Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Bài 22. Cao trào cách mạng tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đào Ngọc Trâm
Ngày gửi: 21h:46' 22-03-2018
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 189
Số lượt thích: 0 người
NẠN ĐÓI 1944-1945
Nhóm 2_Lớp 9A10
Nguyên nhân của nạn đói
Nguyên nhân trực tiếp
Nguyên nhân trực tiếp là những hậu quả của chiến tranh tại Đông Dương. Các cường quốc đang chiếm đóng Việt Nam như Pháp, Nhật Bản vì mục đích phục vụ chiến tranh đã lạm dụng và khai thác quá sức vào nông nghiệp vốn đã lạc hậu, đói kém gây nhiều tai họa ảnh hưởng đến sinh hoạt kinh tế của người Việt. Trong khi Nhật thu gom gạo để chở về nước thì Pháp dự trữ lương thực phòng khi quân Đồng minh chưa tới, phải đánh Nhật hoặc dùng cho cuộc tái xâm lược Việt Nam. Những biến động quân sự và chính trị dồn dập xảy ra đã ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất lương thực miền Bắc vốn dĩ đã thiếu gạo nên càng bị đói.
2. Nguyên nhân gián tiếp
Nguyên nhân gián tiếp là những biện pháp quân sự hóa kinh tế nhằm phục vụ nhu cầu chiến tranh của chế độ thực dân Pháp tại Việt Nam, do tại nước Pháp khi đó đang có chiến tranh và cũng đang bị xâm chiếm. Sau đó Nhật Bản dùng vũ lực loại bỏ Pháp chiếm đóng Việt Nam rồi thực hiện các biện pháp khác khốc liệt hơn nhằm mục đích khai thác phục vụ chiến tranh (bắt nông dân nhổ lúa trồng đay, buộc người dân bán lúa gạo với giá rẻ mạt để chuyển về Nhật, đánh đập người dân để thu đủ các lọa thuế).
3.Nguyên nhân tự nhiên
- Nguyên nhân tự nhiên, thời tiết là yếu tố ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lương thực tại miền Bắc. Thiên tai, lũ lụt, sâu bệnh gây mất mùa tại miền Bắc. Bệnh dịch tả lây lan nhanh và rộng khắp trong mùa lũ cũng góp phần làm tăng thêm nạn đói.
- Tháng 9/1944, lụt vỡ đê La Giang (Hà Tĩnh), đê sông Cả (Nghệ An) làm cho nạn đói diễn ra trầm trọng hơn.Theo những người dân trải qua nạn đói khủng khiếp ở Tây Lương (Tiền Hải, Thái Bình) thì vụ mùa năm 1944, lúa trên các cánh đồng rộng hàng trăm mẫu đều bị "rù" (rầy phá hoại), chết trắng, chết vàng. Cả mẫu ruộng không thu nổi vài chục cân thóc mẩy.
Vào tháng Tám năm 1945, một trận lũ khủng khiếp đã gây vỡ đê tại 79 điểm, gây ngập 11 tỉnh miền Bắc với tổng diện tích 312.000 ha, ảnh hưởng tới cuộc sống của 4 triệu người… Sau cơn lũ, bệnh dịch tả lây lan nhanh và rộng khắp, cộng với không có thuốc men, lương thực, nên góp phần làm cho nạn đói càng thêm trầm trọng.
Hậu quả của nạn đói
Không có số liệu chính xác về số người đã chết đói trong nạn đói này, một số nguồn khác nhau ước tính là từ khoảng 400.000 đến 2 triệu người đã bị chết đói tại miền bắc Việt Nam. Tháng 10 năm 1945, theo báo cáo của một quan chức quân sự của Pháp tại Đông Dương khi đó là tướng Mordant thì khoảng nửa triệu người chết. Toàn quyền Pháp Jean Decouxthì viết trong hồi ký của ông về thời kỳ cầm quyền tại Đông Dương "À la barre de l’Indochine" – là có 1 triệu người miền Bắc chết đói.
- Năm 1959, Chính phủ Nhật Bản đã đàm phán với chính quyền Ngô Đình Diệm về việc bồi thường chiến tranh, phía Nhật cho rằng có khoảng 300.000 nạn nhân chết đói, trong khi chính quyền Ngô Đình Diệm đưa ra con số 1.000.000 người. Mức bồi thường cuối cùng được thống nhất là 14 tỉ 40 triệu yen (khoảng 39 triệu đôla Mỹ) vào năm 1960, chia ra thì mỗi mạng người Việt chết đói chỉ bằng một nhúm tiền lẻ
- Về sau, qua khảo sát hộ khẩu các tỉnh miền bắc, các nhà sử học Việt Nam ước đoán là từ 1 đến 2 triệu người đã chết đói. Con số 2 triệu người chết cũng là điều Hồ Chí Minh có nhắc đến trong bài Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945.
Cuốn Lịch sử tỉnh Hà Nam Ninh xuất bản năm 1988 cho biết: phủ Nghĩa Hưng (Nam Định) mỗi ngày chết 400 ngườiKhi người đói kéo về các thành phố lớn, lúc đầu người chết còn được bó chiếu đem chôn, sau vì nhiều người chết quá nên đành phải chất xác, hất chung xuống hố. Có người còn thoi thóp nhưng vẫn bị đưa đi chôn, vì “trước sau gì cũng chết”
Trong cuốn "Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam - Những chứng tích lịch sử" của GS Văn Tạo thống kê:
"Riêng tỉnh Thái Bình, nơi nạn đói diễn ra trầm trọng nhất, đã được Ban lịch sử tỉnh điều tra, con số tương đối sát thực tế là cả tỉnh chết đói mất 280.000 người. Chỉ tính số người chết đói ở Thái Bình cùng với Nam Định hơn 210.000 người, Ninh Bình 38.000, Hà Nam chết 50.000 thì số người chết đói đã lên đến hơn 580.000. Như vậy, con số 2 triệu người Việt Nam chết đói trong 32 tỉnh cũ tính từ Quảng Trị trở ra và hai thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng là gần với sự thực
Nghiên cứu về nạn đói 1944-1945
Công trình nghiên cứu về nạn đói năm 1945 của GS Văn Tạo và GS Furuta Moto (người Nhật) đã chỉ rõ: chính sách vơ vét thóc gạo của phát xít Nhật và thực dân Pháp lúc bấy giờ cùng với thiên tai, mất mùa ở nhiều tỉnh đồng bằng Bắc bộ là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thảm cảnh trên.
Bác sĩ Ngô Văn Quỹ trong một tham luận của mình về nạn đói đã cho biết: “Cuối năm 1944, quân số của Nhật ở Bắc kỳ đã lên tới gần 100.000 người. Bắc kỳ lúc đó đã thiếu gạo, vì 3 trận bão tàn phá các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hải Dương và Bắc Ninh, làm cho vụ mùa bị thất thâu, lại bị cái họa phải nhổ lúa để trồng cây công nghiệp cho Nhật, nay lại phải nuôi thêm 100.000 miệng ăn của quân đội Nhật. Theo tờ trình của Thống sứ Bắc kỳ Chauvet, thì vào năm 1944 ở Bắc kỳ, diện tích trồng cây công nghiệp đã lên tới 45.000 ha”.
Theo tài liệu của Viện Sử học: năm 1941 là 700.000 tấn gạo; năm 1942 là 1.050.000 tấn gạo và 45 tấn bột gạo; năm 1943 là 1.125.904 tấn; năm 1944, mặc dù mất mùa nhưng vẫn phải cung cấp cho Nhật 900.000 tấn. Ngoài ra, Nhật còn cho Pháp xuất khẩu gạo sang các nhượng địa của Pháp ở Trung Quốc.  Tham luận của bác sỹ Ngô Văn Quỹ cũng cho biết, ngay trong năm 1945, tức lúc nạn đói lên đến đỉnh điểm, vậy mà theo các tài liệu chính thức của Pháp – Đông Dương đã thu hoạch được 2.700.000 tấn thóc, ước tính nhu cầu của nhân dân chỉ là 1.600.000 tấn; vậy là vẫn còn dư ra 1.100.000 tấn. Và ông khẳng định: “Thừa thóc, thừa gạo mà để dân chết đói đến 2 triệu người, trước lịch sử, đây quả là một tội ác “trời không dung, đất không tha”.
Trong tập tài liệu “Chiến tranh châu Á trong tiềm thức của chúng ta”, ông Yoshizawa Minami – một người Nhật Bản đã viết: “… Đông Dương có vị trí then chốt đối với Nhật Bản về lương thực. Ngoài lượng gạo nhập khẩu vào Nhật, quân đội Nhật còn rất cần một trữ lượng gạo lớn lao để tiếp tế cho các mặt trận đang lan rộng khắp Á châu và khu vực Thái Bình Dương. Đây chính là nguyên nhân trực tiếp gây nạn chết đói cho 2 triệu người Việt năm 1945…”.
Tác giả Yoshizawa Minami cũng cho biết “ông Kawai, đảm nhiệm công việc giám sát chuyển gạo từ Nam ra Bắc qua tỉnh Nam Định, đồng thời là quản lý chung về gạo dự trữ, phân phối trong tỉnh, nói có những nơi vẫn còn gạo chất như núi trong kho quân đội. Không những thế, tại một nhà thờ Thiên chúa giáo trong tỉnh gạo đầy ắp trong kho. Ông đã thuyết phục cán bộ Đại sứ quán Nhật Bản mở kho phát gạo nhưng họ không nghe”. Còn nghiên cứu của Giáo sư Văn Tạo cho biết Thống sứ Bắc kỳ chủ ý gây ra nạn đói này cho Việt Nam để thực hiện mục đích kép là chính trị và kinh tế. Mục đích chính trị là “hãm bớt nhiệt tình yêu nước” của nhân dân Việt Nam. Mục đích kinh tế là để một vài công ty của Pháp, Nhật mua gạo giá rẻ và bán giá cắt cổ cũng như để dễ dàng tuyển mộ cu ly cho các đồn điền, hầm mỏ.
Ai cứu giúp người dân việt nam trong thảm cảnh này?
Chẳng phải Nhật, cũng chẳng phải triều đình hay Chính phủ Trần Trọng Kim đầu năm 1945 mà là Việt Minh. Tất nhiên phải công nhận một điều rằng trước đó, Chính phủ Trần Trọng Kim cũng đã có những việc làm cứu đói nhưng hiệu quả chưa cao bởi họ cũng gặp muôn vàn khó khăn và Chính phủ này tồn tại trong thời gian rất ngắn.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra mắt quốc dân đồng bào. Một ngày sau đó, ngày 3 tháng 9 năm 1945, Chính phủ họp phiên đầu tiên. Một trong những nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ là cứu đói để vực dậy một dân tộc đã và đang trải qua nạn đói kinh hoàng.
Trong phiên họp đầu tiên này, Chính phủ đã thống nhất với đề xuất của Chủ tịch Hồ Chí Minh về 6 nội dung cấp bách phải thực hiện, đó là: (1) Phát động tăng gia sản xuất, mở các cuộc lạc quyên để chống nạn đói; (2) Mở phong trào chống nạn mù chữ; (3) Tổ chức càng sớm càng tốt cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu, thực hiện các quyền tự do dân chủ cho nhân dân; (4) Mở phong trào giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, bài trừ các tệ nạn do chế độ thực dân để lại; (5) Xóa bỏ các thứ thuế vô lý, trước mắt là thuế thân, thuế chợ, thuế đò; tuyệt đối cấm hút thuốc phiện; (6) Tuyên bố tự do tín ngưỡng và lương giáo đoàn kết.
Một trong những việc làm đặc biệt có ý nghĩa của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa là tổ chức lạc quyên cứu đói để kịp thời dập tắt nạn đói. Với quan điểm “chống đói cũng như chống ngoại xâm”, ngày 28-9-1945, Báo Cứu Quốc đã đăng thư của Hồ Chủ tịch gửi đồng bào cả nước kêu gọi mọi người nêu cao tinh thần “nhường cơm, sẻ áo” cứu giúp đồng bào: “Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hiện trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”. Trong cuộc vận động này, Hồ Chủ tịch là người gương mẫu thực hiện đầu tiên và triệt để, theo đó, nếu những buổi dùng cơm với khách trùng vào ngày nhịn ăn, Người tự động nhịn bù vào ngày hôm sau. Tại buổi khai mạc lễ phát động phong trào cứu đói được tổ chức tại Nhà hát Lớn Hà Nội sau đó, Hồ Chủ tịch đã đem phần gạo nhịn ăn của mình đóng góp trước tiên.
Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa còn áp dụng ngay một số biện pháp cụ thể như cho phép vận chuyển thóc gạo; nghiêm trị những kẻ đầu cơ, tích trữ thóc gạo; cấm dùng gạo vào những công việc chưa thật sự cần thiết như nấu rượu, làm bánh; cấm xuất khẩu gạo, ngô, đậu; cử một ủy ban có nhiệm vụ lo việc vận chuyển gạo từ miền Nam ra miền Bắc (công việc này đã bị đình trệ sau đó vì thực dân Pháp tái chiếm Nam bộ). Ngày 2-11-1945, Bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội Nguyễn Văn Tố – một nhân sĩ nổi tiếng – quyết định thành lập Hội Cứu đói. Hội Cứu đói được tổ chức xuống tận các làng. Ngày 28-11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh thiết lập Ủy ban tối cao tiếp tế và cứu tế. Ngoài Bộ Cứu tế, một số Bộ khác cũng có nhiệm vụ cứu tế và tiếp tế. Hưởng ứng lời kêu gọi tha thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào thi đua cứu đói đã diễn ra rộng khắp trên cả nước với rất nhiều sáng kiến, cách làm sáng tạo như tổ chức “Hũ gạo cứu đói”, “Ngày đồng tâm nhịn ăn”, “Đoàn quân tiễu trừ giặc đói”. Hàng vạn tấn gạo đã được nhân dân cả nước đóng góp, chia sẻ với đồng bào bị đói góp phần cứu đói kịp thời.
Cùng với quá trình khẩn cấp cứu đói, để đảm bảo giải quyết căn cơ và triệt để nạn đói, Chính phủ phát động toàn dân tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm với lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay. Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do, độc lập”. Trong tháng 10 và 11 năm 1945, Chính phủ ban hành nghị định giảm 20% thuế ruộng đất, miễn thuế hoàn toàn cho những vùng lụt. Bộ Quốc dân Kinh tế ra thông tri qui định việc kê khai số ruộng đất vắng chủ, số ruộng công và ruộng tư không làm hết, tạm cấp cho nông dân không có ruộng hoặc thiếu ruộng. Ngày 19-11-1945, Chính phủ thiết lập Ủy ban Trung ương phụ trách vấn đề sản xuất. Nhiều chính sách đã được triển khai đồng bộ lúc này như việc ra báo để hướng dẫn nhân dân sản xuất, cho nhân dân vay thóc, vay tiền để sản xuất, cử cán bộ thú y về nông thôn chăm sóc gia súc, gia cầm, chi ngân sách sửa chữa các quãng đê bị vỡ, củng cố hệ thống đê điều, đắp thêm một số đê mới.
Phong trào tăng gia, sản xuất diễn ra sôi nổi trong khắp cả nước kể từ Chủ tịch Chính phủ đến mọi cán bộ cao cấp của Đảng ngoài giờ làm việc chính thức đều tham gia. Với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, phong trào tăng gia sản xuất đã thu được kết quả to lớn. Sản xuất nông nghiệp nhanh chóng được khôi phục, nạn đói được đẩy lùi, đời sống của nhân dân, đặc biệt là nông dân dần ổn định. Chỉ trong 5 tháng từ tháng 11-1945 đến tháng 5-1946, sản lượng lương thực, chủ yếu là màu đạt tương đương 506.000 tấn lúa, đủ đắp được số thiếu hụt của vụ mùa năm 1945. Đến hết năm 1946, nạn đói đã cơ bản được giải quyết.
Nhà sử học Lê Thành Khôi ở Pháp trong tác phẩm Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX viết về chính sách và việc làm của Chính phủ mới khi ấy để khắc phục nạn đói này: “Một nạn đói mới đang là mối đe dọa cận kề nhất… Nhà nước tung ra một chiến dịch toàn quốc với khẩu hiệu “Tăng gia sản xuất” và “Không để hoang một tấc đất, một cánh tay nhàn rỗi”. Một nghị định được ban hành sẽ trao đất hoang cho tất cả những ai có thể khai thác. Nỗ lực của mọi người và sự thi đua yêu nước đã dựng lại các con đê, tăng gia sản xuất các hoa màu phụ: khoai lang, ngô, sắn, đậu nành; vụ gặt tháng 5 đảm bảo lương thực cho thời gian giáp hạt”. Cụ Vũ Đình Hòe, Nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục và Tư pháp của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa trong hồi ký của mình đã đưa vào phần phụ lục nội dung bài viết của tác giả Hoàng Văn Đức, Giám đốc Nha Nông chính Bắc kỳ với tựa đề “Hai thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Theo tác giả Hoàng Văn Đức, hai thắng lợi đó là Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 và chiến dịch chống nạn đói cuối năm 1945 đầu năm 1946 với những lời lẽ thật xúc động: “… Những người đó đã chiến thắng trên đồng ruộng. Động lực giải phóng của Mặt trận Việt Minh, dân tộc Việt Nam nắm vững chủ quyền của mình. Cách mạng đã thắng nạn đói”. Trong lễ kỉ niệm một năm độc lập, Quốc khánh 2-9-1946, ông Võ Nguyên Giáp khi ấy là Chủ tịch quân sự, Ủy viên trong Chính phủ liên hiệp đã tuyên bố: “Cuộc cách mạng đã chiến thắng được nạn đói, thật là một kì công của chế độ dân chủ”.
Tuần lễ vàng

Cận cảnh tuần lễ vàng
CHỐT LẠI
Hơn 70 năm đã qua đi, nhưng các thế hệ người Việt Nam vẫn không thể nào quên những ký ức đau thương về nạn đói khủng khiếp năm 1944 – 1945. Đó cũng là bài học nhắc nhở chúng ta phải luôn có ý thức tự lực, tự cường, bảo vệ vững chắc chủ quyền đất nước, cảnh giác và sẵn sàng chống lại các thế lực ngoại xâm; đồng thời, phải chủ động phát triển kinh tế, hội nhập sâu rộng với các nước khu vực và thế giới, vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội, công bằng, dân chủ, văn minh".
THE END
 
Gửi ý kiến