Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

benh lao va nhung dieu can biet ve benh lao

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Hoàng Trọng
Ngày gửi: 11h:25' 19-12-2010
Dung lượng: 5.5 MB
Số lượt tải: 65
Số lượt thích: 0 người
Bệnh Lao và những điều cần biết về căn bệnh này
Năm 1819, một người Pháp tên là René Laennec (1781-1826)  phát minh ra ống nghe, đăng lần đầu tiên trên báo chuyên luận về ống nghe bệnh. Ông áp dụng phương pháp của mình cho căn bịnh đang gặm mòn ông để rồi 7 năm sau ông mất, lúc 45 tuổi: đó là bệnh lao. Bịnh này do ông lỡ cắt trúng tay khi giải phẫu tử thi người chết vì bịnh lao để khám nghiệm.
Bệnh lao được biết từ thời thượng cổ, có tên là "phtisie" (tiếng  Hy Lạp phtio nghĩa là "tôi giết"). Bệnh nổ ra tại Anh quốc giữa thế kỷ thứ 18, rồi lan tràn khắp Âu châu. Đó là căn bệnh nghiêm trọng nhất của thế kỷ 19 đã ám ảnh các nhà văn và y sĩ. Bệnh này thường thấy  ở thanh niên, làm họ chết sau 18 tháng đến 2 năm. Sự tác  hại của nó rất lớn: mặc dù điều kiện sống có tốt hơn nghĩa là con người có sức chống bệnh cao hơn, nhưng  năm 1900 nó là nguyên nhân của 12% số người chết ở nước Pháp
Cho dù bệnh lao có thể tấn công tất cả mọi cơ quan, từ màng não cho tới ruột non đi qua xương, thận, tử cung, thì bệnh lao phổi chiếm đến 80%. Laennec đã chứng  minh tính riêng biệt của bệnh ở những giai đoạn khác nhau và phân biệt dạng lao phổi khác với những sự nhiễm trùng phổi khác.
Những tác giả ở thế kỷ thứ 19 đã diễn tả chu kỳ của bệnh này: bệnh nhân ốm yếu dần, thỉnh thoảng ho khan, khạc đờm, đổ mồ hôi rất nhiều về đêm, cảm thấy đau giữa vai và lồng ngực, rối loạn tiêu hóa và thân nhiệt lên ban đêm. Khi khám phổi, y sĩ nghe thấy tiếng khô và ráp, tiếng ran nổ nhẹ, tiếng rắc. Vài tháng sau, bắt đầu ho thường xuyên và đau. Đờm màu xanh với những  mảnh đặc trắng. Bệnh nhân ói mửa, ăn mất ngon, sốt. Tiêu chảy làm bệnh nhân càng yếu hơn. Ống nghe bệnh bằng một dụng cụ quí báu mới phát minh, nghe phổi truyền tiếng òng ọc như từ "bình bị rạn nứt" hay tiếng ồ ồ từ "đáy hang" (theo lời của Laennec).
Trong pha đầu, khi khám nghiệm tử thi, ông thấy thấy những hột nửa trong nửa đục nhỏ bằng hột kê cho tới lớn bằng hột đậu tràn lan trong phổi. Sau đó những hột nào trở thành mềm thì đổi ra màu trăng trắng, như "một viên phó mát bị ngón tay đè nát".  Chính thứ này bắt bệnh nhân khạc một cách khó nhọc. Bên cạnh các hột này là những lỗ hổng lớn cỡ hột hạnh nhân có khi to bằng nắm tay có chứa hoặc không chứa một chất lỏng. Phổi bị tàn phá, không thể chứa đầy không khí.
Trong suốt một thế kỷ, gánh nặng này qui tụ quanh nó nhiều ảo giác.  Vào năm 1840, đó là căn bệnh lãng mạn, yếu ớt nhưng tỉnh táo. Sau đó đến triều đại Napoléon, người ta tưởng rằng đó là bệnh của những tinh hoa, từ Aiglon, con trai của Napoléon đệ nhất cho tới Chopin và nhất là bệnh của bà  Beaumont do Chateaubriand miêu tả cho tới bà Marie Duplessis, mẫu đàn bà Trà hoa nữ  (Dame aux Camélias) của Alexandre Dumas fils  (1824-1895) và  Traviata của Juiseppe Verdi (1813-1901).
Vào cuối thế kỷ thì họ khám phá ra rằng chính những người nghèo mới bị lao nhiều nhất. Những nhà đạo đức học cho rằng bệnh này xảy ra cho những người nghiện rượu hoặc có cuộc sống thác  loạn. Họ cho rằng thành phố là nơi gom tụ những  sự xấu xa nên đã sinh ra căn bệnh ác hại này. Nhưng nó không chừa ngay cả tận cùng thôn quê.
Từ năm 1865 người ta mới biết bệnh lao truyền nhiễm. Giới trưởng giả hốt hoảng, đuổi ngay người hầu khi thấy họ bắt đầu ho.
Các nghiệp đoàn khám phá rằng gánh nặng này do cảnh nghèo và sự bóc lột: năm 1901, Ferdinand Pelloutier nhấn mạnh là bệnh phtisie giết gấp 4 lần những người ở quận 15, lúc đó là quận nghèo, hơn là khu Opéra...
Con đường dài dẫn tới thuốc trị
Mặc dù có những tiến bộ thực tiễn về hiểu biết ăn bệnh, nhưng  các y sĩ vẫn chưa có khí giới. Để chữa trị , họ chữa trị người giàu có bằng cách khuyên họ ăn uống tẩm bổ, nghỉ ngơi, hít thở gió biển, tới Madère, Naples hay đến miền Nam nước Pháp.
Đến giữa thế kỷ, Hermann Brehmer và Peter Dettweiler chế ra  sanatorium, kéo người bệnh ra khỏi thế giới trong  kéo dài cho tới hàng  năm và gây cảm hứng sáng tác văn chương nơi đó có quyển tiểu thuyết của Thomas Mann La montagne magique (Núi thần diệu).
Năm 1884, hy vọng lớn  lao đã đến khi nhà khoa học Đức Robert Koch (1843-1910) khám phá ra trực khuẩn bệnh lao. Tuy nhiên phải đợi dến năm 1921 hai nhà bác học Albert Calmette (1863-1933) và Camille Guérin (1872-1961) cô lập được trực khuẩn vô hại, nghĩa là sự chủng ngừa, thuốc chủng B.C.G. (Baccillus Calmette Guérin)
Lúc đầu người ta chỉ chủng ngừa bịnh, sau đó phổ biến rộng rãi và cuối cùng hầu hết một nước đều bắt buộc phải chủng ngừa bệnh lao. Tuy nhiên những người đã bịnh vẫn chưa có thuốc chữa cho đến thời kỳ Thế giới Chiến tranh lần thứ Hai, các loại thuốc trị được chế tạo có hiệu nghiệm như streptomycine, isoniazide hay rimifon.

Trong những năm 50, bệnh lao đã được đẩy lùi trong những  nước kỹ nghệ hóa. Các nhà điều dưỡng  vắng dần. Con người đã quên đi sự sợ hãi khi nghe tên bệnh. Tuy nhiên bệnh lao vẫn tiếp tục  hoành hành nhất là tại các nước thuộc thế giới thứ ba mà mỗi năm giết khoảng 2-3 triệu người.
Lao là tình trạng nhiễm vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis, thường gặp nhất ở phổi nhưng cũng có thể ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương (lao màng não), hệ bạch huyết, hệ tuần hoàn (lao kê), hệ niệu dục, xương và khớp.
Hiện nay lao là bệnh nhiễm khuẩn chính và thường gặp nhất, ảnh hưởng đến 2 tỉ người tức 1/3 dân số, với 9 triệu ca mới mỗi năm, gây 2 triệu người tử vong, hầu hết ở các nước đang phát triển.
Hầu hết (90%) các trường hợp nhiễm khuẩn lao là tiềm ẩn không triệu chứng. 10% những người này trong cuộc đời họ sẽ tiến triển thành bệnh lao có triệu chứng, và nếu không điều trị, nó sẽ giết 50% số nạn nhân. Lao là một trong 3 bệnh truyền nhiễm gây tử vong cao nhất trên thế giới: HIV/AIDS giết 3 triệu người mỗi năm, lao giết 2 triệu, và sốt rét giết 1 triệu.
Sự sao lãng trong các chương trình kiểm soát lao, sự bùng phát của đại dịch HIV/AIDS và việc di dân đã khiến lao trỗi dậy. Các chủng lao kháng đa thuốc (MDR, multiple drug resistant) đang tăng. Năm 1993, Tổ chức Y tế Thế giới tuyên bố tình trạng khẩn cấp toàn cầu đối với lao.
Vi khuẩn
Tác nhân gây bệnh lao, Mycobacterium tuberculosis (MTB), là vi khuẩn hiếu khí. Vi khuẩn này phân chia mỗi 16 đến 20 giờ, rất chậm so với thời gian phân chia tính bằng phút của các vi khuẩn khác (trong số các vi khuẩn phân chia nhanh nhất là một chủng E. coli, có thể phân chia mỗi 20 phút). MTB không được phân loại Gram dương hay Gram âm vì chúng không có đặc tính hoá học này, mặc dù thành tế bào có chứa peptidoglycan. Trên mẫu nhuộm Gram, nó nhuộm Gram dương rất yếu hoặc là không biểu hiện gì cả. Trực khuẩn lao có hình dạng giống que nhỏ, có thể chịu đựng được chất sát khuẩn yếu và sống sót trong trạng thái khô trong nhiều tuần nhưng, trong điều kiện tự nhiên, chỉ có thể phát triển trong sinh vật ký chủ (cấy M. tuberculosis in vitro cần thời gian dài để lấy có kết quả, nhưng ngày nay là công việc bình thường ở phòng xét nghiệm).
Trực khuẩn lao được xác định dưới kính hiển vi bằng đặc tính nhuộm của nó: nó vẫn giữ màu nhuộm sau khi bị xử lý với dung dịch acid, vì vậy nó được phân loại là "trực khuẩn kháng acid" (acid-fast bacillus, viết tắt là AFB). Với kỹ thuật nhuộm thông thường nhất là nhuộm Ziehl-Neelsen, AFB có màu đỏ tươi nổi bật trên nền xanh. Trực khuẩn kháng acid cũng có thể được xem bằng kính hiển vi huỳnh quang và phép nhuộm auramine-rhodamine.
Phức hợp M. tuberculosis gồm 3 loài mycobacterium khác có khả năng gây lao: M. bovis, M. africanum và M. microti. Hai loài đầu rất hiếm gây bệnh và loài thứ 3 không gây bệnh ỏ người.
Bệnh học
Lây truyền
Lao lan truyền qua các giọt nước trong không khí từ chất tiết khi ho, nhảy mũi, nói chuyện hay khạc nhổ của người nhiễm vi khuẩn hoạt động. Tiếp xúc gần gũi (kéo dài, thường xuyên, thân mật) là nguy cơ nhiễm bệnh cao nhất (khoảng 22%, nhưng có thể đến 100%). Người mắc lao hoạt động không điều trị có thể lây sang 20 người khác mỗi năm. Các nguy cơ khác bao gồm ra đời ở vùng lao phổ biến, bệnh nhân rối loạn miễn dịch (như HIV/AIDS), cư dân hoặc làm việc ở nơi đông người nguy cơ cao, nhân viên chăm sóc sức khoẻ phục vụ đối tượng có nguy cơ cao, nơi thu nhập kém, thiếu vắng dịch vụ y tế, dân thiểu số nguy cơ cao, trẻ em phơi nhiễm với người lớn thuộc nhóm nguy cơ cao, người tiêm chích ma tuý.
Lây truyền chỉ xảy ra ở người mắc bệnh lao hoạt động (không phải lao tiềm ẩn).
Khả năng lây truyền phụ thuộc vào mức độ nhiễm khuẩn của người mắc lao (số lượng tống xuất), môi trường phơi nhiễm, thời gian phơi nhiễm và độc lực của vi khuẩn.
Chuỗi lây truyền có thể được chấm dứt bằng cách cách ly người bệnh ở giai đoạn bệnh hoạt động và áp dụng biện pháp điều trị kháng lao hữu hiệu.
Bệnh sinh
Mặc dù chỉ 10% ca nhiễm vi khuẩn lao tiến triển đến bệnh lao, nhưng tỉ lệ tử vong là 51% nếu không điều trị.
Nhiễm lao bắt đầu khi trực khuẩn lao vào đến phế nang, xâm nhiễm vào đại thực bào phế nang và sinh sôi theo cấp số mũ. Vi khuẩn bị tế bào đuôi gai bắt giữ và mang đến hạch lympho vùng ở trung thất, sau đó theo dòng máu đến các mô và cơ quan xa, nơi mà bệnh lao có khả năng phát triển: đỉnh phổi, hạch lympho ngoại biên, thận, não và xương.
Lao được phân loại là trình trạng viêm u hạt. Đại thực bào, lympho bào T, lympho bào B và nguyên bào sợi là các tế bào kết tập lại tạo u hạt, với các lympho bào vây quanh đại thực bào. Chức năng của u hạt không chỉ ngăn cản sự lan toả của mycobacteria, mà còn tạo môi trường tại chỗ cho các tế bào của hệ miễn dịch trao đổi thông tin. Bên trong u hạt, lympho bào T tiết cytokine, như interferon gamma, hoạt hoá đại thực bào và khiến chúng chống nhiễm khuẩn tôt hơn. Lympho T cũng giết trực tiếp các tế bào bị nhiễm.
Điều quan trọng là vi khuẩn không bị u hạt loại trừ hoàn toàn, mà trở nên bất hoạt, tạo dạng nhiễm khuẩn tiềm ẩn. Nhiễm khuẩn tiềm ẩn chỉ có thể được phát hiện với thử nghiệm da tuberculin - người nhiễm lao sẽ có đáp ứng quá mẫn muộn đối với dẫn xuất protein tinh khiết từ M. tuberculosis.
Một đặc điểm nữa của u hạt ở lao người là diễn tiến đến chết tế bào, còn gọi là hoại tử, ở trung tâm của củ lao. Nhìn bằng mắt thường, củ lao có dạng pho mát trắng mềm và được gọi là hoại tử bã đậu.
Nếu vi khuẩn lao xâm nhập vào dòng máu và lan toả khắp cơ thể, chúng tạo vô số ổ nhiễm, với biểu hiện là các củ lao màu trắng ở mô. Trường hợp này được gọi là lao kê và có tiên lượng nặng.
Ở nhiều bệnh nhân nhiễm khuẩn lúc tăng lúc giảm. Mô hoại tử xơ hoá, tạo sẹo và các khoang chứa chất hoại tử bã đậu. Trong giai đoạn bệnh hoạt động, một số khoang này thông với phế quản và chất hoại tử có thể bị ho ra ngoài, chứa vi khuẩn sống và lây nhiễm sang người khác.
Điều trị với kháng sinh thích hợp có thể tiêu diệt được vi khuẩn và lành bệnh. Vùng bị ảnh hưởng được thay thế bằng mô sẹo.
Loại vắc-xin mới có tên gọi là MVA85A. Các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm loại vắc-xin này ở Gambia, một nước nhỏ ở Tây Phi.
Kết quả thử nghiệm cho thấy loại vắc-xin này rất an toàn và kích thích phản ứng miễn dịch ở mức độ cao, một nhân tố quan trọng đầu tiên nhằm phòng chống lây nhiễm lao.
Hiện giờ các nhà khoa học nghiên cứu vắc-xin MVA85A ở giai đoạn II tại Western Cape, Nam Phi nhằm xác định tính hiệu quả của nó so với loại vắc-xin cũ BCG.
Bacille Calmette-Guerin hay BCG là loại vắc-xin phổ biến hiện nay. Nó có thể giúp phòng ngừa một số dạng bệnh lao nguy hiểm tuy nhiên nó không có hiệu quả tốt đối với bệnh lao phổi, dạng bệnh lao phổ biến nhất.
by sadstar
 
Gửi ý kiến