Câu hỏi pháp luật
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Hữu Đức
Ngày gửi: 22h:13' 27-11-2013
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 49
Nguồn:
Người gửi: Lê Hữu Đức
Ngày gửi: 22h:13' 27-11-2013
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 49
Số lượt thích:
0 người
Lê Hữu Đức - THCS Nguyễn Viết Xuân - Krông Bông
NHÓM CÂU HỎI 1
CÂU1: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Trước kia, nhà bác Lam không có con nên đã xin Mai vốn là trẻ mồ côi về làm con nuôi. Thời gian đầu, Mai được bố mẹ nuôi yêu quý và cưng chiều. Nhưng một vài năm sau, bác Lam sinh được một bé trai kháu khỉnh. Thế là bao nhiêu tình cảm bác đều dành cho con ruột của mình và coi Mai giống như một người giúp việc trong nhà. Mai tủi thân, nhưng vì cho rằng mình chỉ là phận con nuôi nên không dám đòi hỏi gì? Hỏi: Con nuôi có thể bị đối xử bất bình đẳng so với con đẻ hay không? TRẢ LỜI: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Trả lời: Điều 2 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 khẳng định rằng: “Việc nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình.” Đồng thời, Luật cũng nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi. Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì con nuôi có vị trí ngang bằng với con đẻ, có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ giống như con đẻ. : BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Vì vậy, đối với trường hợp của Mai, tuy là con nuôi nhưng Mai có quyền được đối xử bình đẳng giống như con đẻ. Gia đình Bác Lam có trách nhiệm thương yêu, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Mai; chăm lo việc học tập và giáo dục để Mai phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội. CÂU 2:
Có ý kiến cho rằng: “Chỉ có người từ đủ 18 tuổi trở lên mới có quyền khiếu nại, tố cáo. Khi đó việc tố cáo, khiếu nại mới được giải quyết”. Xin hỏi quan điểm đó đúng hay sai? Tại sao? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trả lời: Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận. Điều 74 Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những hành vi trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế xã hội hoặc bất cứ cá nhân nào. Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định. Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Nghiêm cấm trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác”. Khoản 2 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định: “Người khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức thực hiện quyền khiếu nại”. Khoản 4 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011 quy định: “Người tố cáo là công dân thực hiện quyền tố cáo”. Như vậy, pháp luật không quy định độ tuổi mà tất cả mọi công dân đều có quyền khiếu nại, tố cáo. CÂU 3:
Giờ ra chơi giữa hai tiết học, Ngọc và Nam tranh luận với nhau về môn Giáo dục công dân vừa học. Ngọc cho rằng tất cả mọi người phải đi theo một tôn giáo nào đó, song Nam lại có ý kiến trái ngược lại khi nói một người có thể không theo một tôn giáo nào cũng được. Đó mới là nội dung của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Xin hỏi ý kiến nào đúng? Tại sao? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trả lời: Điều 70 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Tín ngưỡng là lòng tin vào một cái gì đó thần bí như thần linh, thượng đế, chúa trời. Còn tôn giáo là một hình thức tín ngưỡng có hệ thống tổ chức, với những quan niệm, giáo lí thể hiện rõ sự tín ngưỡng, sùng bái thần linh và những hình thức lễ nghi thể hiện sự sùng bái ấy. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo có nghĩa là công dân có quyền theo hoặc không theo một tín ngưỡng hay tôn giáo nào; người đã theo một tín ngưỡng hay một tôn giáo nào đó có quyền thôi không theo nữa, hoặc bỏ để theo tín ngưỡng, tôn giáo khác mà không ai được cưỡng bức hoặc cản trở. Như vậy ý kiến của Nam cho rằng một người có thể không theo một tôn giáo nào là ý kiến đúng, vì đó chính là nội dung của quyền tự do tín ngưỡng. NHÓM CÂU HỎI 2
CÂU 1:
. Thoa học cùng lớp và chơi thân với Tuyết. Biết Tuyết đang mong thư của bố ở Trường Sa gửi về, nên sáng thứ 2, khi có thư của bố Tuyết gửi đến mà Tuyết lại nghỉ học, Thoa quyết định bóc xem nội dung thư như thế nào? Việc làm đó đúng hay sai? Tại sao? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trả lời: Mọi công dân có quyền được bảo đảm an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín. Đây là một trong những quyền cơ bản của công dân và được quy định tại Điều 73 Hiến pháp năm 1992: “…Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được bảo đảm an toàn và bí mật. Việc khám xét chỗ ở, việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện tín của công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật”. Như vậy, quyền được bảo đảm an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân có nghĩa là không ai được chiếm đoạt hoặc tự ý mở thư tín, điện tín của người khác; không được nghe trộm điện thoại. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Quyền được bảo đảm an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín thuộc loại quyền về bí mật đời tư của cá nhân, được các cơ quan nhà nước và mọi người tôn trọng, được pháp luật bảo vệ. Chỉ những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và chỉ trong những trường hợp cần thiết mới được tiến hành kiểm soát thư, điện thoại, điện tín của người khác. Người nào tự tiện bóc, mở thư, tiêu hủy thư, điện tín của người khác thì tùy theo mức độ vi phạm sẽ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Thoa không được phép bóc xem thư của Tuyết. Việc làm đó là sai. CÂU 2:
Em Nguyễn Văn B - học sinh lớp 8 hỏi: “Trường hợp nào pháp luật cho phép người thi hành nhiệm vụ được khám xét chỗ ở của công dân?”. TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trả lời: Chỗ ở công dân là bất khả xâm phạm, không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép. Như vậy, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân không phải là quyền tuyệt đối. Nhà nước chỉ bảo hộ quyền đó của công dân khi có sự xâm hại bất hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác. Trong trường hợp cá nhân sử dụng chỗ ở để vi phạm pháp luật, che giấu tội phạm hoặc cất giấu công cụ, tang vật, phương tiện phạm tội... thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền tiến hành khám xét chỗ ở của họ. Việc khám xét chỗ ở của công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Theo quy định tại Điều 115 Bộ luật Tố tụng hình sự, pháp luật hiện hành chỉ cho phép khám xét chỗ ở trong 2 trường hợp: - Theo thủ tục xử lý vi phạm hành chính: Chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng nơi đó có cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. - Theo thủ tục tố tụng hình sự: Chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định chỗ ở của một người có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án hoặc khi cần phát hiện người đang bị truy nã. Việc khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm được quy định rõ ràng tại Điều 141 và 143 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003: : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Khi khám chỗ ở, địa điểm phải có mặt người chủ hoặc người đã thành niên trong gia đình họ, có đại diện của chính quyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng chứng kiến; trong trường hợp đương sự và người trong gia đình họ cố tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc đi vắng lâu ngày mà việc khám xét không thể trì hoãn thì phải có đại diện chính quyền và hai người láng giềng chứng kiến. Việc tiến hành khám xét chỗ ở của một người không được thực hiện vào ban đêm trừ trường hợp có những lý do không thể trì hoãn được, nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản. CÂU HỎI 3:
Trong trường hợp danh dự, nhân phẩm của cá nhân bị xâm phạm thì người bị xâm phạm có quyền gì để bảo vệ danh dự, nhân phẩm cho bản thân? Người có hành vi xâm phạm sẽ bị xử lý như thế nào? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm là quyền nhân thân của cá nhân. Khi các quyền này bị xâm phạm thì cá nhân bị xâm phạm có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai; yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt thại. Đồng thời, pháp luật cũng quy định, ngoài biện pháp dân sự để bảo vệ quyền nhân thân, người có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử phạt vi phạm hành chính (phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền). : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Ví dụ, người có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng theo quy định tại điểm a Khoản 1 Nghị định số 73/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội. Đối với người có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhà báo khi đang hoạt động nghiệp vụ đúng pháp luật thì bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 02/2011/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản... : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trường hợp người có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác mà tính chất và mức độ của hành vi được xác định là nguy hiểm cho xã hội và được quy định trong Bộ luật hình sự thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người (từ Điều 110 đến Điều 122) như tội hành hạ người khác (Điều 110); tội làm nhục người khác (Điều 121); tội vu khống (Điều 122)... NHÓM CÂU HỎI 3
CÂU HỎI 1: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trong trường hợp danh dự, nhân phẩm của cá nhân bị xâm phạm thì người bị xâm phạm có quyền gì để bảo vệ danh dự, nhân phẩm cho bản thân? Người có hành vi xâm phạm sẽ bị xử lý như thế nào? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm là quyền nhân thân của cá nhân. Khi các quyền này bị xâm phạm thì cá nhân bị xâm phạm có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai; yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt thại. Đồng thời, pháp luật cũng quy định, ngoài biện pháp dân sự để bảo vệ quyền nhân thân, người có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử phạt vi phạm hành chính (phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền). : PHÁP LUẬT NHF NƯỚC
Ví dụ, người có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng theo quy định tại điểm a Khoản 1 Nghị định số 73/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội. Đối với người có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhà báo khi đang hoạt động nghiệp vụ đúng pháp luật thì bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 02/2011/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản... : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trường hợp người có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác mà tính chất và mức độ của hành vi được xác định là nguy hiểm cho xã hội và được quy định trong Bộ luật hình sự thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người (từ Điều 110 đến Điều 122) như tội hành hạ người khác (Điều 110); tội làm nhục người khác (Điều 121); tội vu khống (Điều 122)... CÂU HỎI 2: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Khái niệm danh dự, nhân phẩm của một cá nhân được hiểu như thế nào? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trả lời: Danh dự, nhân phẩm của cá nhân thể hiện cái “tôi” của người đó, là giá trị tinh thần, giá trị đạo đức của mỗi người trong con mắt của những người xung quanh, của cộng đồng: - Danh dự của cá nhân thể hiện sự coi trọng của dư luận xã hội đối với cá nhân đó; - Nhân phẩm của cá nhân là những phẩm chất, giá trị tốt đẹp của một người. Hai yếu tố này thể hiện những giá trị tinh thần của cá nhân thông qua các mối quan hệ xã hội. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của một người trước hết phải do chính họ tu dưỡng, rèn luyện và giữ gìn. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Mọi người có trách nhiệm tôn trọng danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác. Pháp luật quy định cá nhân có quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm tại Hiến pháp và nhiều văn bản pháp luật khác. Pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi xâm hại, hạ thấp, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân. CÂU 3: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, thân thể, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm bao gồm những nội dung nào? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trả lời: Tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm là những giá trị quý giá nhất của con người. Quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, thân thể, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm là quyền cơ bản của công dân, quyền đó gắn liền với mỗi con người và là quyền quan trọng nhất, đáng quý nhất của mỗi công dân. Do vậy, vấn đề an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể con người luôn được pháp luật quan tâm, quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau: - Hiến pháp – văn bản pháp lý có giá trị cao nhất quy định tại Điều 61: “Công dân có quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe” và Điều 71 ““Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật. Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”. - Ở góc độ quyền nhân thân của cá nhân, Bộ luật Dân sự quy định việc bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể con người theo quan hệ dân sự. Điều 32 Bộ luật dân sự có quy định về quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể, theo đó: “Cá nhân có quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể”. NHÓM CÂU HỎI 4
CÂU 1:
Pháp luật lao động nước ta quy định về độ tuổi lao động như thế nào? Người lao động phải đáp ứng những điều kiện nào để tham gia vào quan hệ lao động? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trả lời: Theo quy định tại Điều 6 Bộ luật lao động: “Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động”. Cũng theo quy định tại Bộ luật lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, độ tuổi về hưu trong điều kiện bình thường của lao động nữ là 55 tuổi và của lao động nam là 60 tuổi. Như vậy, độ tuổi của người lao động theo quy định của pháp luật lao động là từ đủ 15 tuổi đến 55 tuổi đối với nữ và đến 60 tuổi đối với nam. Căn cứ vào các quy định của pháp luật, trong điều kiện bình thường, để tham gia vào quan hệ lao động, người lao động phải đảm bảo những điều kiện sau: - Độ tuổi lao động: từ đủ 15 tuổi đến 55 tuổi đối với nữ; từ đủ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
- Có khả năng lao động thể hiện qua các yếu tố như: thể lực bình thường, tâm sinh lý ổn định, có thể hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động. - Không bị pháp luật cấm tham gia các quan hệ lao động do những hành vi vi phạm pháp luật trước đó. Với những người lao động đảm bảo các điều kiện trên đây, khi tham gia vào quan hệ lao động sẽ được hưởng đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật lao động (như quyền được hưởng lương, được đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, nghĩa vụ tuân thủ kỷ luật lao động...). CÂU HỎI 2: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Đóng thuế là nghĩa vụ của công dân, vậy theo quy định của pháp luậtcá nhân hoặc doanh nghiệp có hành vi trốn thuế có bị xử lý không? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trả lời: “Công dân có nghĩa vụ đóng thuế”, đây là nghĩa vụ được quy định tại Điều 80 của Hiến pháp và được cụ thể hóa trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Trong mọi chế độ xã hội, công dân đều có nghĩa vụ đóng thuế. Thuế là nguồn để bảo đảm hoạt động quản lý của bộ máy Nhà nước, là nguồn để phát triển sản xuất, là nguồn để xây dựng các công trình phúc lợi công công cộng, đảm bảo hoạt động của xã hội trên các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, văn hóa, giáo dục, y tế... Đây là một quan hệ khách quan giữa công dân với nhà nước nhằm duy trì sự tồn tại, hoạt động chung và phát triển của xã hội. Thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ đóng thuế theo quy định pháp luật là một phẩm chất văn minh của công dân. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Đối với hành vi trốn thuế, thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân hoặc tổ chức có hành vi trốn thuế sẽ bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Luật Quản lý thuế, Bộ luật hình sự ; Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế. CÂU 3: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Người có hành vi cản trở việc học tập của trẻ em sẽ bị xử lý như thế nào? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Người có hành vi cản trở việc học tập của trẻ em, tùy theo mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 16 Nghị định số 91/2011/NĐ-CP ngày 17/10/2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em theo các mức sau: - Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng uy quyền để ép buộc trẻ em phải bỏ học, nghỉ học; Từ chối tiếp nhận, cản trở trẻ em bị nhiễm, nghi nhiễm, có nguy cơ bị nhiễm HIV/AIDS hoặc trẻ em có cha, mẹ bị nhiễm HIV/AIDS vào học tại các cơ sở giáo dục theo quy định; : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Từ chối tiếp nhận trẻ em bị khuyết tật mà vẫn có đủ điều kiện vào học tại các cơ sở giáo dục theo quy định; Dụ dỗ, lôi kéo trẻ em bỏ học, nghỉ học; Hủy hoại sách, vở, đồ dùng học tập của trẻ em; Có điều kiện mà không bảo đảm điều kiện học tập cho trẻ em làm hạn chế quyền được học tập của trẻ em; Cố tình không thực hiện nghĩa vụ đóng góp cho việc học tập của trẻ em theo quy định của pháp luật, không đảm bảo thời gian, điều kiện học tập cho trẻ em. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi bắt trẻ em bỏ học, nghỉ học để gây áp lực, khiếu kiện, biểu tình trái pháp luật; Ngoài phạt tiền, người vi phạm còn bị tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm đồng thời buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi của cơ sở vật chất, trang thiết bị học tập, giảng dạy đã bị phá hoại.
NHÓM CÂU HỎI 1
CÂU1: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Trước kia, nhà bác Lam không có con nên đã xin Mai vốn là trẻ mồ côi về làm con nuôi. Thời gian đầu, Mai được bố mẹ nuôi yêu quý và cưng chiều. Nhưng một vài năm sau, bác Lam sinh được một bé trai kháu khỉnh. Thế là bao nhiêu tình cảm bác đều dành cho con ruột của mình và coi Mai giống như một người giúp việc trong nhà. Mai tủi thân, nhưng vì cho rằng mình chỉ là phận con nuôi nên không dám đòi hỏi gì? Hỏi: Con nuôi có thể bị đối xử bất bình đẳng so với con đẻ hay không? TRẢ LỜI: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Trả lời: Điều 2 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 khẳng định rằng: “Việc nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình.” Đồng thời, Luật cũng nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi. Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì con nuôi có vị trí ngang bằng với con đẻ, có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ giống như con đẻ. : BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Vì vậy, đối với trường hợp của Mai, tuy là con nuôi nhưng Mai có quyền được đối xử bình đẳng giống như con đẻ. Gia đình Bác Lam có trách nhiệm thương yêu, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Mai; chăm lo việc học tập và giáo dục để Mai phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội. CÂU 2:
Có ý kiến cho rằng: “Chỉ có người từ đủ 18 tuổi trở lên mới có quyền khiếu nại, tố cáo. Khi đó việc tố cáo, khiếu nại mới được giải quyết”. Xin hỏi quan điểm đó đúng hay sai? Tại sao? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trả lời: Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận. Điều 74 Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những hành vi trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế xã hội hoặc bất cứ cá nhân nào. Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định. Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Nghiêm cấm trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác”. Khoản 2 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định: “Người khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức thực hiện quyền khiếu nại”. Khoản 4 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011 quy định: “Người tố cáo là công dân thực hiện quyền tố cáo”. Như vậy, pháp luật không quy định độ tuổi mà tất cả mọi công dân đều có quyền khiếu nại, tố cáo. CÂU 3:
Giờ ra chơi giữa hai tiết học, Ngọc và Nam tranh luận với nhau về môn Giáo dục công dân vừa học. Ngọc cho rằng tất cả mọi người phải đi theo một tôn giáo nào đó, song Nam lại có ý kiến trái ngược lại khi nói một người có thể không theo một tôn giáo nào cũng được. Đó mới là nội dung của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Xin hỏi ý kiến nào đúng? Tại sao? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trả lời: Điều 70 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Tín ngưỡng là lòng tin vào một cái gì đó thần bí như thần linh, thượng đế, chúa trời. Còn tôn giáo là một hình thức tín ngưỡng có hệ thống tổ chức, với những quan niệm, giáo lí thể hiện rõ sự tín ngưỡng, sùng bái thần linh và những hình thức lễ nghi thể hiện sự sùng bái ấy. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo có nghĩa là công dân có quyền theo hoặc không theo một tín ngưỡng hay tôn giáo nào; người đã theo một tín ngưỡng hay một tôn giáo nào đó có quyền thôi không theo nữa, hoặc bỏ để theo tín ngưỡng, tôn giáo khác mà không ai được cưỡng bức hoặc cản trở. Như vậy ý kiến của Nam cho rằng một người có thể không theo một tôn giáo nào là ý kiến đúng, vì đó chính là nội dung của quyền tự do tín ngưỡng. NHÓM CÂU HỎI 2
CÂU 1:
. Thoa học cùng lớp và chơi thân với Tuyết. Biết Tuyết đang mong thư của bố ở Trường Sa gửi về, nên sáng thứ 2, khi có thư của bố Tuyết gửi đến mà Tuyết lại nghỉ học, Thoa quyết định bóc xem nội dung thư như thế nào? Việc làm đó đúng hay sai? Tại sao? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trả lời: Mọi công dân có quyền được bảo đảm an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín. Đây là một trong những quyền cơ bản của công dân và được quy định tại Điều 73 Hiến pháp năm 1992: “…Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được bảo đảm an toàn và bí mật. Việc khám xét chỗ ở, việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện tín của công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật”. Như vậy, quyền được bảo đảm an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân có nghĩa là không ai được chiếm đoạt hoặc tự ý mở thư tín, điện tín của người khác; không được nghe trộm điện thoại. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Quyền được bảo đảm an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín thuộc loại quyền về bí mật đời tư của cá nhân, được các cơ quan nhà nước và mọi người tôn trọng, được pháp luật bảo vệ. Chỉ những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và chỉ trong những trường hợp cần thiết mới được tiến hành kiểm soát thư, điện thoại, điện tín của người khác. Người nào tự tiện bóc, mở thư, tiêu hủy thư, điện tín của người khác thì tùy theo mức độ vi phạm sẽ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Thoa không được phép bóc xem thư của Tuyết. Việc làm đó là sai. CÂU 2:
Em Nguyễn Văn B - học sinh lớp 8 hỏi: “Trường hợp nào pháp luật cho phép người thi hành nhiệm vụ được khám xét chỗ ở của công dân?”. TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trả lời: Chỗ ở công dân là bất khả xâm phạm, không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép. Như vậy, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân không phải là quyền tuyệt đối. Nhà nước chỉ bảo hộ quyền đó của công dân khi có sự xâm hại bất hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác. Trong trường hợp cá nhân sử dụng chỗ ở để vi phạm pháp luật, che giấu tội phạm hoặc cất giấu công cụ, tang vật, phương tiện phạm tội... thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền tiến hành khám xét chỗ ở của họ. Việc khám xét chỗ ở của công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Theo quy định tại Điều 115 Bộ luật Tố tụng hình sự, pháp luật hiện hành chỉ cho phép khám xét chỗ ở trong 2 trường hợp: - Theo thủ tục xử lý vi phạm hành chính: Chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng nơi đó có cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. - Theo thủ tục tố tụng hình sự: Chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định chỗ ở của một người có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án hoặc khi cần phát hiện người đang bị truy nã. Việc khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm được quy định rõ ràng tại Điều 141 và 143 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003: : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Khi khám chỗ ở, địa điểm phải có mặt người chủ hoặc người đã thành niên trong gia đình họ, có đại diện của chính quyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng chứng kiến; trong trường hợp đương sự và người trong gia đình họ cố tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc đi vắng lâu ngày mà việc khám xét không thể trì hoãn thì phải có đại diện chính quyền và hai người láng giềng chứng kiến. Việc tiến hành khám xét chỗ ở của một người không được thực hiện vào ban đêm trừ trường hợp có những lý do không thể trì hoãn được, nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản. CÂU HỎI 3:
Trong trường hợp danh dự, nhân phẩm của cá nhân bị xâm phạm thì người bị xâm phạm có quyền gì để bảo vệ danh dự, nhân phẩm cho bản thân? Người có hành vi xâm phạm sẽ bị xử lý như thế nào? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm là quyền nhân thân của cá nhân. Khi các quyền này bị xâm phạm thì cá nhân bị xâm phạm có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai; yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt thại. Đồng thời, pháp luật cũng quy định, ngoài biện pháp dân sự để bảo vệ quyền nhân thân, người có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử phạt vi phạm hành chính (phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền). : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Ví dụ, người có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng theo quy định tại điểm a Khoản 1 Nghị định số 73/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội. Đối với người có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhà báo khi đang hoạt động nghiệp vụ đúng pháp luật thì bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 02/2011/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản... : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trường hợp người có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác mà tính chất và mức độ của hành vi được xác định là nguy hiểm cho xã hội và được quy định trong Bộ luật hình sự thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người (từ Điều 110 đến Điều 122) như tội hành hạ người khác (Điều 110); tội làm nhục người khác (Điều 121); tội vu khống (Điều 122)... NHÓM CÂU HỎI 3
CÂU HỎI 1: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trong trường hợp danh dự, nhân phẩm của cá nhân bị xâm phạm thì người bị xâm phạm có quyền gì để bảo vệ danh dự, nhân phẩm cho bản thân? Người có hành vi xâm phạm sẽ bị xử lý như thế nào? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm là quyền nhân thân của cá nhân. Khi các quyền này bị xâm phạm thì cá nhân bị xâm phạm có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai; yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt thại. Đồng thời, pháp luật cũng quy định, ngoài biện pháp dân sự để bảo vệ quyền nhân thân, người có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử phạt vi phạm hành chính (phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền). : PHÁP LUẬT NHF NƯỚC
Ví dụ, người có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng theo quy định tại điểm a Khoản 1 Nghị định số 73/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội. Đối với người có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhà báo khi đang hoạt động nghiệp vụ đúng pháp luật thì bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 02/2011/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản... : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trường hợp người có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác mà tính chất và mức độ của hành vi được xác định là nguy hiểm cho xã hội và được quy định trong Bộ luật hình sự thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người (từ Điều 110 đến Điều 122) như tội hành hạ người khác (Điều 110); tội làm nhục người khác (Điều 121); tội vu khống (Điều 122)... CÂU HỎI 2: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Khái niệm danh dự, nhân phẩm của một cá nhân được hiểu như thế nào? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trả lời: Danh dự, nhân phẩm của cá nhân thể hiện cái “tôi” của người đó, là giá trị tinh thần, giá trị đạo đức của mỗi người trong con mắt của những người xung quanh, của cộng đồng: - Danh dự của cá nhân thể hiện sự coi trọng của dư luận xã hội đối với cá nhân đó; - Nhân phẩm của cá nhân là những phẩm chất, giá trị tốt đẹp của một người. Hai yếu tố này thể hiện những giá trị tinh thần của cá nhân thông qua các mối quan hệ xã hội. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của một người trước hết phải do chính họ tu dưỡng, rèn luyện và giữ gìn. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Mọi người có trách nhiệm tôn trọng danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác. Pháp luật quy định cá nhân có quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm tại Hiến pháp và nhiều văn bản pháp luật khác. Pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi xâm hại, hạ thấp, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân. CÂU 3: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, thân thể, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm bao gồm những nội dung nào? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trả lời: Tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm là những giá trị quý giá nhất của con người. Quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, thân thể, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm là quyền cơ bản của công dân, quyền đó gắn liền với mỗi con người và là quyền quan trọng nhất, đáng quý nhất của mỗi công dân. Do vậy, vấn đề an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể con người luôn được pháp luật quan tâm, quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau: - Hiến pháp – văn bản pháp lý có giá trị cao nhất quy định tại Điều 61: “Công dân có quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe” và Điều 71 ““Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật. Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”. - Ở góc độ quyền nhân thân của cá nhân, Bộ luật Dân sự quy định việc bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể con người theo quan hệ dân sự. Điều 32 Bộ luật dân sự có quy định về quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể, theo đó: “Cá nhân có quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể”. NHÓM CÂU HỎI 4
CÂU 1:
Pháp luật lao động nước ta quy định về độ tuổi lao động như thế nào? Người lao động phải đáp ứng những điều kiện nào để tham gia vào quan hệ lao động? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trả lời: Theo quy định tại Điều 6 Bộ luật lao động: “Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động”. Cũng theo quy định tại Bộ luật lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, độ tuổi về hưu trong điều kiện bình thường của lao động nữ là 55 tuổi và của lao động nam là 60 tuổi. Như vậy, độ tuổi của người lao động theo quy định của pháp luật lao động là từ đủ 15 tuổi đến 55 tuổi đối với nữ và đến 60 tuổi đối với nam. Căn cứ vào các quy định của pháp luật, trong điều kiện bình thường, để tham gia vào quan hệ lao động, người lao động phải đảm bảo những điều kiện sau: - Độ tuổi lao động: từ đủ 15 tuổi đến 55 tuổi đối với nữ; từ đủ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
- Có khả năng lao động thể hiện qua các yếu tố như: thể lực bình thường, tâm sinh lý ổn định, có thể hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động. - Không bị pháp luật cấm tham gia các quan hệ lao động do những hành vi vi phạm pháp luật trước đó. Với những người lao động đảm bảo các điều kiện trên đây, khi tham gia vào quan hệ lao động sẽ được hưởng đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật lao động (như quyền được hưởng lương, được đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, nghĩa vụ tuân thủ kỷ luật lao động...). CÂU HỎI 2: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Đóng thuế là nghĩa vụ của công dân, vậy theo quy định của pháp luậtcá nhân hoặc doanh nghiệp có hành vi trốn thuế có bị xử lý không? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trả lời: “Công dân có nghĩa vụ đóng thuế”, đây là nghĩa vụ được quy định tại Điều 80 của Hiến pháp và được cụ thể hóa trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Trong mọi chế độ xã hội, công dân đều có nghĩa vụ đóng thuế. Thuế là nguồn để bảo đảm hoạt động quản lý của bộ máy Nhà nước, là nguồn để phát triển sản xuất, là nguồn để xây dựng các công trình phúc lợi công công cộng, đảm bảo hoạt động của xã hội trên các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, văn hóa, giáo dục, y tế... Đây là một quan hệ khách quan giữa công dân với nhà nước nhằm duy trì sự tồn tại, hoạt động chung và phát triển của xã hội. Thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ đóng thuế theo quy định pháp luật là một phẩm chất văn minh của công dân. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Đối với hành vi trốn thuế, thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân hoặc tổ chức có hành vi trốn thuế sẽ bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Luật Quản lý thuế, Bộ luật hình sự ; Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế. CÂU 3: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Người có hành vi cản trở việc học tập của trẻ em sẽ bị xử lý như thế nào? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Người có hành vi cản trở việc học tập của trẻ em, tùy theo mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 16 Nghị định số 91/2011/NĐ-CP ngày 17/10/2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em theo các mức sau: - Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng uy quyền để ép buộc trẻ em phải bỏ học, nghỉ học; Từ chối tiếp nhận, cản trở trẻ em bị nhiễm, nghi nhiễm, có nguy cơ bị nhiễm HIV/AIDS hoặc trẻ em có cha, mẹ bị nhiễm HIV/AIDS vào học tại các cơ sở giáo dục theo quy định; : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Từ chối tiếp nhận trẻ em bị khuyết tật mà vẫn có đủ điều kiện vào học tại các cơ sở giáo dục theo quy định; Dụ dỗ, lôi kéo trẻ em bỏ học, nghỉ học; Hủy hoại sách, vở, đồ dùng học tập của trẻ em; Có điều kiện mà không bảo đảm điều kiện học tập cho trẻ em làm hạn chế quyền được học tập của trẻ em; Cố tình không thực hiện nghĩa vụ đóng góp cho việc học tập của trẻ em theo quy định của pháp luật, không đảm bảo thời gian, điều kiện học tập cho trẻ em. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi bắt trẻ em bỏ học, nghỉ học để gây áp lực, khiếu kiện, biểu tình trái pháp luật; Ngoài phạt tiền, người vi phạm còn bị tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm đồng thời buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi của cơ sở vật chất, trang thiết bị học tập, giảng dạy đã bị phá hoại.
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓

Các ý kiến mới nhất