Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Bài 6. Bài ca Côn Sơn

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Bình
Ngày gửi: 23h:22' 04-11-2019
Dung lượng: 9.7 MB
Số lượt tải: 23
Số lượt thích: 0 người
- Trần Nhân Tông (1258-1308) là vị vua thứ ba của triều Trần.
- Ông có công lớn trong hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông xâm lược.
- Ông là vị vua yêu nước, là một nhà văn hóa, nhà thơ tiêu biểu của thời Trần.
Phủ Thiên Trường:
Tên cũ là hương Tức Mặc (nay thuộc xã Lộc Vượng, ngoại thành Nam Định.
Sau khi lập ngôi vua, để nhớ công lao sáng lập uy danh của dòng họ, vua Trần xây hành cung ở Thiên Trường.
Là nơi ở của Thượng hoàng, hàng năm vua Trần về thăm.
- Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được sáng tác khi Trần Nhân Tông về thăm phủ Thiên Trường
Phiên âm:
Thôn hậu, thôn tiền đạm tự yên
Bán vô, bán hữu tịch dương biên
Mục đồng địch lý quy ngưu tận
Bạch lộ song song hạ phi điền.
Dịch nghĩa:
Sau thôn trước thôn đều mờ mờ như khói phủ
Bên bóng chiều (cảnh vật) nửa như có nửa như không
Trong tiếng sao mục đồng dẫn trâu về hết
Từng đôi cò trắng hạ xuống cánh đồng.
Dịch thơ:
Trước xóm sau thôn tựa khói lồng
Bóng chiều man mác có dường không
Mục đồng sáo vẳng trâu về hết
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.
Luật thơ
Bài thơ được quy định bởi luật trắc. Được thể hiện qua câu đầu tiên của bài : “Thôn hậu, thôn tiền đạm tự yên”
Tạo nên một khung cảnh làng quê Thiên Trường yên bình, với những nét vẽ đơn sơ, nhạt nhoà nhưng lại giàu sức gợi tả.
Làm nổi bật lên cảm xúc của tác giả bao trùm lên bài thơ
Hình thức thể hiện:
Liên:
Sự sắp đặt âm thanh làm cho câu thơ trong bài không đơn điệu.
(1) Thôn hậu, thôn tiền đạm tự yên
(2) Bán vô, bán hữu tịch dương biên.
B -T - B - B - T - T - B
T - B - T - T - T - B - B
Hai câu thơ các chữ tương ứng có thanh ngược nhau.
Bằng cách sử dụng cách quy định liên giữa các câu, kết hợp với điệp ngữ (thôn, bán) làm cho câu thơ không đơn điệu mà trở nên nhịp nhàng.
Niêm:
Nhà thơ sử dụng luật về niêm không những làm cho các câu thơ trong bài có sự hài hoà về thanh bằng, thanh trắc giữa các câu thơ và làm cho bài thơ có mở đầu có kết thúc.
Câu 1 là buổi chiều tà ở làng quê với những làn sương mờ ảo
Câu 4 là hình ảnh đàn cò trắng bay xuống ruộng, trâu về chuồng..
Khung cảnh thôn quê thanh bình, yên ấm...
Nhà thơ luôn gắn bó máu thịt với làng quê, một tâm hồn luôn khát khao sống hoà nhập với thiên nhiên và với cuộc sống đời thường.
Thôn hậu,thôn tiền đạm tự yên
(2) Bán vô, bán hữu tịch dương biên.
(3) Mục đồng địch lý quy ngưu tận,
(4) Bạch lộ song song phi há điền.
Vần:
Gieo vần chân ở 3 câu 1-2-4:
Thôn hậu, thôn tiền đạm tự yên
Bán vô, bán hữu tịch dương biên.
Mục đồng địch lí ngưu quy tận,
Bạch lộ song song phi hạ điền.
Bài thơ làm theo vần bằng gợi sự yên bình, êm ả, nhẹ nhàng của cảnh vật quê hương.
Đối
Hoà điệu êm ái cho câu thơ vừa tạo dựng và mở rộng không gian bức tranh miền quê đơn sơ,giản dị.
Cảnh chiều tà (tịch dương) đang dần buông xuống, nhà thơ thể hiện từ xa đến gần, từ trên cao xuống thấp, từ trước đến sau, khơi gợi lên trong trí tưởng tượng của người đọc về một buổi chiều tà ở làng quê đầy hư ảo nhưng cũng hết sức gần gũi thân thương.
Đối trong câu
“thôn hậu - thôn tiền”
Đối các câu
“Thôn hậu, thôn tiền đạm tự yên
Bán vô, bán hữu tịch dương biên”
Cấu tứ:
Bài thơ có thể được tìm hiểu theo kết cấu:
Khai, thừa, chuyển, hợp.
Câu khai: "Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên"
Có chức năng mở đề là câu vào bài, mở bài, khái quát bài thơ. Mở đầu bài thơ tác giả đã vẽ nên một không gian mờ ảo của cảnh chiều. Cảnh vùng thôn quê phía trước thôn và phía sau thôn đều chìm trong làn sương mờ mờ như khói phủ.
Câu thừa: "Bán vô bán hữu tịch dương biên"
Có chức năng thừa tiếp thừa hành "nhiệm vụ" của câu thứ nhất nêu ra. Tác giả nhìn bóng chiều và cảm nhận như nửa có, nửa không, vừa thực, vừa mơ. Không gian và lòng người hòa quện vào nhau tạo ra một cảm giác hư ảo khó tả.
Câu chuyển: "Mục đồng địch lí ngưu quy tận"
Có chức năng đặc biệt quan trọng trong bài thơ, là câu có tác dụng quyết định nhất đối với toàn bộ bài thơ.
Hình ảnh những chú bé chăn trâu không hề lẻ loi trong bức tranh mênh mông mà trái lại cũng chiếm một vị trí quan trọng, giúp diễn tả hết tâm trạng của tác giả.
Hình ảnh mục đồng ngồi trên lưng trâu càng làm cho không gian thêm yên tĩnh chứ không tạo nên một âm thanh nào khác có thể làm thay đổi tâm trạng của tác giả.
Câu hợp: "Bạch lộ song song phi hạ điền"
Có chức năng thâu tóm ý toàn bài làm bộc lộ tư tưởng của tác giả.
Hình ảnh cò trắng từng đôi liệng xuống đồng vừa làm tăng thêm sức sống cho bức tranh, vừa gợi nên một khung cảnh thiên nhiên thanh bình một không khí nhẹ nhàng của miền quê yên tĩnh.

Thôn hậu, thôn tiền đạm tự yên
Bán vô, bán hữu tịch dương biên
Mục đồng địch lý quy ngưu tận
Bạch lộ song song hạ phi điền.
Cảnh trong thôn xóm
Cảnh ngoài cánh đồng
a.Nội dung: Bài thơ miêu tả cảnh buổi chiều ở phủ Thiên Trường, một vùng quê yên ả, thanh bình, con người và thiên nhiên giao hòa với nhau.
b. Nghệ thuật:
Thể thơ Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
Ngôn ngữ miêu tả đậm chất hội họa, hình ảnh thi vị.
*Ý nghĩa văn bản: Bài thơ thể hiện tâm hồn thơ thắm thiết tình quê của vị vua anh minh, tài đức.
- Nguyễn Trãi (1380 –1442): Hiệu Ức Trai con của Nguyễn Phi Khanh
- Quê: Chí Linh - Hải Dương
- Ông là một nhà thơ, nhà quân sự, nhà chính trị , nhà ngoại giao lỗi lạc. Được công nhận danh nhân văn hoá thế giới 1980.
- Tác phẩm tiêu biểu :Bình Ngô đại cáo, Ức Trai thi tập . ….

a. Hoàn cảnh sáng tác : Khi ông cáo quan về sống ẩn dật ở Côn Sơn
b. Thể thơ :
- Nguyên tác: Chữ Hán
- Bản dịch : Thể thơ lục bát
c.Phương thức biểu đạt : Biểu cảm
Côn Sơn là dãy núi ở xã Chi Ngại thuộc huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương
Cảnh Côn Sơn ngày nay
Khu di tích đền thờ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn
Đọc đúng nhịp
2 / 2 / 2 ; 4 / 4
Côn Sơn suối chảy rì rầm,
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.
Côn Sơn có đá rêu phơi,
Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm.
Trong rừng thông mọc như nêm,
Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm.
Trong rừng có trúc bóng râm,
Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn.
Suối chảy rì rầm
Đá rêu phơi
Thông mọc như nêm
Bóng trúc râm
Côn Sơn suối chảy rì rầm,
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.
Côn Sơn có đá rêu phơi,
Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm.
Trong rừng thông mọc như nêm,
Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm.
Trong rừng có trúc bóng râm,
Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn.
Bài ca Côn Sơn tả cảnh vật và con người lồng ghép sóng đôi nhau. Em hãy tìm những câu thơ tả mối quan hệ giữa ta và cảnh?
Đọc những câu thơ tả mối quan hệ giữa ta và cảnh.
Suối chảy rì rầm

Có đá rêu phơi

- Thông mọc như nêm
- Có bóng trúc râm
→ Sự hòa hợp tuyệt đối giữa con người và cảnh vật thiên nhiên.
Ta nghe như tiếng đàn cầm
Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm
Ta lên ta nằm

Ta ngâm thơ nhàn
THẢO LUẬN NHÓM (3’)
Nhóm 1: Hình ảnh thiên nhiên
? Cảnh Côn Sơn được miêu tả với những chi tiết nào?
? Chỉ ra biện pháp nghệ thuật chủ yếu được dùng trong bài thơ để tả cảnh Côn Sơn? Ý nghĩa của nó?

Nhóm 2: Hình ảnh con người
? Theo em trong bài thơ, nhân vật ta là ai?
? Từ ta được lặp lại mấy lần?
? Nhân vật ta làm gì ở Côn Sơn?
? Qua những hoạt động đó của nhân vật ta, em thấy nhân vật này đang sống một cuộc sống như thế nào?
Côn Sơn suối chảy rì rầm,
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.
Côn Sơn có đá rêu phơi,
Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm.
Trong rừng thông mọc như nêm,
Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm.
Trong rừng có trúc bóng râm,
Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn.
- Suối : Tả bằng âm thanh rì rầm
- Đá : Tả bằng màu rêu

- Thông mọc như nêm

- Bóng trúc râm

-> Quan sát bằng :
Thị giác, thính giác
Hình ảnh so sánh ,liên tưởng , tưởng tượng
Cảnh thiên nhiên yên tĩnh , trong lành, khoáng đạt , nên thơ
Ảnh ô
Nhiễm
Môi trường
Ảnh ô
Nhiễm
Môi trường
Côn Sơn suối chảy rì rầm,
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.
Côn Sơn có đá rêu phơi,
Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm.
Trong rừng thông mọc như nêm,
Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm.
Trong rừng có trúc bóng râm,
Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn.
Ta nghe như tiếng đàn cầm
Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm
Ta lên ta nằm
Ta ngâm thơ nhàn
Điệp từ , động từ gợi tả ,so sánh , liên tưởng
=> Tâm thế tự chủ của một con người hoà mình vào thiên nhiên, sống gần gũi, gắn bó với thiên nhiên, tràn đầy thi hứng trước cảnh đẹp Côn Sơn.
=> Vẻ đẹp của tâm hồn trong sạch, thanh thản, giàu xúc cảm; nhân cách và khí tiết thanh cao, tao nhã của bậc túc nho ẩn dật nhưng không lánh việc đời.
1, Nghệ thuật:
Đan xen tả cảnh và tả người.
Lời thơ trong sáng, giọng điệu nhẹ nhàng, êm ái.
Sử dụng các biện pháp nghệ thuật: So sánh, điệp ngữ.
2, Nội dung: Ca ngợi vẻ đẹp thanh tĩnh, nên thơ của Côn sơn, qua đó bộc lộ cốt cách thanh cao, tâm hồn thi sĩ của Nguyễn Trãi
 
Gửi ý kiến