chim không chỉ báo hiệu hoàng hôn mà còn chỉ cái tôi nhỏ
nhoi, cô độc của tác giả.
Câu 3: Vẻ đẹp cổ điển của lời thơ:
b. Hai câu cuối:
- Nhà thơ có cảm giác nhớ quê hương khi đứng trước cảnh thiên nhiên
- Nỗi buồn của Huy Cận được thể hiện rất sâu sắc và nổi bật
- Khát vọng sự đẹp đẽ, tươi đẹp về quê hương đất nước, góp sức mình cho
quê hương, đất nước
Câu 4:
- Dợn dợn là từ láy, khác với rờn rợn. Rờn rợn chỉ cảm giác ghê, sợ trong
lòng người; còn dợn dợn hoàn toàn không mang sắc thái cảm xúc đó.
- Dợn dợn không chỉ gợi cảm giác có điều gì đó gợn gợn trong lòng mà còn
gợi hình ảnh những làn sóng nhấp nhô, liên tiếp, mở ra muôn trùng dòng
trường giang. Sóng nước và sóng lòng hòa quyện vào nhau, mênh mang trên
dòng tràng giang
Câu 5:
- Sự sáng tạo của Huy Cận trong cách diễn đạt: Không khói hoàng hôn
cũng nhớ nhà: Sử dụng nghệ thuật phủ định để khẳng định: tuy không có
một tín hiệu nào ở ngoại cảnh tác động mà nỗi nhớ quê hương vẫn dậy lên
trong tâm khảm.
- Nếu như nỗi nhớ là một điều tất yếu khi phải xa quê hương thì Huy Cận
lại cảm thấy nhớ mặc dù đang sống ở giữa quê hương, nỗi nhớ khi phải
sống trong hoàn cảnh mất nước.
(Huy Cận)
www.themegallery.com
KHỞI ĐỘNG
TRÒ CHƠI LẬT MẢNH GHÉP
1
2
3
4
Câu 1: Tác giả của bài thơ “Đoàn thuyền đánh
cá” là ai?
Huy Cận
Hết giờ
Quay về
Câu 2: Năm 1996, Huy Cận được trao giải
thưởng gì?
Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học
nghệ thuật
Hết giờ
Quay về
Câu 3: Tràng giang được gợi cảm xúc từ dòng
sông nào?
Sông Hồng (1939)
Hết giờ
Quay về
Câu 4: Tràng giang được trích từ tập thơ nào?
Lửa thiêng
Hết giờ
Quay về
HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
TRÀNG GIANG
(Huy Cận)
www.themegallery.com
CẤU TRÚC BÀI HỌC
I. GIỚI THIỆU CHUNG
II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
III. TỔNG KẾT
IV. LUYỆN TẬP
I. GIỚI THIỆU CHUNG
1. Tác giả Huy Cận
- Huy Cận (1919 - 2005), tên khai sinh là Cù Huy Cận, quê ở tỉnh
Hà Tĩnh. Là một trong những đỉnh cao xuất sắc của phong trào Thơ
mới, đồng thời là một chính khách lỗi lạc, từng giữ nhiều trọng
trách trong Chính phủ Việt Nam.
- Trước cách mạng: Là tác giả tiêu biểu của phong trào thơ Mới
(Lửa thiêng, Kinh cầu tự, Vũ trụ ca,).
- Sau cách mạng: Là nhà thơ cách mạng, thành công trong cảm
hứng sáng tác về chế độ mới (Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa,)
- Thơ Huy Cận giàu chất suy tưởng, tràn đầy cảm xúc về vũ trụ, thể
hiện sự kết hợp hài hòa giữa vẻ đẹp cổ điển và vẻ đẹp hiện đại, giữa
chất lãng mạn và tính triết lí, tượng trưng.
I. GIỚI THIỆU CHUNG
2. Bài thơ: “Tràng giang”.
- “Tràng giang” in trong tập “Lửa thiêng”
(1940), tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ
Huy Cận.
- Mùa thu năm 1939, khi còn là sinh viên của
trường Cao đẳng Canh Nông, sau những buổi
chiều tan học Huy Cận thường tới ngắm cảnh
mênh mang sông nước của sông Hồng ở bến
Chèm. Bài thơ được gợi cảm hứng từ sông
Hồng.
II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
1. Cấu tứ và mạch cảm xúc của bài thơ.
1
a. Nhan đề
Từ Hán Việt
giang
giang
Tràng
Sông dài
Điệp âm
“Ang”
Màu sắc cổ điển
Ý khái quát
Gợi hình: Không gian vô biên
Gợi cảm: Nỗi buồn rung động, âm
vang lòng người
Nhan đề vừa thể hiện đặc trưng phong cách thơ Huy Cận, vừa thể hiện
chủ đề của tác phẩm.
II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
1.1Cấu tứ và mạch cảm xúc của bài thơ.
b. Lời đề từ:“Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”
Chủ thể con người
Con người bâng
khuâng, trăn trở, suy
tư, lo lắng trước khung
cảnh trời rộng,
sông dài.
Con người cô đơn, lẻ
loi, sầu, nhớ.
Nỗi buồn của con người trước vũ trụ
Chủ thể vũ trụ
Trời rộng
Sông dài
Thời gian vô tận
II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
1 Cấu tứ và mạch cảm xúc của bài thơ.
1.
b. Lời đề từ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”
Lời đề từ thể hiện cảm hứng chủ đạo của bài thơ: Cả con người, tạo vật
ngập tràn trong nỗi buồn, nỗi sầu, lòng thương nhớ bâng khuâng.
Sự vận động mạch cảm xúc: Đi từ cái nhìn trực cảnh mênh mông, hiu
quạnh trên dòng sông rộng đến sự tự vấn nội tâm về thân phận dạt trôi,
rốt cuộc kết lại ở tình yêu quê hương, đất nước thầm kín.
II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
2. Bức tranh không gian "Tràng giang" cổ điển và hiện đại
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song,
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng”.
II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
2. Bức tranh không gian "Tràng giang" cổ điển và hiện đại
Không có điểm đầu, điểm cuối
Sóng gợn
Cảnh sông dài
Thuyền xuôi mái chèo
Cành củi khô đang trôi dạt
Hình ảnh sông quê bình dị, thân thương, dòng sông miên man sóng
nước, một không gian hữu hình.
Sông không chỉ là sông, hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng, gợi
cho người đọc những suy ngẫm sâu xa hơn về cuộc đời, về vũ trụ.
Nếu xem dòng sông là biểu
tượng của dòng đời thì theo
em ý nghĩa tượng trưng của
hình ảnh con thuyền và cành
củi khô là gì?
Ý nghĩa biểu tượng:
- Thuyền, củi: Những kiếp người nhỏ bé, đơn côi, lạc loài giữa dòng đời.
2. Bức tranh không gian "Tràng giang" cổ điển và hiện đại
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
Cảnh trên sông:
- Cồn nhỏ lơ thơ: Cồn nhỏ thưa thớt, lơ thơ.
- Gió đìu hiu: Gió thổi hiu hắt, hoang vắng, thê lương
Cảnh vắng lặng, thiếu sự sống của con người.
Tâm trạng thi nhân: - Cô đơn, lẻ loi.
2. Bức tranh không gian "Tràng giang" cổ điển và hiện đại
“Nắng xuống, trời lên sâu chót vót,
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”.
- Không gian:
Cao
Dài
Rộng
Được mở ra nhiều chiều.
+ “Sâu chót vót”: Huy Cận mượn chiều sâu để tả chiều cao.
Bầu trời cao thăm thẳm khôn cùng.
Cảnh càng hiu hắt, con người nhỏ bé, rợn ngợp.
3. Khát vọng của thi nhân
“Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”.
Cảnh trên sông:
Những cánh bèo lênh đênh, phiêu bạt, vô định.
Không một chuyến đò, không một cây cầu.
Chỉ thấy bờ xanh tiếp bãi vàng.
Không có sự giao hoà, thân mật.
Chỉ có sự vắng vẻ cô tịch của thiên nhiên.
3. Khát vọng của thi nhân
Nỗi lòng của thi
nhân:
Khao khát giao cảm với đời, muốn giao
tiếp với con người nhưng càng với tới
càng thất vọng. Nỗi buồn gắn với nỗi
đau thành nỗi sầu, sầu lớn lắm, “sầu
nhân thế”, “sầu vạn cổ”.
4. Tình yêu quê hương và bi kịch nội tâm trong thế giới cảm xúc của chủ thể trữ tình
“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.
4. Tình yêu quê hương và bi kịch nội tâm trong thế giới cảm xúc của chủ thể trữ tình
1
- Cảnh hoàng hôn:
Mây trắng tạo hình thành những ngọn núi
Chim nghiêng cánh
Không có khói sóng bảng lảng, mơ hồ.
Khung cảnh hoàng hôn trên sông sống động, rực rỡ, rất đẹp.
“Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu”
(Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai)
(Tả Đà dịch)
Có khói
sóng
Nỗi buồn bắt
nguồn từ ngoại
cảnh.
4. Tình yêu quê hương và bi kịch nội tâm trong thế giới cảm xúc của chủ thể trữ tình
- Đến “Tràng giang”, sóng sông đã trở
thành sóng lòng. Huy Cận đã buồn
càng buồn hơn. Thi nhân buồn vì nhớ
nhà. Ở tại quê hương mà vẫn thấy
thiếu quê hương. Đó là tâm trạng uất
của một người dân mất nước.
4. Đặc sắc nghệ thuật
a. Ngôn ngữ mang dấu ấn tác giả
Cách kết hợp từ mới: "buồn điệp điệp", "nước song song", "sầu trăm
ngả", "sâu chót vớt", "niềm thân mật", …
Mô hình cú pháp không giống cú pháp ngôn ngữ giao tiếp quen thuộc:
"thuyền về nước lại", "nắng xuống trời lên", "Chim nghiêng cánh nhỏ,
bóng chiều sa“.
Đây chính là hiện tượng phá vỡ những quy tắc thông thường tạo nên
tính đa nghĩa của ngôn từ trong tác phẩm văn học, dấu ấn riêng của tác
giả.
b. Thi liệu truyền thống
- Về hình ảnh: Sông dài, thuyền - nước, bèo - nước, làng xa bên
sông, núi mây bạc, cánh chim chiều, …
- Về từ ngữ: "đìu hiu", "đùn".
- Về tứ thơ: "không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà"
Bài thơ "Tràng giang" "mang đậm vẻ đẹp cổ điển".
III. TỔNG KẾT
1. Giá trị nội dung
- Tràng giang thể hiện lòng yêu nước thầm kín của Huy Cận.
2. Giá trị nghệ thuật
- Bài thơ mang vẻ đẹp cổ điển và hiện đại.
IV. LUYỆN TẬP
ĐỀ BÀI
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều xa.
Lòng quê rờn rợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
(Ngữ văn 11, Tập hai, NXB Giáo dục, 2007, tr.29)
Câu 1. Đoạn trích trên được rút ra từ tác phẩm nào? Nêu ý nghĩa nhan đề tác
phẩm đó?
Câu 2. Chỉ ra các lỗi sai trong đoạn trích. Sửa lại cho đúng với nguyên tác.
Câu 3. Vẻ đẹp cổ điển của lời thơ được thể hiện như thế nào trong đoạn trích?
Câu 4. Nêu cảm nhận về từ dợn dợn.
Câu 5. Chỉ ra sự sáng tạo của Huy Cận trong cách diễn đạt: “Không khói hoàng
hôn cũng nhớ nhà”. Hai câu thơ cuối bộc lộ nỗi niềm, tâm trạng gì trong thi
nhân?
Câu 1: Đoạn trích trên được rút ra từ bài thơ Tràng Giang của Huy Cận.
- Ý nghĩa nhan đề của tác phẩm: Nhan đề của bài thơ là “Tràng Giang” cũng là một trong
những dụng ý nghệ thuật của nhà thơ Huy Cận. “Tràng Giang” vốn là hai từ Hán Việt để
chỉ dòng sông dài.
+/ Trong Tiếng Việt, có hai từ nhằm miêu tả chiều dài đó là từ “Tràng” và từ “Trường”. Ở
đây nhà thơ Huy Cận không viết là “Trường Giang” mà lại viết là “Tràng Giang”. Bởi chữ
“Trường” chỉ đơn thuần là miêu tả chiều dài. Còn chữ “Tràng” với âm “vang” vốn là âm
mở, nó không chỉ miêu tả chiều dài của dòng sông mà còn gợi lên chiều rộng của con sông.
⇒ Đó là một con sông được vẽ lên với không gian ba chiều: sâu chót vót; rộng mênh
mông; dài dằng dặc. Dòng sông càng mênh mông, càng vô biên, vô cùng bao nhiêu thì tâm
hồn thi nhân càng cô liêu, cô sầu bấy nhiêu.
Câu 2:
- Lỗi sai trong đoạn trích: Sai các từ xa, rờn rợn.
- Chữa lại các lỗi sai: Xa sa, rờn rợn dợn dợn.
Câu 3: Vẻ đẹp cổ điển của lời thơ:
- Huy Cận cũng vẽ lên trời chiều đang chuyển một hình ảnh cánh chim
nghiêng bé nhỏ.
- Nghệ thuật đối lập tương phản: hình ảnh thiên nhiên mang vẻ đẹp kì vĩ
(những lớp mây như đùn lên từ mặt đất, cả bầu trời lớp lớp mây tạo thành
những núi mây và ánh mặt trời buổi chiều chiếu sáng làm cho những đám
mây ánh lên như núi bạc) đối lập với cánh chim nghiêng quá bé nhỏ.
Câu 3: Vẻ đẹp cổ điển của lời thơ:
a. Hai câu đầu: Màu sắc cổ điển của các hình ảnh thiên nhiên
Các hình ảnh mây, núi, gió được thể hiện rất rõ và nổi bật qua đoạn thơ
Hình ảnh lớp mây thể hiện nỗi buồn của tác giả vô bờ
Hình ảnh cánh chim lẻ loi, thể hiện nỗi buồn của tác giả thêm sâu nặng
Hình ảnh cánh chim không chỉ báo hiệu hoàng hôn mà còn chỉ cái tôi nhỏ
nhoi, cô độc của tác giả.
Câu 3: Vẻ đẹp cổ điển của lời thơ:
b. Hai câu cuối:
- Nhà thơ có cảm giác nhớ quê hương khi đứng trước cảnh thiên nhiên
- Nỗi buồn của Huy Cận được thể hiện rất sâu sắc và nổi bật
- Khát vọng sự đẹp đẽ, tươi đẹp về quê hương đất nước, góp sức mình cho
quê hương, đất nước
Câu 4:
- Dợn dợn là từ láy, khác với rờn rợn. Rờn rợn chỉ cảm giác ghê, sợ trong
lòng người; còn dợn dợn hoàn toàn không mang sắc thái cảm xúc đó.
- Dợn dợn không chỉ gợi cảm giác có điều gì đó gợn gợn trong lòng mà còn
gợi hình ảnh những làn sóng nhấp nhô, liên tiếp, mở ra muôn trùng dòng
trường giang. Sóng nước và sóng lòng hòa quyện vào nhau, mênh mang trên
dòng tràng giang
Câu 5:
- Sự sáng tạo của Huy Cận trong cách diễn đạt: Không khói hoàng hôn
cũng nhớ nhà: Sử dụng nghệ thuật phủ định để khẳng định: tuy không có
một tín hiệu nào ở ngoại cảnh tác động mà nỗi nhớ quê hương vẫn dậy lên
trong tâm khảm.
- Nếu như nỗi nhớ là một điều tất yếu khi phải xa quê hương thì Huy Cận
lại cảm thấy nhớ mặc dù đang sống ở giữa quê hương, nỗi nhớ khi phải
sống trong hoàn cảnh mất nước.
 








Các ý kiến mới nhất