Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tuần 23. Chiều tối (Mộ)

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Xuân Dị
Ngày gửi: 06h:05' 15-04-2023
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 72
Số lượt thích: 0 người
CHIỀU TỐI

HỒ CHÍ MINH

Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
Cô vân mạn mạn độ thiên không;
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng
Dịch thơ:
(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Cô em xóm núi xay ngô tối,
Xay hết lò than đã rực hồng)

I. Dàn Ý:
1. Mở bài:
Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
2. Thân bài:
* Khái quát chung:
- Bài thơ “Chiều tối” là một trong những bài thơ tiêu biểu trong
tập “Nhật kí trong tù” của Bác.
- Hoàn cảnh sáng tác: năm 1942, khi Hồ Chí Minh bị chính quyền
Tưởng Giới Thạch bắt giam và áp giải từ nhà lao Tĩnh Tây đến
Thiên Bảo (Trung Quốc), bài thơ được sáng tác trong một buổi
chiều chuyển ngục.
a. Hai câu thơ đầu: Bức tranh thiên nhiên núi rừng
* Điểm nhìn: hướng tầm mắt lên không trung

* Hình ảnh cánh chim trời:
- Trong thi ca xưa, cánh chim thường đại diện cho sự cô đơn,
lạc lõng, mất phương hướng.
- Trong thơ Bác:
+ Cánh chim đang bay về tổ sau một ngày dài vất vả kiếm ăn.
→ Khắc họa sự sống gần gũi, bình yên.
+ Cánh chim “mỏi”: vừa thấy được sự chuyển động bên ngoài,
vừa thể hiện được trạng thái bên trong của sự vật.
→ Thể hiện cảm nhận tinh tế của Bác.
→ Hình ảnh thơ mang màu sắc tâm trạng: Tấm lòng đồng cảm
giữa Bác với cảnh vật thiên nhiên: sau một ngày chịu đày ải,
Người muốn được dừng chân nghỉ ngơi.

* Hình ảnh chòm mây:
- Trong văn học cổ điển: Là chất liệu quen thuộc trong thi
ca cổ điển.
- Trong thơ Bác:
+ “Cô vân”: lẻ loi, cô đơn giữa bầu trời. (dịch thơ không sát
nghĩa)
+ Từ “mạn mạn” diễn tả sự chậm rãi trong cách di chuyển
của chòm mây.
→ Gợi không gian cao rộng, khoáng đạt.
→ Gợi bước chân chậm rãi, ung dung và sự thư thái, ung
dung trong tâm hồn.
→ Nhấn mạnh và làm nổi bật tinh thần lạc quan, ý chí kiên
cường của Hồ Chí Minh trong chuỗi ngày bị đày ải.

b. Hai câu thơ sau -  Hình ảnh con người trong lao
động
* Điểm nhìn: mặt đất
→ Đưa người đọc từ không gian thiên nhiên về với đời
sống con người, từ trên cao dịch chuyển xuống dưới mặt
đất.
* Hình ảnh cô gái xay ngô:
- Hình ảnh con người trong lao động trở thành trung tâm
bài
thơ.
- Điệp ngữ liên hoàn và đảo từ: “ma bao túc” → “bao túc
ma”:
+ Khắc họa vòng quay liên tục, nhịp nhàng của cối xay.
+ Thể hiện sức sống, sự khỏe khoắn của người lao động.

* Hình ảnh lò than rực hồng:
- Khi cô gái vừa kết thúc công việc xay ngô thì lò than đã
rực hồng, đánh dấu sự chuyển đổi từ chiều tối sang tối
hẳn.
- Từ “hồng”:
+ Trở thành nhãn tự của bài thơ hai mươi tám chữ.
+ Làm sáng rực cả bài thơ, xua đi cái không khí tối tăm, hiu
quạnh miền rừng núi và nỗi cô đơn trong lòng Người.
+ Đại diện cho màu của lí tưởng cách mạng trong người
chiến sĩ, ấm nóng, tràn đầy nhiệt huyết, sẵn sàng vượt qua
nghịch cảnh tối tăm để vụt sáng.
→ Đặc trưng thơ của Hồ Chí Minh: Sự vận động từ bóng
tối sang ánh sáng, luôn tích cực và tươi sáng.

c. Đánh giá
- Về nội dung: Bài thơ đã thể hiện
tình yêu thiên nhiên, cuộc sống, con
người cũng như tinh thần lạc quan,
ung dung của Bác trong hoàn cảnh
ngục tù khó khăn.
- Về nghệ thuật:
+ Sử dụng bút pháp trữ tình tinh tế.
+ Kết hợp giữa màu sắc cổ điển và
hiện đại.
3. Kết bài:
Khẳng định giá trị bài thơ.

Puskin từng quan niệm: “Cuộc sống là cánh đồng màu
mỡ cho thơ bén rễ sinh sôi” . Và “Chiều tối” của HCM là bài
thơ mang đậm trải nghiệm và quá trình hoạt động cách mạng
của Bác. Bài thơ được viết trong thời điểm gần kết thúc của
một chuyến chuyển lao. Bài thơ là một bức tranh vẽ cảnh
chiều tối nơi núi rừng – cảnh đẹp bởi nó ánh lên sự sống ấm
áp của con người.
DẪN BÀI THƠ…..

Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam và toàn
thể các dân tộc trên thế giới, Người cũng là một danh nhân văn hóa
thế giới, một nhà kiệt xuất chính trị, nhà quân sự tài ba, vị anh hùng
giải phóng dân tộc, vị lãnh tụ vĩ đại đồng thời là nhà văn, nhà thơ
lớn của văn học Việt Nam nói riêng và văn học thế giới nói chung.
Người luôn quan niệm tác phẩm văn chương phải có tính chân thật,
chú ý đến đối tượng thưởng thức mà tránh lối viết cầu kì, xa lạ,
nặng nề, và hơn hết người đến với văn chương với phương diện là
một hoạt động tinh thần phong phú, phục vụ có hiệu quả cho sự
nghiệp Cách mạng. Bài thơ Chiều tối, bộc lộ một tâm hồn thi nhân
nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên, một tấm lòng nhân hậu đối
với con người, một phong thái ung dung luôn hướng về sự sống,
ánh sáng và tương lai. Hay nói đúng hơn đây là một thực thể của sự
kết hợp hài hoà giữa màu sắc cổ điển và tinh thần hiện đại.

Cảnh chiều tối là một đề tài quen thuộc
của văn chương. Khung cảnh buổi chiều về tối
thường dễ sinh tình vì thế, buổi chiều đã đi vào
bao áng thơ kim cổ, làm nên những vần thơ
tuyệt tác. Thơ chiều cổ điển thường man mác
một nỗi buồn đìu hiu, hoang vắng trong sự tàn
tạ của thời gian, hoặc trĩu nặng nỗi buồn tha
hương lữ thứ. Ở đây, bằng vài nét chấm phá
của bút pháp ước lệ tượng trưng tác giả đã
dựng nên bức phông lớn làm nền cho cảnh
chiều:

Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
Cô vân mạn mạn độ thiên không;
(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không)
“Cánh chim” và “chòm mây” là hai hình ảnh quen thuộc
thường xuất hiện trong thơ chiều xưa và nay. Cho nên, đó chỉ
là hai hình ảnh của không gian mà đã mang theo ý nghĩa của
thời gian. Cánh chim ở đây được lấy từ thế giới nghệ thuật cổ
phương Đông. Trong thế giới thẩm mỹ ấy, hình ảnh cánh chim
bay về rừng đã ít nhiều có ý nghĩa biểu tượng ước lệ diễn tả
cảnh chiều: “Phi yến thu lâm”; “Quyện điểu quy lâm” là
những nhóm từ thường thấy trong thơ chữ Hán

Trong “Truyện Kiều”, khi miêu tả cảnh chiều, Nguyễn Du đã điểm
vào bức tranh hình ảnh cánh chim bay về rừng: “Chim hôm thoi thót về
rừng”. Trong thơ Bà Huyện Thanh Quan cũng thế: “Ngàn mai gió cuốn
chim bay mỏi” và Huy Cận lại cảm thấy bóng chiều như đang sà xuống
từ cánh chim đang nghiêng dần về cuối chân trời: “Chim nghiêng cánh
nhỏ bóng chiều sa”. Hình như trong cảm nhận của các thi nhân xưa thì
khi miêu tả cảnh chiều mà không có hình ảnh cánh chim thì bóng chiều
chưa rõ.
Cánh chim trong thơ xưa thường chỉ là một chi tiết nghệ thuật thuần
tuý để gợi tả cảnh chiều thế thôi và thường gợi nên cảm giác về sự xa
xăm, phiêu bạt, chia lìa:
“Chúng điểu cao phi tận” – Lí Bạch
“Thiên sơn điểu phi tuyệt” – Liễu Tông Nguyên
Chúng ta đều nhận thấy cánh chim trong thơ của Lí Bạch và Liễu
Tông Nguyên đều “Phi tuyệt”, “Phi tận”. Tất cả đều không có điểm
dừng mà ở vào trạng thái bay vào chốn xa xăm, vô tận, gợi lên một ý
niệm siêu hình nào đó. 

Còn cánh chim trong bài thơ “Chiều tối” của Bác lại có phương hướng,
điểm dừng, mục đích bay rõ ràng:
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ
(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ)
Như vậy Bác đã đưa cánh chim từ thế giới siêu hình trở về với thế giới
hiện thực. Ta nhận thấy trong cách nhìn của Bác là một cách nhìn đầy yêu
thương, trìu mến trước biểu hiện nhỏ nhoi của sự sống. Nhìn cánh chim
đang bay, Bác cảm nhận được sự mệt mỏi của đôi cánh sau một ngày
đường hoạt động. Trong chiều sâu tâm hồn của Bác chính là lòng yêu
thương sự sống, cảm quan của Bác chính là cảm quan nhân đạo.

Câu thơ thứ hai cũng mang đậm nét Đường thi. Nó rất gần với câu
thơ: “Cô vân độc khứ nhàn” của Lí Bạch. Hình ảnh chòm mây cô độc
trôi giữa bầu trời đã trở thành một mô tuýp quen thuộc trong thơ
xưa, nó thường gợi lên cái cô độc thanh cao, sự phiêu diêu, thoát tục
và nỗi khắc khoải của con người trước cõi hư không. Còn trong bài
“Chiều tối” của Bác, hình ảnh chòm mây cô độc trôi nhè nhẹ qua bầu
trời chỉ là một nét vẽ tạo nên cái không gian cao rộng của cảnh trời
chiều nơi miền rừng núi. Bầu trời hôm ấy phải thật cao, thật trong
xanh ta mới thấy được hình ảnh chòm mây cô độc ấy gợi nên hình
ảnh cô độc nơi đất khách, quê người của Bác. Mỗi một chi tiết của
cảnh chiều đều nhuốm màu tâm trạng. Cánh chim mỏi tìm về tổ ấm,
còn người tù thì mệt mỏi sau một ngày đường mà vẫn chưa có được
chỗ dừng chân. Chòm mây lẻ loi trôi lững lờ trên tầng không, còn
người tù thì cô đơn giữa một buổi chiều nơi đất khách. Hai câu thơ
đạt đến mức vi diệu của lối tả cảnh ngụ tình. Ơ đó ta bắt gặp một
tâm hồn giàu cảm xúc trước thiên nhiên và sự sống. Từ đó ta thấy
được một nghị lực phi thường và đó cũng chính là chất thép trong thơ
của Bác.

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng
(Cô em xóm núi xay ngô tối,
Xay hết lò than đã rực hồng)
“xóm núi” là hình ảnh giản dị biểu tượng cho sự sống bình
yên của con người. Xóm núi như đẹp hơn, ấm áp hơn với
hình ảnh người thiếu nữ. Vẻ đẹp trẻ trung đầy sức sống
của người thiếu nữ với tư thế lao động (xay ngô) trở thành
tâm điểm của bức tranh thiên nhiên buổi chiều. Điều đáng
lưu ý ở đây là hình tượng người thiếu nữ trong thơ Bác
hoàn toàn khác với hình tượng người thiếu nữ trong thơ
xưa. Người phụ nữ trong thơ xưa thì thường được ví như
“Liễu yếu đào tơ” và sống trong cảnh “Phòng khuê khép
kín”, chỉ biết “cầm, kì, thi, hoạ” là đủ. Còn người thiếu nữ
trong thơ Bác thì gắn liền với công việc lao động bình dị,
đời thường, khỏe khoắn đầy sức sống. Phải chăng chính cái
sức sống ấy của người thiếụ nữ đã làm nên vẻ đẹp lung
linh cho bức tranh.

Trong thơ xưa, những bức tranh vẻ cảnh chiều đều có bóng dáng con
người nhưng sao lẻ loi, cô độc và hiu hắt quá. Con người ở đây mang
nặng một nỗi niềm hoài cổ, một nỗi sầu muộn:
“Lom khom dưới núi tều vài chú,
Lác đác bên sông chợ mấy nhà”
(Qua Đèo Ngang – Bà Huyện Thanh Quan)
Hay:
“Gác mái ngư ông về viễn phố,
Gõ sừng mục tử lại cô thôn”
(Chiều Hôm Nhớ Nhà – Bà Huyện Thanh Quan)

 còn con người trong thơ Bác, lại là con người lao động đầy sức sống.
Chính hai từ “thiếu nữ” đã làm bừng lên sức sống của bức tranh. Cô gái
miệt mài xay ngô và hình như cô không chú ý đến những gì xung quanh
mình. Cối xay vẫn cứ quay và quay tít “ma bao túc” rồi “bao túc ma” và
khi ngô đã xay xong “bao túc ma hoàn” thì cô mới nhìn thấy “lò than đã
rực hồng”. Hình ảnh “lò than đã rực hồng” hiện lên trong đêm tối càng
làm nổi bật hình ảnh người thiếu nữ. Toàn bộ cảnh thiên nhiên đang
chìm trong màu xám nhạt chuyển sang màu tối. Cũng vì thế hình ảnh lò
than rực hồng có sức lôi cuốn đặc biệt. Bài thơ kết thúc bằng chữ
“hồng”, có thể nói đó chính là chỗ đẹp nhất của bài thơ. Đó chính là
ánh lửa hồng của cuộc sống đầm ấm, hạnh phúc gia đình, ánh lửa hồng
của sự sống, của niềm lạc quan. Chữ “hồng” đặt ở cuối bài thơ soi rõ vẻ
đẹp của người thiếu nữ, toả ánh sáng và hơi ấm xua đi cái buồn vắng
của bức tranh chiều tối nơi rừng núi. Với chữ “hồng” đó có ai còn cảm
giác nặng nề,mệt mỏi, nhạc nhằn nữa đâu mà chỉ thấy màu đỏ đã
nhuốm lên cả bóng đêm, cả thân hình lao động của cô gái đáng yêu
kia. Đó là màu đỏ của tình cảm Bác (Nguyễn Trung Thông)

Hai câu thơ đã cho ta thấy được cái nhìn ấm áp đầy yêu
thương, trân trọng của Bác đối với con người lao động. Buổi
“Chiều tối” nơi miền rừng núi quạnh hiu, hoang vắng, lẽ ra rất đỗi
buồn bã, thê lương trước mắt người tù bị xiềng xích, bị giải đi
với biết bao nỗi gian lao vất vả, nhưng trái lại đó là tiếng reo vui.
Chữ “hồng” ở cuối bài đã làm nên tiếng reo vui ấy, tạo cho bài
thơ âm hưởng nồng ấm, dạt dào.

NGHỆ THUẬT:
Maiacopxki từng nhận xét rằng "Làm thơ là cân một phần
nghìn milligram quặng chữ", thật vậy làm thơ cái đắt giá
nhất có lẽ là ở ngôn ngữ, ngôn ngữ tả ít mà gợi nhiều và bài
thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh là minh chứng rõ nét cho điều
đó. Với những hình ảnh thơ đậm chất cổ điển, cùng với bút
pháp chấm phá trong phong cách xây dựng đã giúp người
đọc hình dung ra được một bức tranh thiên nhiên, con người
chỉ bằng vài nét vẽ. Tác giả đã thực sự xuất sắc trong việc
dùng những từ ngữ đắt giá, chân thực nhưng giàu sức gợi,
giàu cảm xúc chạm đến tâm hồn người đọc.

KẾT BÀI 1: “Chiều tối” là một tác phẩm đậm đà
màu sắc cổ điển mà cũng rất hiện đại, thể hiện một
cách tự nhiên và phong phú vẻ đẹp của hình ảnh
người tù – thi sĩ, người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí
Minh. Bài thơ đã thể hiện tình yêu thiên nhiên tha
thiết của Bác. Điều đặc biệt ở đây là cảm quan
thiên nhiên của Bác gắn liền với cảm quan nhân
đạo, cảm quan về sự sống. Đó còn là sự lạc quuan
về bức chân dung tự hoạ của người chiến sĩ cách
mạng:
Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong

KẾT BÀI: "Nhà thơ, ngay cả các nhà thơ vĩ đại nhất cũng phải
đồng thời là những nhà tư tưởng" đó là lời nhận xét của Bêlinxki
về tư cách, về cái tâm của một người nghệ sĩ. Và Hồ Chí Minh
thực sự là một nhà thơ vĩ đại, Người đã phát hiện ra vẻ đẹp con
người nơi miền sơn cước khi đang lao động, đó là một vẻ đẹp lao
động khỏe khoắn, hăng say, con người làm chủ trước thiên nhiên,
giúp thiên nhiên trở nên có hồn hơn. Và người thiếu nữ trong thơ
Bác mang một nét đẹp mới, gắn liền với công việc lao động bình
dị, đời thường đầy sức sống chứ không giống quan điểm xưa kia
đó là phải biết "cầm, kỳ, thi, họa", được ví như "liễu yếu đào tơ",
đó là một nhân cách, một tâm hồn nhạy cảm, hiện đại mới phát
hiện ra điều đó. 
 
Gửi ý kiến