benh hai lua

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hanh Dung
Ngày gửi: 16h:21' 15-11-2009
Dung lượng: 11.3 MB
Số lượt tải: 44
Nguồn:
Người gửi: Hanh Dung
Ngày gửi: 16h:21' 15-11-2009
Dung lượng: 11.3 MB
Số lượt tải: 44
Số lượt thích:
0 người
BẢO VỆ THỰC VẬT
Nhóm thuyết trình:
Nguyễn Thị Dung
Lê Thị Hạnh Dung
Sinh – KTNN K33
BỆNH HẠI LÚA
CHỦ ĐỀ:
NỘI DUNG
Bệnh đạo ôn
Bệnh khô vằn
Bệnh vi khuẩn bạc lá lúa
Bệnh virus
Bệnh đạo ôn
Triệu chứng
- Triệu chứng đạo ôn lá: Trên phiến lá có vết bệnh nhỏ màu xanh tái đến nâu vàng, ban đầu hình hơi tròn hoặc bầu dục, sau phát triển thành hình thoi ở giữa có màu xám tro, xung quanh màu nâu đậm, vòng ngoài cũng là màu nâu vàng nhạt.
- Triệu chứng đạo ôn bông: Khi lúa trổ trở đi, nấm xâm nhập gây hại trên đốt cổ bông, cổ gié tạo ra các chấm nâu nhỏ, sau vết bệnh lan rộng, ôm bọc quanh cổ bông, màu nâu đen, cổ bông khô tóp, thối hỏng làm cho bông lép trắng toàn bộ. Nếu bệnh xuất hiện muộn khi hạt đã vào chắc thì có hiện tượng gẫy gục cổ bông làm giảm năng suất.
Nguyên nhân
Bệnh đạo ôn do nấm Pyricularia ozyzae, thuộc lớp Nấm bất toàn gây nên.
Sợi nấm đa bào không màu. Cơ quan sinh sản vô tính là cành bào tử đa bào, trên đỉnh cành sinh ra các bào tử phân sinh hình nụ sen 2 – 3 ngăn ngang, không màu.
Bào tử phân sinh được sinh ra với số lượng nhiều về ban đêm, trong tối.
Nấm đạo ôn rất dễ bị biến dị tạo ra rất nhiều nòi ở các vùng sinh học khác nhau.
Quy luật phát triển bệnh
Thời tiết, khí hậu
+ Các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng có ảnh hưởng lớn tới bệnh.
+ Nhiệt độ tương đối thấp hoặc nhiệt độ ban đêm thấp, cây lúa dễ bi nhiễm bệnh hơn.
+ Độ ẩm không khí, độ ẩm đất cao, bệnh phát triển mạnh.
Yếu tố dinh dưỡng
+ Bệnh phát triển mạnh trên đất ruộng khô hạn, khó hấp thụ silic, chân ruộng trũng nhiều mùn.
+ Đạm ảnh hưởng rõ tới mức độ nhiễm bệnh.
+ Bón đạm quá nhiều và không hợp lý, cây lúa mềm yếu, chứa đạm tự do, tính chống chịu giảm, bệnh phát triển mạnh
Về giống lúa
+ Các giống lúa có tính kháng nhiễm bệnh đạo ôn rất khác nhau.
+ Sử dụng nhiều các giống nhiễm trên diện tích lớn có thể là điều kiện cho bệnh phát sinh lây lan gây hại nặng.
+ Một số giống lúa có năng suất cao, có tính chống chịu cao đối với bệnh ở các vùng khác nhau. Những giống này có ít hoặc nhiều gen kháng đối với một số nhóm nhất định có khả năng tạo ra các hợp chất không chế sự xâm nhiễm và phát triển bệnh (quinon, phenol, phytoalexin…)
Biện pháp phòng trừ
Sử dụng giống lúa kháng bệnh có năng suất cao.
Vệ sinh thực vật, tiêu huỷ tàn dư rơm rạ bị bệnh sau thu hoạch, diệt trừ các loại cỏ dại là kí chủ của đạo ôn.
Chế độ chăm sóc tốt, hợp lý, bón phân cân đối NPK, tăng cường sử dụng phân hữu cơ, tro, kali và không bón thúc đạm khi bệnh đang phát triển.
Xử lí hạt giống khi hạt giống mang nguồn bệnh.
Phun thuốc khi bệnh mới phát sinh
Bệnh khô vằn hại lúa
Triệu chứng
Trên lúa, bệnh hại các bộ phận phiến lá, bẹ lá, cổ bông.
Trên ngô, bệnh hại chủ yếu ở bẹ lá thân và áo bắp ngô.
Vết bệnh to, không có hình dạng cố định, lan rộng như vết lang ben, dạng đám mây, vằn da hổ, màu xám lục.
Bệnh lan dần từ các lá phía dưới thấp lên trên tới lá đòng lúa hoặc bắp ngô.
Bẹ lá, lá và các bộ phận bị bệnh khô lụi sớm, vàng xơ xác, nghẹn đòng, bông lép.
Nguyên nhân
Bệnh do một loại nấm (Rhizoctonia solani Kuhn) gây hại.
Bệnh lây lan bằng sợi nấm và hạch nấm từ ruộng này sang ruộng khác, từ cây này sang cây khác.
Những hạch này gặp nước lây lan rộng ra, phát triển thành sợi tái xâm nhiễm trên đồng ruộng, đến cuối vụ hạch sẽ bảo tồn lâu dài trên đất trở thành nguồn bệnh của vụ sau.
Nấm sinh trưởng và xâm nhiễm thích hợp ở nhiệt độ 28 – 32 độ C.
Quy luật phát triển bệnh
Bệnh phát triển mạnh trong nhiệt độ 24 – 32 độ C và độ ẩm trên 90%, nhất là vào mùa mưa, cấy trồng ở mật độ dày, cho nên bệnh thường phổ biến rộng.
Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện nước ruộng không thích hợp, ruộng để khô hạn, bón phân đạm vô cơ đơn thuần…
Biện pháp phòng trừ
Vệ sinh đồng ruộng, huỷ bỏ tàn dư, cày sâu vùi lấp hạch nấm, tàn dư.
Gieo cấy ở mật độ thích hợp.
Đảm bảo chế độ nước vừa phải.
Chăm sóc làm sạch cỏ, bón phân cân đối, kết hợp bón kali.
Phun thuốc đặc hiệu khi bệnh phát sinh chưa phát sinh lên các bẹ lá phía trên.
Bệnh vi khuẩn bạc lá lúa
Triệu chứng
Vết bệnh từ mép lá, gần chóp lá hoặc ở giữa phiến lá dần dần dài và rộng vào trong phiến lá, lan thẳng dọc quanh gân chính, lan rộng theo đường gợn sóng hoặc thẳng dọc xuống phía dưới, có đường viền chỉ màu nâu đứt quãng.
Mô bệnh có màu vàng lục xanh tái, sau đó nâu xám, khô bạc, cây xơ xác, lá khô táp.
Khi mưa ẩm, nóng thì trên mặt vết bệnh tiết ra nhiều giọt dịch vi khuẩn keo đặc lại thành những viên nhỏ màu vàng đục, màu nâu hổ phách.
Nguyên nhân
Do vi khuẩn Xanthomonas oryzae Dowson hình gậy ngắn. Có 1 lông roi ở một đầu.
Nhiệt độ thích hợp cho vi khuẩn xâm nhiễm là 26 – 30 độ C.
Vi khuẩn xâm nhiễm qua lỗ khí, thuỷ khổng và qua các vết thương xây xát trên lá.
Vi khuẩn truyền lan trên đồng ruộng nhờ nước tưới, mưa gió, giông bão.
Nguồn bệnh vi khuẩn bảo tồn và truyền lan qua hạt giống, tàn dư lá bệnh, lúa chét, cỏ dại…
Quy luật phát triển bệnh
Sự phát sinh phát triển bệnh phụ thuộc vào thời tiết, đặc điểm của giống lúa và giai đoạn sinh trưởng, chế độ dinh dưỡng phân bón, nước…
Bệnh phát triển mạnh, lan nhanh trong điều kiện nhiệt độ tương đối cao 26 – 30 độ C, độ ẩm cao, lượng mưa nhiều.
Bệnh phát triển nhiều nhất vào giai đoạn cây lúa sinh trưởng mạnh cho đến cuối giai đoạn sinh trưởng. Trong điều kiện đất chua, úng ngập, mực nước sâu, trũng… làm cho bệnh càng xuất hiện sớm và phát triển mạnh.
Phân bón có ảnh hưởng rõ rệt tới sự phát triển bệnh, đặc biệt phân đạm vô cơ.
Bệnh phát triển mạnh hơn nếu bón đạm vô cơ đơn thuần, lượng bón nhiều, bón lai rai, bón muộn. Tăng cường bón phân chuồng hữu cơ, bón phân kali, lân một cách cân đối hợp lý, làm hạn chế sự phát triển và mức độ tác hại của bệnh.
Biện pháp phòng trừ
- Sử dụng chọn lọc các giống lúa kháng bệnh cao, có sức chịu bệnh tốt.
Vệ sinh tàn dư sau thu hoạch, diệt cỏ dại nhiễm bệnh.
Sử dụng các biện pháp kỹ thuật trồng trọt như bón phân hữu cơ, phân kali. Không bón thúc đạm vô cơ quá muộn, giữ mực nước nông.
Phun thuốc trừ vi khuẩn ít có hiệu quả, chủ yếu là để phòng ngừa và bảo vệ là đòng trong trường hợp cần thiết, cần phun sớm khi bệnh mới phát sinh.
Bệnh virus hại lúa
Triệu chứng
Phần trên của phiến lá bi vàng từ chót lá vào trong.
Cây lùn thấp, lá sít nhau, lá ngắn hơi xoè ngang.
Trổ muộn, nghẹn đòng, bông lép lửng, gạo vàng, dễ gãy, vị đắng.
Cây bi bệnh sớm có thể lụi chết hoặc đẻ nhánh kém.
Thiệt hại trung bình 15 – 60% năng suất.
Bệnh phổ biến ở một số vùng, nhất là miền Trung và Tây Bắc nước ta.
Nguyên nhân và đặc điểm nhiễm bệnh
Do 2 loại virus Tungro gây ra.
Cây lúa nhiễm 2 loại virus có triệu chứng điển hình. Nếu cây lúa bị nhiễm 1 loại virus thì lá vẫn còn xanh, cây lùn thấp.
Bệnh lây lan nhờ các sinh vật truyền bệnh: rầy xanh đuôi đen và rầy điện quang.
Ngoài côn trùng, cỏ dai nhiễm viru cũng có vai trò quan trọng trong việc duy trì nguồn bệnh virus trên đồng ruộng như cỏ lồng vực, cỏ đuôi phượng, cỏ gà nước…
Tính cảm nhiễm bệnh của cây phụ thuộc vào tuổi cây và giống lúa.
Biện pháp phòng trừ
Thay đổi giống nhiễm bằng sử dụng giống kháng bệnh có năng suất cao phù hợp với vùng sản xuất.
Vệ sinh đồng ruộng, tiêu diệt cỏ dại là những kí chủ dại của virus.
Phòng trừ rầy xanh đuôi đen và rầy điện quang là những loài vật truyền bệnh trung gian.
Phòng trừ sớm khi rầy mới xuất hiện trên mạ, lúa non bằng các chế phẩm sinh học, thuốc hoá học, dầu hoả…
Giống lúa MTL.110
Giống lúa OM 6162
CÁM ƠN CÔ VÀ CÁC BẠN ĐÃ LẮNG NGHE!
Nhóm thuyết trình:
Nguyễn Thị Dung
Lê Thị Hạnh Dung
Sinh – KTNN K33
BỆNH HẠI LÚA
CHỦ ĐỀ:
NỘI DUNG
Bệnh đạo ôn
Bệnh khô vằn
Bệnh vi khuẩn bạc lá lúa
Bệnh virus
Bệnh đạo ôn
Triệu chứng
- Triệu chứng đạo ôn lá: Trên phiến lá có vết bệnh nhỏ màu xanh tái đến nâu vàng, ban đầu hình hơi tròn hoặc bầu dục, sau phát triển thành hình thoi ở giữa có màu xám tro, xung quanh màu nâu đậm, vòng ngoài cũng là màu nâu vàng nhạt.
- Triệu chứng đạo ôn bông: Khi lúa trổ trở đi, nấm xâm nhập gây hại trên đốt cổ bông, cổ gié tạo ra các chấm nâu nhỏ, sau vết bệnh lan rộng, ôm bọc quanh cổ bông, màu nâu đen, cổ bông khô tóp, thối hỏng làm cho bông lép trắng toàn bộ. Nếu bệnh xuất hiện muộn khi hạt đã vào chắc thì có hiện tượng gẫy gục cổ bông làm giảm năng suất.
Nguyên nhân
Bệnh đạo ôn do nấm Pyricularia ozyzae, thuộc lớp Nấm bất toàn gây nên.
Sợi nấm đa bào không màu. Cơ quan sinh sản vô tính là cành bào tử đa bào, trên đỉnh cành sinh ra các bào tử phân sinh hình nụ sen 2 – 3 ngăn ngang, không màu.
Bào tử phân sinh được sinh ra với số lượng nhiều về ban đêm, trong tối.
Nấm đạo ôn rất dễ bị biến dị tạo ra rất nhiều nòi ở các vùng sinh học khác nhau.
Quy luật phát triển bệnh
Thời tiết, khí hậu
+ Các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng có ảnh hưởng lớn tới bệnh.
+ Nhiệt độ tương đối thấp hoặc nhiệt độ ban đêm thấp, cây lúa dễ bi nhiễm bệnh hơn.
+ Độ ẩm không khí, độ ẩm đất cao, bệnh phát triển mạnh.
Yếu tố dinh dưỡng
+ Bệnh phát triển mạnh trên đất ruộng khô hạn, khó hấp thụ silic, chân ruộng trũng nhiều mùn.
+ Đạm ảnh hưởng rõ tới mức độ nhiễm bệnh.
+ Bón đạm quá nhiều và không hợp lý, cây lúa mềm yếu, chứa đạm tự do, tính chống chịu giảm, bệnh phát triển mạnh
Về giống lúa
+ Các giống lúa có tính kháng nhiễm bệnh đạo ôn rất khác nhau.
+ Sử dụng nhiều các giống nhiễm trên diện tích lớn có thể là điều kiện cho bệnh phát sinh lây lan gây hại nặng.
+ Một số giống lúa có năng suất cao, có tính chống chịu cao đối với bệnh ở các vùng khác nhau. Những giống này có ít hoặc nhiều gen kháng đối với một số nhóm nhất định có khả năng tạo ra các hợp chất không chế sự xâm nhiễm và phát triển bệnh (quinon, phenol, phytoalexin…)
Biện pháp phòng trừ
Sử dụng giống lúa kháng bệnh có năng suất cao.
Vệ sinh thực vật, tiêu huỷ tàn dư rơm rạ bị bệnh sau thu hoạch, diệt trừ các loại cỏ dại là kí chủ của đạo ôn.
Chế độ chăm sóc tốt, hợp lý, bón phân cân đối NPK, tăng cường sử dụng phân hữu cơ, tro, kali và không bón thúc đạm khi bệnh đang phát triển.
Xử lí hạt giống khi hạt giống mang nguồn bệnh.
Phun thuốc khi bệnh mới phát sinh
Bệnh khô vằn hại lúa
Triệu chứng
Trên lúa, bệnh hại các bộ phận phiến lá, bẹ lá, cổ bông.
Trên ngô, bệnh hại chủ yếu ở bẹ lá thân và áo bắp ngô.
Vết bệnh to, không có hình dạng cố định, lan rộng như vết lang ben, dạng đám mây, vằn da hổ, màu xám lục.
Bệnh lan dần từ các lá phía dưới thấp lên trên tới lá đòng lúa hoặc bắp ngô.
Bẹ lá, lá và các bộ phận bị bệnh khô lụi sớm, vàng xơ xác, nghẹn đòng, bông lép.
Nguyên nhân
Bệnh do một loại nấm (Rhizoctonia solani Kuhn) gây hại.
Bệnh lây lan bằng sợi nấm và hạch nấm từ ruộng này sang ruộng khác, từ cây này sang cây khác.
Những hạch này gặp nước lây lan rộng ra, phát triển thành sợi tái xâm nhiễm trên đồng ruộng, đến cuối vụ hạch sẽ bảo tồn lâu dài trên đất trở thành nguồn bệnh của vụ sau.
Nấm sinh trưởng và xâm nhiễm thích hợp ở nhiệt độ 28 – 32 độ C.
Quy luật phát triển bệnh
Bệnh phát triển mạnh trong nhiệt độ 24 – 32 độ C và độ ẩm trên 90%, nhất là vào mùa mưa, cấy trồng ở mật độ dày, cho nên bệnh thường phổ biến rộng.
Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện nước ruộng không thích hợp, ruộng để khô hạn, bón phân đạm vô cơ đơn thuần…
Biện pháp phòng trừ
Vệ sinh đồng ruộng, huỷ bỏ tàn dư, cày sâu vùi lấp hạch nấm, tàn dư.
Gieo cấy ở mật độ thích hợp.
Đảm bảo chế độ nước vừa phải.
Chăm sóc làm sạch cỏ, bón phân cân đối, kết hợp bón kali.
Phun thuốc đặc hiệu khi bệnh phát sinh chưa phát sinh lên các bẹ lá phía trên.
Bệnh vi khuẩn bạc lá lúa
Triệu chứng
Vết bệnh từ mép lá, gần chóp lá hoặc ở giữa phiến lá dần dần dài và rộng vào trong phiến lá, lan thẳng dọc quanh gân chính, lan rộng theo đường gợn sóng hoặc thẳng dọc xuống phía dưới, có đường viền chỉ màu nâu đứt quãng.
Mô bệnh có màu vàng lục xanh tái, sau đó nâu xám, khô bạc, cây xơ xác, lá khô táp.
Khi mưa ẩm, nóng thì trên mặt vết bệnh tiết ra nhiều giọt dịch vi khuẩn keo đặc lại thành những viên nhỏ màu vàng đục, màu nâu hổ phách.
Nguyên nhân
Do vi khuẩn Xanthomonas oryzae Dowson hình gậy ngắn. Có 1 lông roi ở một đầu.
Nhiệt độ thích hợp cho vi khuẩn xâm nhiễm là 26 – 30 độ C.
Vi khuẩn xâm nhiễm qua lỗ khí, thuỷ khổng và qua các vết thương xây xát trên lá.
Vi khuẩn truyền lan trên đồng ruộng nhờ nước tưới, mưa gió, giông bão.
Nguồn bệnh vi khuẩn bảo tồn và truyền lan qua hạt giống, tàn dư lá bệnh, lúa chét, cỏ dại…
Quy luật phát triển bệnh
Sự phát sinh phát triển bệnh phụ thuộc vào thời tiết, đặc điểm của giống lúa và giai đoạn sinh trưởng, chế độ dinh dưỡng phân bón, nước…
Bệnh phát triển mạnh, lan nhanh trong điều kiện nhiệt độ tương đối cao 26 – 30 độ C, độ ẩm cao, lượng mưa nhiều.
Bệnh phát triển nhiều nhất vào giai đoạn cây lúa sinh trưởng mạnh cho đến cuối giai đoạn sinh trưởng. Trong điều kiện đất chua, úng ngập, mực nước sâu, trũng… làm cho bệnh càng xuất hiện sớm và phát triển mạnh.
Phân bón có ảnh hưởng rõ rệt tới sự phát triển bệnh, đặc biệt phân đạm vô cơ.
Bệnh phát triển mạnh hơn nếu bón đạm vô cơ đơn thuần, lượng bón nhiều, bón lai rai, bón muộn. Tăng cường bón phân chuồng hữu cơ, bón phân kali, lân một cách cân đối hợp lý, làm hạn chế sự phát triển và mức độ tác hại của bệnh.
Biện pháp phòng trừ
- Sử dụng chọn lọc các giống lúa kháng bệnh cao, có sức chịu bệnh tốt.
Vệ sinh tàn dư sau thu hoạch, diệt cỏ dại nhiễm bệnh.
Sử dụng các biện pháp kỹ thuật trồng trọt như bón phân hữu cơ, phân kali. Không bón thúc đạm vô cơ quá muộn, giữ mực nước nông.
Phun thuốc trừ vi khuẩn ít có hiệu quả, chủ yếu là để phòng ngừa và bảo vệ là đòng trong trường hợp cần thiết, cần phun sớm khi bệnh mới phát sinh.
Bệnh virus hại lúa
Triệu chứng
Phần trên của phiến lá bi vàng từ chót lá vào trong.
Cây lùn thấp, lá sít nhau, lá ngắn hơi xoè ngang.
Trổ muộn, nghẹn đòng, bông lép lửng, gạo vàng, dễ gãy, vị đắng.
Cây bi bệnh sớm có thể lụi chết hoặc đẻ nhánh kém.
Thiệt hại trung bình 15 – 60% năng suất.
Bệnh phổ biến ở một số vùng, nhất là miền Trung và Tây Bắc nước ta.
Nguyên nhân và đặc điểm nhiễm bệnh
Do 2 loại virus Tungro gây ra.
Cây lúa nhiễm 2 loại virus có triệu chứng điển hình. Nếu cây lúa bị nhiễm 1 loại virus thì lá vẫn còn xanh, cây lùn thấp.
Bệnh lây lan nhờ các sinh vật truyền bệnh: rầy xanh đuôi đen và rầy điện quang.
Ngoài côn trùng, cỏ dai nhiễm viru cũng có vai trò quan trọng trong việc duy trì nguồn bệnh virus trên đồng ruộng như cỏ lồng vực, cỏ đuôi phượng, cỏ gà nước…
Tính cảm nhiễm bệnh của cây phụ thuộc vào tuổi cây và giống lúa.
Biện pháp phòng trừ
Thay đổi giống nhiễm bằng sử dụng giống kháng bệnh có năng suất cao phù hợp với vùng sản xuất.
Vệ sinh đồng ruộng, tiêu diệt cỏ dại là những kí chủ dại của virus.
Phòng trừ rầy xanh đuôi đen và rầy điện quang là những loài vật truyền bệnh trung gian.
Phòng trừ sớm khi rầy mới xuất hiện trên mạ, lúa non bằng các chế phẩm sinh học, thuốc hoá học, dầu hoả…
Giống lúa MTL.110
Giống lúa OM 6162
CÁM ƠN CÔ VÀ CÁC BẠN ĐÃ LẮNG NGHE!
 







Các ý kiến mới nhất