Câu hỏi pháp luật
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Hữu Đức
Ngày gửi: 22h:16' 27-11-2013
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 25
Nguồn:
Người gửi: Lê Hữu Đức
Ngày gửi: 22h:16' 27-11-2013
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 25
Số lượt thích:
1 người
(Trương Thị Vân Anh)
Lê Hữu Đức - THCS Nguyễn Viết Xuân - Krông Bông
BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
CÂU HỎI 7: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Pháp luật Việt Nam quy định về quyền được tiếp cận thông tin, được bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội của trẻ em như thế nào? Người lớn có trách nhiệm bảo đảm quyền này của trẻ em không? TRẢ LỜI: BẢO VỆ CHĂM SOC TRẺ EM
Trả lời: Trẻ em cũng là con người, là thành viên trong gia đình và xã hội. Các em cũng có những tình cảm và suy nghĩ riêng và có quyền được bày tỏ ý kiến về những vấn đề có liên quan đến các em. Quyền được bày tỏ ý kiến, được tham gia các hoạt động xã hội thuộc nhóm quyền cơ bản của Công ước liên hợp quốc về quyền trẻ em. Thực hiện quyền tham gia của trẻ em giúp cho mối quan hệ giữa người lớn và trẻ em được dân chủ và bình đẳng. “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”. : BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Hôm nay, trẻ em được tiếp cận thông tin, được bày tỏ ý kiến về những vấn đề có ảnh hưởng đến trẻ em, được tham gia vào các hoạt động xã hội thì ngày mai khi trưởng thành các em sẽ là những con người nặng động, thích ứng được với những đòi hỏi của cuộc sống. Quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội của trẻ em được pháp luật Việt Nam quy định cụ thể tại Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004: “ Điều 20. Quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội 1. Trẻ em có quyền được tiếp cận thông tin phù hợp với sự phát triển của trẻ em, được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về những vấn đề mình quan tâm. 2. Trẻ em được tham gia hoạt động xã hội phù hợp với nhu cầu và năng lực của mình.” : BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Đồng thời, luật cũng quy định trách nhiệm bảo đảm thực hiện quyền này của trẻ em như sau: - Gia đình, Nhà nước và xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện, giúp đỡ trẻ em được tiếp cận thông tin phù hợp, được phát triển tư duy sáng tạo và bày tỏ nguyện vọng; có trách nhiệm lắng nghe và giải quyết nguyện vọng chính đáng của trẻ em. - Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, nhà trường có trách nhiệm tổ chức cho trẻ em tham gia các hoạt động xã hội và sinh hoạt tập thể phù hợp với nhu cầu và lứa tuổi. (Điều 32, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004). CÂU HỎI 8: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Những hành vi nào là hành vi lạm dụng sức lao động trẻ em, sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại; làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật về lao động theo pháp luật việt Nam? TRẢ LỜI: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Trả lời: Theo Điều 9, Nghị định 71/2011/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 22 tháng 08 năm 2011 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, quy định hành vi lạm dụng lao động trẻ em, sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại, làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật về lao động bao gồm những hành vi sau: - Cha, mẹ, người giám hộ, người nhận nuôi dưỡng trẻ em bắt trẻ em làm công việc gia đình quá sức, quá thời gian, ảnh hưởng đến việc học tập, vui chơi, giải trí, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của trẻ em hoặc bắt trẻ em làm những công việc mà pháp luật không cho phép. : BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
- Người nhận dạy nghề cho trẻ em bắt trẻ em làm công việc quá sức, nặng nhọc, quá thời gian, trong môi trường độc hại, nguy hiểm ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của trẻ em. - Sử dụng lao động trẻ em không trả công hoặc trả công không tương xứng, không có cam kết của cha, mẹ, người giám hộ, không có hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật; bắt trẻ em lao động quá sức, quá thời gian, nặng nhọc, trong môi trường độc hại, nguy hiểm; sử dụng trẻ em làm những công việc trái với quy định của pháp luật về lao động. : BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
- Sử dụng trẻ em làm những công việc trong vũ trường, cơ sở xoa bóp, vật lý trị liệu, sòng bạc, nhà hàng ka-ra-ô-kê, quán rượu, quán bia hoặc những nơi có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của trẻ em. - Sử dụng trẻ em để mua, bán, vận chuyển hàng giả, hàng cấm, hàng trốn thuế. - Để trẻ em tham gia, sử dụng trẻ em trong sản xuất, kinh doanh, phổ biến sản phẩm văn hóa, thông tin, truyền thông, đồ chơi, trò chơi, đồ dùng có nội dung bạo lực, đồi trụy, nguy hiểm, không phù hợp hoặc có hại cho sự phát triển của trẻ em. CÂU HỎI 9: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Bố mẹ Dũng rất quan tâm đến chuyện học hành của em. Ngoài những giờ học trên lớp, bố mẹ thường thuê gia sư để củng cố kiến thức cho Dũng. Nhưng Dũng không muốn học, em thường trốn học để đi lang thang ở những quán điện tử. Dũng thường oán trách bố mẹ vì bị bắt học quá nhiều. Hỏi suy nghĩ của Dũng là đúng hay sai? TRẢ LỜI: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Trả lời: Học tập vừa là quyền vừa là bổn phận của trẻ em. Trẻ em cần phải học tập để hoàn thiện sự hiểu biết của mình, hoàn thiện nhân cách và trở thành một người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì trẻ em có bổn phận phải chăm chỉ học tập. Hiện nay, đất nước ta còn nghèo và còn rất nhiều bạn trẻ chưa có điều kiện để học tập đầy đủ, Dũng thực sự là một người may mắn khi được bố mẹ quan tâm, tạo điều kiện học tập và phát triển toàn diện. Dũng phải cảm ơn bố mẹ và cố gắng học tập tốt. CÂU 10: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Trách nhiệm của con đối với cha mẹ được pháp luật quy định như thế nào? TRẢ LỜI: BẢO VỆ CHĂM SOC TRẺ EM
Trả lời: Theo quy định tại Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình về nghĩa vụ và quyền của con, thì: Con có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ. Nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật; trong trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ. CÂU 11: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Bố mẹ của em Khoa mất trong một khi em mới 3 tuổi. Hiện nay, người thân của em chỉ còn ông bà nội. Xin hỏi: Trong trường hợp này, ông bà nội có trách nhiệm nuôi dưỡng em Khoa không? TRẢ LỜI: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Trả lời: Theo quy định tại Điều 47, Luật Hôn nhân và gia đình thì ông bà có nghĩa vụ và quyền đối với cháu như sau: Ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ và quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu. Trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không còn cha mẹ, anh chị em hoặc cha mẹ, anh chị em không đủ điều kiện để nuôi dưỡng thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu. Trong trường hợp của em Khoa, vì em không còn cha mẹ và cũng không có anh chị em nên ông bà nội có trách nhiệm nuôi dưỡng em. CÂU 12: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Trước kia, nhà bác Lam không có con nên đã xin Mai vốn là trẻ mồ côi về làm con nuôi. Thời gian đầu, Mai được bố mẹ nuôi yêu quý và cưng chiều. Nhưng một vài năm sau, bác Lam sinh được một bé trai kháu khỉnh. Thế là bao nhiêu tình cảm bác đều dành cho con ruột của mình và coi Mai giống như một người giúp việc trong nhà. Mai tủi thân, nhưng vì cho rằng mình chỉ là phận con nuôi nên không dám đòi hỏi gì? Hỏi: Con nuôi có thể bị đối xử bất bình đẳng so với con đẻ hay không? TRẢ LỜI: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Trả lời: Điều 2 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 khẳng định rằng: “Việc nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình.” Đồng thời, Luật cũng nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi. Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì con nuôi có vị trí ngang bằng với con đẻ, có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ giống như con đẻ : BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Vì vậy, đối với trường hợp của Mai, tuy là con nuôi nhưng Mai có quyền được đối xử bình đẳng giống như con đẻ. Gia đình Bác Lam có trách nhiệm thương yêu, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Mai; chăm lo việc học tập và giáo dục để Mai phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội. TỆ NẠN XÃ HỘI
CÂU 4: TỆ NẠN XÃ HỘI
Xin cho biết một số quy định của pháp luật về phòng, chống các tệ nạn xã hội? TRẢ LỜI : TỆ NẠN XÃ HỘI
Để phòng chống các tệ nạn xã hội Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật như Bộ luật hình sự năm 1999, Luật Phòng chống ma túy, Pháp lệnh Phòng chống mại dâm, Nghị định số 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự... Theo Luật Phòng chống ma túy cá nhân, gia đình có trách nhiệm: - Giáo dục thành viên trong gia đình, thân nhân về tác hại của ma tuý và thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống ma tuý; quản lý chặt chẽ, ngăn chặn thành viên trong gia đình tham gia tệ nạn ma tuý; : TỆ NẠN XÃ HỘI
- Thực hiện đúng chỉ định của thầy thuốc về sử dụng thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần để chữa bệnh; - Đấu tranh với các hành vi trái phép về ma tuý của thân nhân và của người khác; Nhà nước có chính sách khuyến khích việc tự nguyện cai nghiện ma tuý; áp dụng chế độ cai nghiện đối với người nghiện ma tuý. Các hình thức cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng được áp dụng đối với tất cả người nghiện ma tuý. Các hành vi trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma tuý, sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy hoặc chiếm đoạt chất ma túy : TỆ NẠN XÃ HỘI
tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy ; mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy ; sử dụng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý; cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy đều bị coi là tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự Để bảo vệ trẻ em trước tệ nạn xã hội, pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục tre em quy định xử lý nghiêm minh đối với các hành vi : : TỆ NẠN XÃ HỘI
- Dụ dỗ, lừa dối, ép buộc trẻ em mua, bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy; lôi kéo trẻ em đánh bạc; bán, cho trẻ em sử dụng rượu, bia, thuốc lá và chất kích thích khác có hại cho sức khỏe - Dụ dỗ, lừa dối, dẫn dắt, chứa chấp, ép buộc trẻ em hoạt động mại dâm; xâm hại tình dục trẻ em - Lợi dụng, dụ dỗ, ép buộc trẻ em mua, bán, sử dụng văn hóa phẩm kích động bạo lực, đồi trụy; làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, tàng trữ văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em; sản xuất, kinh doanh đồ chơi, trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh của trẻ em. PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
CÂU HỎI 1: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Tại sao nói học tập vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của công dân? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trả lời: Quyền và nghĩa vụ của mỗi công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được quy định trong Hiến pháp, pháp luật, được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Quyền là những gì mà công dân được hưởng và nghĩa vụ là những gì mà công dân phải thực hiện. Trong khi khẳng định và xác định một hệ thống các quyền của công dân, Hiến pháp nước ta đồng thời cũng quy định các nghĩa vụ cơ bản của công dân. Trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, Nhà nước có trách nhiệm ghi nhận và tạo điều kiện để công dân thực hiện đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời công dân cũng phải tự giác làm tròn bổn phận, nghĩa vụ đối với Nhà nước, xã hội. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Quyền của công dân luôn là trách nhiệm của Nhà nước và quyền của Nhà nước cũng luôn là nghĩa vụ của công dân. Cùng với sự phát triển các mặt đời sống kinh tế, xã hội, số lượng quyền và các điều kiện bảo đảm thực hiện quyền của công dân càng được mở rộng và đảm bảo tốt hơn thì công dân cũng phải thực hiện những nghĩa vụ tương ứng với quyền mà mình được hưởng. Một khi quyền tách rời nghĩa vụ sẽ dẫn đến con người chỉ đòi hỏi được hưởng và thực hiện quyền một cách ích kỷ, trốn tránh nghĩa vụ. Nhận thức đúng về mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ sẽ giúp công dân ý thức được quyền làm chủ của mình và trách nhiệm đối với cộng đồng, đất nước. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Học tập vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp năm 1992 (Điều 59) và Luật Giáo dục (Điều 10) theo nguyên tắc quyền không tách rời nghĩa vụ. Công dân thực hiện quyền học tập của mình bằng nhiều hình thức (học ở hệ chính quy, hoặc giáo dục thường xuyên, học tập trung hoặc không tập trung, học trực tiếp hoặc gián tiếp...tùy thuộc vào điều kiện, công việc của mỗi người) và ở các loại hình trường lớp khác nhau (trường công lập, trường dân lập, trường tư thục). : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập. Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học hành; đề ra các chính sách, biện pháp để phát triển giáo dục. Công dân thực hiện nghĩa vụ học tập bằng cách: mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập, cụ thể là phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học (từ lớp 1 đến hết lớp 5) và phổ cập giáo dục trung học cơ sở (từ lớp 6 đến hết lớp 9). CÂU HỎI 2: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Do nhà nghèo, lại đông con nên khi thấy con bé lớn học xong tiểu học, anh Du quyết định cho con nghỉ học để phụ giúp việc gia đình. Biết chuyện, bác Trưởng thôn đã sang động viên gia đình cố gắng cho con tiếp tục đi học để ít ra thì cũng hoàn thành phổ cập giáo dục. Anh Du thì cho rằng, con anh đã học xong tiểu học là hoàn thành phổ cập giáo dục. Vậy hiện nay, Nhà nước ta quy định về phổ cập giáo dục như thế nào? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trả lời: Phổ cập giáo dục là quá trình tổ chức để mọi công dân đều được học tập và đạt tới một trình độ học vấn tối thiểu theo quy định của Nhà nước. Hiện nay, Nhà nước ta thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục trung học cơ sở (tức là hết lớp 9). Nhà nước thực hiện các điều kiện để phổ cập giáo dục trong cả nước. Điều 11 Luật Giáo dục quy định: mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập. Gia đình có trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên của gia đình trong độ tuổi quy định được học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập. Khoản 1 Điều 28 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cũng quy định: gia đình, Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em thực hiện quyền học tập; học hết chương trình giáo dục phổ cập; tạo điều kiện cho trẻ em theo học ở trình độ cao hơn. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Người có hành vi vi phạm quy định về phổ cập giáo dục có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng trong trường hợp cản trở việc đi học của người học các cấp học phổ cập hoặc bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng trong trường hợp xúi giục người học các cấp học phổ cập không đi học hoặc bỏ học (theo Điều 21 Nghị định số 49/2005/NĐ-CP ngày 11/4/2005 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục; Nghị định số 40/2011/NĐ-CP ngày 08/6/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 49/2005/NĐ-CP ngày 11/4/2005 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục) CÂU HỎI 3: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
26. Hành vi nào thì bị coi là cản trở việc học tập của trẻ em? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trả lời: Hiến pháp năm 1992; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Luật Giáo dục đều xác định học tập là quyền của công dân. Nhà nước nghiêm cấm hành vi cản trở việc học tập của trẻ em. Điều 10 Nghị định số 71/2011/NĐ-CP ngày 22/8/2011 của Chính phủ quy định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định các hành vi sau được coi là cản trở việc học tập của trẻ em: - Lợi dụng uy tín, dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc sử dụng vật chất, uy quyền để dụ dỗ, lôi kéo, ép buộc trẻ em bỏ học, nghỉ học. - Bắt buộc, dụ dỗ trẻ em bỏ học, nghỉ học để gây áp lực, khiếu kiện, biểu tình trái pháp luật. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
- Cố tình không thực hiện nghĩa vụ đóng góp cho việc học tập của trẻ em theo quy định của pháp luật, không bảo đảm thời gian, điều kiện học tập cho trẻ em. - Hủy hoại sách, vở, đồ dùng học tập của trẻ em. - Từ chối tiếp nhận hoặc gây áp lực để cản trở việc tiếp nhận trẻ em khuyết tật có khả năng học tập, trẻ em nhiễm, nghi nhiễm, có nguy cơ hoặc có cha, mẹ nhiễm HIV được vào học tại các cơ sở giáo dục theo quy định của pháp luật. CÂU HỎI 4: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Các em học sinh lớp 6 tranh luận với nhau rằng: Trong mọi trường hợp, công an đều có thể bắt người nếu nghi là phạm tội? Điều này đúng hay sai? Vì sao? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trả lời: Đối với mỗi công dân, quyền bất khả xâm phạm về thân thể là quyền quan trọng nhất, được ghi nhận tại Điều 71 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001): “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật. Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”. Như vậy, không phải trong mọi trường hợp, công an đều có quyền bắt người, vì chỉ những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và chỉ trong những trường hợp mà pháp luật quy định mới có quyền bắt người. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Để không ai bị bắt một cách trái pháp luật, Hiến pháp quy định rõ và chặt chẽ việc bắt và giam người. Việc bắt và giam người không được tiến hành tùy tiện mà phải theo đúng quy định của pháp luật. Trừ trường hợp phạm tội quả tang, việc bắt người phải có quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân. Đối với những người bị bắt hay bị giam, nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của họ. Bắt giam người vô tội được coi là xâm phạm nghiêm trọng đến tự do thân thể của công dân và bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự.
BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
CÂU HỎI 7: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Pháp luật Việt Nam quy định về quyền được tiếp cận thông tin, được bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội của trẻ em như thế nào? Người lớn có trách nhiệm bảo đảm quyền này của trẻ em không? TRẢ LỜI: BẢO VỆ CHĂM SOC TRẺ EM
Trả lời: Trẻ em cũng là con người, là thành viên trong gia đình và xã hội. Các em cũng có những tình cảm và suy nghĩ riêng và có quyền được bày tỏ ý kiến về những vấn đề có liên quan đến các em. Quyền được bày tỏ ý kiến, được tham gia các hoạt động xã hội thuộc nhóm quyền cơ bản của Công ước liên hợp quốc về quyền trẻ em. Thực hiện quyền tham gia của trẻ em giúp cho mối quan hệ giữa người lớn và trẻ em được dân chủ và bình đẳng. “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”. : BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Hôm nay, trẻ em được tiếp cận thông tin, được bày tỏ ý kiến về những vấn đề có ảnh hưởng đến trẻ em, được tham gia vào các hoạt động xã hội thì ngày mai khi trưởng thành các em sẽ là những con người nặng động, thích ứng được với những đòi hỏi của cuộc sống. Quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội của trẻ em được pháp luật Việt Nam quy định cụ thể tại Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004: “ Điều 20. Quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội 1. Trẻ em có quyền được tiếp cận thông tin phù hợp với sự phát triển của trẻ em, được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về những vấn đề mình quan tâm. 2. Trẻ em được tham gia hoạt động xã hội phù hợp với nhu cầu và năng lực của mình.” : BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Đồng thời, luật cũng quy định trách nhiệm bảo đảm thực hiện quyền này của trẻ em như sau: - Gia đình, Nhà nước và xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện, giúp đỡ trẻ em được tiếp cận thông tin phù hợp, được phát triển tư duy sáng tạo và bày tỏ nguyện vọng; có trách nhiệm lắng nghe và giải quyết nguyện vọng chính đáng của trẻ em. - Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, nhà trường có trách nhiệm tổ chức cho trẻ em tham gia các hoạt động xã hội và sinh hoạt tập thể phù hợp với nhu cầu và lứa tuổi. (Điều 32, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004). CÂU HỎI 8: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Những hành vi nào là hành vi lạm dụng sức lao động trẻ em, sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại; làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật về lao động theo pháp luật việt Nam? TRẢ LỜI: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Trả lời: Theo Điều 9, Nghị định 71/2011/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 22 tháng 08 năm 2011 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, quy định hành vi lạm dụng lao động trẻ em, sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại, làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật về lao động bao gồm những hành vi sau: - Cha, mẹ, người giám hộ, người nhận nuôi dưỡng trẻ em bắt trẻ em làm công việc gia đình quá sức, quá thời gian, ảnh hưởng đến việc học tập, vui chơi, giải trí, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của trẻ em hoặc bắt trẻ em làm những công việc mà pháp luật không cho phép. : BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
- Người nhận dạy nghề cho trẻ em bắt trẻ em làm công việc quá sức, nặng nhọc, quá thời gian, trong môi trường độc hại, nguy hiểm ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của trẻ em. - Sử dụng lao động trẻ em không trả công hoặc trả công không tương xứng, không có cam kết của cha, mẹ, người giám hộ, không có hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật; bắt trẻ em lao động quá sức, quá thời gian, nặng nhọc, trong môi trường độc hại, nguy hiểm; sử dụng trẻ em làm những công việc trái với quy định của pháp luật về lao động. : BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
- Sử dụng trẻ em làm những công việc trong vũ trường, cơ sở xoa bóp, vật lý trị liệu, sòng bạc, nhà hàng ka-ra-ô-kê, quán rượu, quán bia hoặc những nơi có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của trẻ em. - Sử dụng trẻ em để mua, bán, vận chuyển hàng giả, hàng cấm, hàng trốn thuế. - Để trẻ em tham gia, sử dụng trẻ em trong sản xuất, kinh doanh, phổ biến sản phẩm văn hóa, thông tin, truyền thông, đồ chơi, trò chơi, đồ dùng có nội dung bạo lực, đồi trụy, nguy hiểm, không phù hợp hoặc có hại cho sự phát triển của trẻ em. CÂU HỎI 9: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Bố mẹ Dũng rất quan tâm đến chuyện học hành của em. Ngoài những giờ học trên lớp, bố mẹ thường thuê gia sư để củng cố kiến thức cho Dũng. Nhưng Dũng không muốn học, em thường trốn học để đi lang thang ở những quán điện tử. Dũng thường oán trách bố mẹ vì bị bắt học quá nhiều. Hỏi suy nghĩ của Dũng là đúng hay sai? TRẢ LỜI: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Trả lời: Học tập vừa là quyền vừa là bổn phận của trẻ em. Trẻ em cần phải học tập để hoàn thiện sự hiểu biết của mình, hoàn thiện nhân cách và trở thành một người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì trẻ em có bổn phận phải chăm chỉ học tập. Hiện nay, đất nước ta còn nghèo và còn rất nhiều bạn trẻ chưa có điều kiện để học tập đầy đủ, Dũng thực sự là một người may mắn khi được bố mẹ quan tâm, tạo điều kiện học tập và phát triển toàn diện. Dũng phải cảm ơn bố mẹ và cố gắng học tập tốt. CÂU 10: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Trách nhiệm của con đối với cha mẹ được pháp luật quy định như thế nào? TRẢ LỜI: BẢO VỆ CHĂM SOC TRẺ EM
Trả lời: Theo quy định tại Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình về nghĩa vụ và quyền của con, thì: Con có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ. Nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật; trong trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ. CÂU 11: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Bố mẹ của em Khoa mất trong một khi em mới 3 tuổi. Hiện nay, người thân của em chỉ còn ông bà nội. Xin hỏi: Trong trường hợp này, ông bà nội có trách nhiệm nuôi dưỡng em Khoa không? TRẢ LỜI: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Trả lời: Theo quy định tại Điều 47, Luật Hôn nhân và gia đình thì ông bà có nghĩa vụ và quyền đối với cháu như sau: Ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ và quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu. Trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không còn cha mẹ, anh chị em hoặc cha mẹ, anh chị em không đủ điều kiện để nuôi dưỡng thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu. Trong trường hợp của em Khoa, vì em không còn cha mẹ và cũng không có anh chị em nên ông bà nội có trách nhiệm nuôi dưỡng em. CÂU 12: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Trước kia, nhà bác Lam không có con nên đã xin Mai vốn là trẻ mồ côi về làm con nuôi. Thời gian đầu, Mai được bố mẹ nuôi yêu quý và cưng chiều. Nhưng một vài năm sau, bác Lam sinh được một bé trai kháu khỉnh. Thế là bao nhiêu tình cảm bác đều dành cho con ruột của mình và coi Mai giống như một người giúp việc trong nhà. Mai tủi thân, nhưng vì cho rằng mình chỉ là phận con nuôi nên không dám đòi hỏi gì? Hỏi: Con nuôi có thể bị đối xử bất bình đẳng so với con đẻ hay không? TRẢ LỜI: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Trả lời: Điều 2 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 khẳng định rằng: “Việc nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình.” Đồng thời, Luật cũng nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi. Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì con nuôi có vị trí ngang bằng với con đẻ, có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ giống như con đẻ : BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Vì vậy, đối với trường hợp của Mai, tuy là con nuôi nhưng Mai có quyền được đối xử bình đẳng giống như con đẻ. Gia đình Bác Lam có trách nhiệm thương yêu, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Mai; chăm lo việc học tập và giáo dục để Mai phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội. TỆ NẠN XÃ HỘI
CÂU 4: TỆ NẠN XÃ HỘI
Xin cho biết một số quy định của pháp luật về phòng, chống các tệ nạn xã hội? TRẢ LỜI : TỆ NẠN XÃ HỘI
Để phòng chống các tệ nạn xã hội Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật như Bộ luật hình sự năm 1999, Luật Phòng chống ma túy, Pháp lệnh Phòng chống mại dâm, Nghị định số 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự... Theo Luật Phòng chống ma túy cá nhân, gia đình có trách nhiệm: - Giáo dục thành viên trong gia đình, thân nhân về tác hại của ma tuý và thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống ma tuý; quản lý chặt chẽ, ngăn chặn thành viên trong gia đình tham gia tệ nạn ma tuý; : TỆ NẠN XÃ HỘI
- Thực hiện đúng chỉ định của thầy thuốc về sử dụng thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần để chữa bệnh; - Đấu tranh với các hành vi trái phép về ma tuý của thân nhân và của người khác; Nhà nước có chính sách khuyến khích việc tự nguyện cai nghiện ma tuý; áp dụng chế độ cai nghiện đối với người nghiện ma tuý. Các hình thức cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng được áp dụng đối với tất cả người nghiện ma tuý. Các hành vi trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma tuý, sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy hoặc chiếm đoạt chất ma túy : TỆ NẠN XÃ HỘI
tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy ; mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy ; sử dụng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý; cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy đều bị coi là tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự Để bảo vệ trẻ em trước tệ nạn xã hội, pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục tre em quy định xử lý nghiêm minh đối với các hành vi : : TỆ NẠN XÃ HỘI
- Dụ dỗ, lừa dối, ép buộc trẻ em mua, bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy; lôi kéo trẻ em đánh bạc; bán, cho trẻ em sử dụng rượu, bia, thuốc lá và chất kích thích khác có hại cho sức khỏe - Dụ dỗ, lừa dối, dẫn dắt, chứa chấp, ép buộc trẻ em hoạt động mại dâm; xâm hại tình dục trẻ em - Lợi dụng, dụ dỗ, ép buộc trẻ em mua, bán, sử dụng văn hóa phẩm kích động bạo lực, đồi trụy; làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, tàng trữ văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em; sản xuất, kinh doanh đồ chơi, trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh của trẻ em. PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
CÂU HỎI 1: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Tại sao nói học tập vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của công dân? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trả lời: Quyền và nghĩa vụ của mỗi công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được quy định trong Hiến pháp, pháp luật, được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Quyền là những gì mà công dân được hưởng và nghĩa vụ là những gì mà công dân phải thực hiện. Trong khi khẳng định và xác định một hệ thống các quyền của công dân, Hiến pháp nước ta đồng thời cũng quy định các nghĩa vụ cơ bản của công dân. Trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, Nhà nước có trách nhiệm ghi nhận và tạo điều kiện để công dân thực hiện đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời công dân cũng phải tự giác làm tròn bổn phận, nghĩa vụ đối với Nhà nước, xã hội. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Quyền của công dân luôn là trách nhiệm của Nhà nước và quyền của Nhà nước cũng luôn là nghĩa vụ của công dân. Cùng với sự phát triển các mặt đời sống kinh tế, xã hội, số lượng quyền và các điều kiện bảo đảm thực hiện quyền của công dân càng được mở rộng và đảm bảo tốt hơn thì công dân cũng phải thực hiện những nghĩa vụ tương ứng với quyền mà mình được hưởng. Một khi quyền tách rời nghĩa vụ sẽ dẫn đến con người chỉ đòi hỏi được hưởng và thực hiện quyền một cách ích kỷ, trốn tránh nghĩa vụ. Nhận thức đúng về mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ sẽ giúp công dân ý thức được quyền làm chủ của mình và trách nhiệm đối với cộng đồng, đất nước. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Học tập vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp năm 1992 (Điều 59) và Luật Giáo dục (Điều 10) theo nguyên tắc quyền không tách rời nghĩa vụ. Công dân thực hiện quyền học tập của mình bằng nhiều hình thức (học ở hệ chính quy, hoặc giáo dục thường xuyên, học tập trung hoặc không tập trung, học trực tiếp hoặc gián tiếp...tùy thuộc vào điều kiện, công việc của mỗi người) và ở các loại hình trường lớp khác nhau (trường công lập, trường dân lập, trường tư thục). : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập. Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học hành; đề ra các chính sách, biện pháp để phát triển giáo dục. Công dân thực hiện nghĩa vụ học tập bằng cách: mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập, cụ thể là phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học (từ lớp 1 đến hết lớp 5) và phổ cập giáo dục trung học cơ sở (từ lớp 6 đến hết lớp 9). CÂU HỎI 2: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Do nhà nghèo, lại đông con nên khi thấy con bé lớn học xong tiểu học, anh Du quyết định cho con nghỉ học để phụ giúp việc gia đình. Biết chuyện, bác Trưởng thôn đã sang động viên gia đình cố gắng cho con tiếp tục đi học để ít ra thì cũng hoàn thành phổ cập giáo dục. Anh Du thì cho rằng, con anh đã học xong tiểu học là hoàn thành phổ cập giáo dục. Vậy hiện nay, Nhà nước ta quy định về phổ cập giáo dục như thế nào? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trả lời: Phổ cập giáo dục là quá trình tổ chức để mọi công dân đều được học tập và đạt tới một trình độ học vấn tối thiểu theo quy định của Nhà nước. Hiện nay, Nhà nước ta thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục trung học cơ sở (tức là hết lớp 9). Nhà nước thực hiện các điều kiện để phổ cập giáo dục trong cả nước. Điều 11 Luật Giáo dục quy định: mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập. Gia đình có trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên của gia đình trong độ tuổi quy định được học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập. Khoản 1 Điều 28 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cũng quy định: gia đình, Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em thực hiện quyền học tập; học hết chương trình giáo dục phổ cập; tạo điều kiện cho trẻ em theo học ở trình độ cao hơn. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Người có hành vi vi phạm quy định về phổ cập giáo dục có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng trong trường hợp cản trở việc đi học của người học các cấp học phổ cập hoặc bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng trong trường hợp xúi giục người học các cấp học phổ cập không đi học hoặc bỏ học (theo Điều 21 Nghị định số 49/2005/NĐ-CP ngày 11/4/2005 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục; Nghị định số 40/2011/NĐ-CP ngày 08/6/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 49/2005/NĐ-CP ngày 11/4/2005 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục) CÂU HỎI 3: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
26. Hành vi nào thì bị coi là cản trở việc học tập của trẻ em? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trả lời: Hiến pháp năm 1992; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Luật Giáo dục đều xác định học tập là quyền của công dân. Nhà nước nghiêm cấm hành vi cản trở việc học tập của trẻ em. Điều 10 Nghị định số 71/2011/NĐ-CP ngày 22/8/2011 của Chính phủ quy định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định các hành vi sau được coi là cản trở việc học tập của trẻ em: - Lợi dụng uy tín, dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc sử dụng vật chất, uy quyền để dụ dỗ, lôi kéo, ép buộc trẻ em bỏ học, nghỉ học. - Bắt buộc, dụ dỗ trẻ em bỏ học, nghỉ học để gây áp lực, khiếu kiện, biểu tình trái pháp luật. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
- Cố tình không thực hiện nghĩa vụ đóng góp cho việc học tập của trẻ em theo quy định của pháp luật, không bảo đảm thời gian, điều kiện học tập cho trẻ em. - Hủy hoại sách, vở, đồ dùng học tập của trẻ em. - Từ chối tiếp nhận hoặc gây áp lực để cản trở việc tiếp nhận trẻ em khuyết tật có khả năng học tập, trẻ em nhiễm, nghi nhiễm, có nguy cơ hoặc có cha, mẹ nhiễm HIV được vào học tại các cơ sở giáo dục theo quy định của pháp luật. CÂU HỎI 4: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Các em học sinh lớp 6 tranh luận với nhau rằng: Trong mọi trường hợp, công an đều có thể bắt người nếu nghi là phạm tội? Điều này đúng hay sai? Vì sao? TRẢ LỜI: PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Trả lời: Đối với mỗi công dân, quyền bất khả xâm phạm về thân thể là quyền quan trọng nhất, được ghi nhận tại Điều 71 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001): “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật. Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”. Như vậy, không phải trong mọi trường hợp, công an đều có quyền bắt người, vì chỉ những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và chỉ trong những trường hợp mà pháp luật quy định mới có quyền bắt người. : PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC
Để không ai bị bắt một cách trái pháp luật, Hiến pháp quy định rõ và chặt chẽ việc bắt và giam người. Việc bắt và giam người không được tiến hành tùy tiện mà phải theo đúng quy định của pháp luật. Trừ trường hợp phạm tội quả tang, việc bắt người phải có quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân. Đối với những người bị bắt hay bị giam, nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của họ. Bắt giam người vô tội được coi là xâm phạm nghiêm trọng đến tự do thân thể của công dân và bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự.
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓


Các ý kiến mới nhất