Bài 4. Chuyện người con gái Nam Xương

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Phan Quế Thảo
Ngày gửi: 07h:20' 05-07-2022
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 113
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Phan Quế Thảo
Ngày gửi: 07h:20' 05-07-2022
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 113
Số lượt thích:
0 người
Chuyện người con gái Nam Xương
Truyện thứ 16 trong “Truyền kì mạn lục”
Nguyễn Dữ.
Học văn cùng chị Quế Thảo - 2812
I.Tìm hiểu chung: 1.Tác giả: Nguyễn Dữ
*Nguyễn Dữ sống ở thế kỉ 16, quê ở Trường Tân – Thanh Miện – Hải Dương. *+ Về bối cảnh lịch sử: triều đình nhà Lê rơi vào khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến tranh giành quyền lực, dẫn đến những cuộc nội chiến kéo dài, dân chúng lầm than, gia đình li tán. *Ông nổi tiếng là người học rộng tài cao và là một học trò xuất sắc của Tuyết Giang Phu Tử Nguyễn Bỉnh Khiêm. *Là một “kẻ sĩ” có nhân cách cao thượng nên khi chứng kiến sự mục nát của chế độ đương triều, ông đã cáo quan rồi lui về quê ở ẩn.
2. Tác phẩm
*Thể loại: *+ Truyện truyền kì: Là loại văn xuôi tự sự có nguồn gốc từ Trung Quốc và thịnh hành từ thời Đường, là những câu chuyện kì lạ được ghi chép tản mạn, hay mô phỏng cốt truyện từ dân gian hoặc dã sử, thường có yếu tố hoang đường kì ảo, nhân vật thường là người phụ nữ đức hạnh, khao khát cuộc sống yên bình, hạnh phúc. *+ Truyện ra đời vào khoảng thời gian đầu thế kỉ XVI (Xã hội phong kiến Việt Nam bước vào giai đoạn suy vong). *Xuất xứ: có nguồn gốc từ truyện dân gian “Vợ chàng Trương”, là truyện thứ 16 trong 20 thiên truyện của “Truyền kì mạn lục”, gồm 20 truyện ghi chép lại những câu chuyện được lưu truyền tản mạn trong dân gian và thường mang yếu tố kì ảo, được mệnh danh là áng “Thiên cổ tùy bút”.
Tóm tắt:
*Truyện kể về Vũ Thị Thiếp (Vũ Nương), người con gái quê ở Nam Xương, xinh đẹp, nết na được Trương Sinh – Một người ít học, có tính đa nghi, cưới về làm vợ. *Gia đình vốn đang yên ấm, hạnh phúc thì chàng Trương buộc phải ra trận. Ở nhà, Vũ Nương đoan trang, hiếu thảo, quán xuyến mọi việc trong nhà, ân cần đối xử chu đáo với mẹ chồng. Nàng sinh con và đạt tên là Đản. Nàng hay đùa với con bằng cách chỉ cái bóng mình trên vách và nói là cha Đản. Song mẹ Trương Sinh vì quá thương nhớ con mà sinh bệnh, rồi qua đời. *Khi Trương Sinh trở về,chỉ nghe theo lời con trẻ mà nghĩ vợ mình thất tiết. Dẫu Vũ Nương một mực kêu oan nhưng chàng không nghe mà đánh mắng, đuổi đi. Nàng không thể tự minh oan bèn trầm mình xuống sông tự vẫn. Một đêm thấy bóng cha trên tường, bé Đản gọi cha. Bấy giờ Trương Sinh mới tỉnh ngộ nhưng đã muộn. *Ít lâu sau, Vũ Nương gặp Phan Lang dưới thủy cung – người cùng làng bị chết đuối, được Linh Phi cứu giúp. Khi Phan Lang trở về, nàng nhờ gửi chiếc thoa và nhắn chàng Trương lập đàn giải oan cho mình. Trương Sinh nghe theo, lập đàn giải oan cho nàng ở bến sông ấy. Vũ Nương trở về ẩn hiện giữa dòng sông, nói vọng vào bờ vài lời tạ từ rồi biến mất.
II. Tìm hiểu văn bản A. Nhân vật Vũ Nương: 1. Trong mối quan hệ với chồng: Nàng là người vợ thủy chung, yêu thương chồng hết mực. + Nàng hiểu chồng “có tính đa nghi” nên luôn khéo léo cư xử đúng mực, nhường nhịn, giữ gìn khuôn phép nên vợ chồng không lúc nào phải đến thất hòa.
* Vũ Nương là người phụ nữ đức hạnh, nết na, hiểu chồng. *Ngay từ đầu truyện, nàng đã khắc họa là một người phụ nữ đẹp người, đẹp nết, mang vẻ đẹp toàn vẹn trong xã hội phong kiến.
Khi tiễn chồng đi lính: Nàng dặn dò chồng với những lời thiết tha tình nghĩa:
*“Thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên” *Nàng không coi trọng những thứ vinh hoa phù phiếm mà đặt hạnh phúc gia đình lên tất cả. *“Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có”
*Nàng như cảm thông cho nỗi vất vả, gian lao mà chồng phải đối mặt khi ra trận *“Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang” *Nàng như bộc lộc sự khắc khoải, xa nhớ của mình.
Khi xa chồng: Nàng luôn tỏ ra là một người vợ thủy chung.
*Đi kèm với đó là nỗi nhớ chồng da diết, khuôn nguôi, “mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi.” * Khi dỗ con, chi tiết cái bóng đã thể hiện rằng nàng đã mơ về một tương lai gần sẽ lại bên chồng như hình với bóng. *“Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”: Nàng giữ trọn tiết hạnh, lòng son sắc, thủy chung. *Sự ca ngợi tấm lòng son sắc, thủy chung của nàng. *Tâm trạng nhớ thương, đau buồn ấy cũng là tâm trạng chung của những người phụ nữ trong thời kì loạn lạc.
Khi bị chồng nghi oan:
*Nàng hết sức phân trần để tỏ lòng trinh bạch vẹn nguyên.
+ “Thiếp vốn là con kẻ khó được nương tựa nhà giàu” : Nàng nhắc đến thân phận của mình để có được tình nghĩa vợ chồng.
+ “Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết”: Nàng khẳng định tấm lòng thủy chung, trong trắng vẹn nguyên.
+ “Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ. Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp”: Nàng cầu xin chàng đừng nghi oan.
*Nàng đã hết lời tỏ bày nhưng vẫn chẳng thể hàn gắn, cứu vãn mối quan hệ này.
Nàng đau đớn và thất vọng, khi chàng chẳng chịu lắng nghe, một mực nghi oan cho mình.
* Hạnh phúc gia đình, “thú vui nghi gia, nghi thất” của mình nay đã tan vỡ. *Tình yêu của nàng giờ đây thật đau thương: “Bình rơi tram gãy, mây tạnh mưa tan, liễu tàn trước gió”. *Nàng đã bị cự tuyệt quyền yêu, bị tước đi hạnh phúc gia đình. *Để rồi nàng tìm đến cái chết sau mọi sự cố gắng không thành.
+ Mượn bến Hoàng Giang để bày tỏ tấm lòng trong trắng, thủy chung: “Thiếp nếu đoan trang…cho diều quạ”.
*Hành động trầm mình tự vẫn là hành động quyết liệt cuối cùng để bảo vệ phẩm chất trinh bạch của mình.
Những năm tháng sống dưới thủy cung:
* Ở chốn phiêu bồng ấy, nàng vẫn một lòng hướng về chồng con, quê hương và khát khao được đoàn tụ. * Nàng khao khát được trả lại phẩm giá, danh dự. * Nàng là người trọng tình, trọng nghĩa. * Vũ Nương là người phụ nữ chung thủy, đầy bao dung và lòng vị tha.
2. Trong mối quan hệ với mẹ chồng: Nàng là một người con dâu hiếu thảo.
*Chăm sóc mẹ chồng ốm yếu, thuốc thang, lễ bái thần phật đủ cả. Khi mẹ chồng mất nàng lo liệu ma chay chu đáo. *Lời trăng trối của mẹ chồng đã khẳng định lòng hiếu thảo, tình cảm chân thành của nàng: “Xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.
3.Trong mối quan hệ với con: Người mẹ yêu thương con hết mực.
*Khi chồng ra trận, nàng một mình sinh con và nuôi dạy khôn lớn. *Nàng còn tâm lí, đóng cả vai trò của người cha, không để con thiếu thốn gì cả về mặt tinh thần.
B. Nguyên nhân cái chết của Vũ Nương:
*Nguyên nhân trực tiếp: Chiếc bóng đã khiến bé Đản ngộ nhận đó là cha mình, và chính những lời nói ngây ngô, vô tình đã thổi bùng ngọn lửa ghen tuông trong lòng Trương Sinh. *Nguyên nhân gián tiếp:
+ Cuộc hôn nhân không bình đẳng và tính cách gia trưởng, độc đoán của Trương Sinh.
+ Lễ giáo phong kiến hà khắc: Chế độ Nam quyền.
+ Nạn nhân của chiến tranh.
C. Giá trị hiện thực và nhân đạo
*GTHT:
+ Phản ánh một cách chân thực về số phận bất hạnh của Người Phụ Nữ.
+ Lên án chế độ xã hội lúc bấy giờ đầy bất công, vô lí.
+ Phản ánh chiến tranh phong kiến phi nghĩa.
*GTNĐ:
+ Khám phá, ca ngợi và trận trọng những vẻ đẹp phẩm chất của người phụ nữ.
+ Thể hiện sự thấu hiểu, xót xa và niềm cảm thương sâu sắc của tác giả.
+ Lên tiếng tố cáo chế độ nam quyền.
3.Tổng kết
*Nội dung: Truyện đã thể hiện niềm thương cảm sâu sắc với số phận trái ngang, oan nghiệt của người phụ nữ thời phong kiến, đồng thời khẳng định và ca ngợi những vẻ đẹp quý báu của họ. *Nghệ thuật:
+ Xây dựng tình huống truyện độc đáo.
+ Nghệ thuật kể chuyện đặc sắc.
+ Có sự kết hợp hài hòa giữu các phương thức biểu đạt: tự sự, biểu cảm.
+ Ngôi kể: ngôi thứ ba.
Truyện thứ 16 trong “Truyền kì mạn lục”
Nguyễn Dữ.
Học văn cùng chị Quế Thảo - 2812
I.Tìm hiểu chung: 1.Tác giả: Nguyễn Dữ
*Nguyễn Dữ sống ở thế kỉ 16, quê ở Trường Tân – Thanh Miện – Hải Dương. *+ Về bối cảnh lịch sử: triều đình nhà Lê rơi vào khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến tranh giành quyền lực, dẫn đến những cuộc nội chiến kéo dài, dân chúng lầm than, gia đình li tán. *Ông nổi tiếng là người học rộng tài cao và là một học trò xuất sắc của Tuyết Giang Phu Tử Nguyễn Bỉnh Khiêm. *Là một “kẻ sĩ” có nhân cách cao thượng nên khi chứng kiến sự mục nát của chế độ đương triều, ông đã cáo quan rồi lui về quê ở ẩn.
2. Tác phẩm
*Thể loại: *+ Truyện truyền kì: Là loại văn xuôi tự sự có nguồn gốc từ Trung Quốc và thịnh hành từ thời Đường, là những câu chuyện kì lạ được ghi chép tản mạn, hay mô phỏng cốt truyện từ dân gian hoặc dã sử, thường có yếu tố hoang đường kì ảo, nhân vật thường là người phụ nữ đức hạnh, khao khát cuộc sống yên bình, hạnh phúc. *+ Truyện ra đời vào khoảng thời gian đầu thế kỉ XVI (Xã hội phong kiến Việt Nam bước vào giai đoạn suy vong). *Xuất xứ: có nguồn gốc từ truyện dân gian “Vợ chàng Trương”, là truyện thứ 16 trong 20 thiên truyện của “Truyền kì mạn lục”, gồm 20 truyện ghi chép lại những câu chuyện được lưu truyền tản mạn trong dân gian và thường mang yếu tố kì ảo, được mệnh danh là áng “Thiên cổ tùy bút”.
Tóm tắt:
*Truyện kể về Vũ Thị Thiếp (Vũ Nương), người con gái quê ở Nam Xương, xinh đẹp, nết na được Trương Sinh – Một người ít học, có tính đa nghi, cưới về làm vợ. *Gia đình vốn đang yên ấm, hạnh phúc thì chàng Trương buộc phải ra trận. Ở nhà, Vũ Nương đoan trang, hiếu thảo, quán xuyến mọi việc trong nhà, ân cần đối xử chu đáo với mẹ chồng. Nàng sinh con và đạt tên là Đản. Nàng hay đùa với con bằng cách chỉ cái bóng mình trên vách và nói là cha Đản. Song mẹ Trương Sinh vì quá thương nhớ con mà sinh bệnh, rồi qua đời. *Khi Trương Sinh trở về,chỉ nghe theo lời con trẻ mà nghĩ vợ mình thất tiết. Dẫu Vũ Nương một mực kêu oan nhưng chàng không nghe mà đánh mắng, đuổi đi. Nàng không thể tự minh oan bèn trầm mình xuống sông tự vẫn. Một đêm thấy bóng cha trên tường, bé Đản gọi cha. Bấy giờ Trương Sinh mới tỉnh ngộ nhưng đã muộn. *Ít lâu sau, Vũ Nương gặp Phan Lang dưới thủy cung – người cùng làng bị chết đuối, được Linh Phi cứu giúp. Khi Phan Lang trở về, nàng nhờ gửi chiếc thoa và nhắn chàng Trương lập đàn giải oan cho mình. Trương Sinh nghe theo, lập đàn giải oan cho nàng ở bến sông ấy. Vũ Nương trở về ẩn hiện giữa dòng sông, nói vọng vào bờ vài lời tạ từ rồi biến mất.
II. Tìm hiểu văn bản A. Nhân vật Vũ Nương: 1. Trong mối quan hệ với chồng: Nàng là người vợ thủy chung, yêu thương chồng hết mực. + Nàng hiểu chồng “có tính đa nghi” nên luôn khéo léo cư xử đúng mực, nhường nhịn, giữ gìn khuôn phép nên vợ chồng không lúc nào phải đến thất hòa.
* Vũ Nương là người phụ nữ đức hạnh, nết na, hiểu chồng. *Ngay từ đầu truyện, nàng đã khắc họa là một người phụ nữ đẹp người, đẹp nết, mang vẻ đẹp toàn vẹn trong xã hội phong kiến.
Khi tiễn chồng đi lính: Nàng dặn dò chồng với những lời thiết tha tình nghĩa:
*“Thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên” *Nàng không coi trọng những thứ vinh hoa phù phiếm mà đặt hạnh phúc gia đình lên tất cả. *“Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có”
*Nàng như cảm thông cho nỗi vất vả, gian lao mà chồng phải đối mặt khi ra trận *“Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang” *Nàng như bộc lộc sự khắc khoải, xa nhớ của mình.
Khi xa chồng: Nàng luôn tỏ ra là một người vợ thủy chung.
*Đi kèm với đó là nỗi nhớ chồng da diết, khuôn nguôi, “mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi.” * Khi dỗ con, chi tiết cái bóng đã thể hiện rằng nàng đã mơ về một tương lai gần sẽ lại bên chồng như hình với bóng. *“Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”: Nàng giữ trọn tiết hạnh, lòng son sắc, thủy chung. *Sự ca ngợi tấm lòng son sắc, thủy chung của nàng. *Tâm trạng nhớ thương, đau buồn ấy cũng là tâm trạng chung của những người phụ nữ trong thời kì loạn lạc.
Khi bị chồng nghi oan:
*Nàng hết sức phân trần để tỏ lòng trinh bạch vẹn nguyên.
+ “Thiếp vốn là con kẻ khó được nương tựa nhà giàu” : Nàng nhắc đến thân phận của mình để có được tình nghĩa vợ chồng.
+ “Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết”: Nàng khẳng định tấm lòng thủy chung, trong trắng vẹn nguyên.
+ “Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ. Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp”: Nàng cầu xin chàng đừng nghi oan.
*Nàng đã hết lời tỏ bày nhưng vẫn chẳng thể hàn gắn, cứu vãn mối quan hệ này.
Nàng đau đớn và thất vọng, khi chàng chẳng chịu lắng nghe, một mực nghi oan cho mình.
* Hạnh phúc gia đình, “thú vui nghi gia, nghi thất” của mình nay đã tan vỡ. *Tình yêu của nàng giờ đây thật đau thương: “Bình rơi tram gãy, mây tạnh mưa tan, liễu tàn trước gió”. *Nàng đã bị cự tuyệt quyền yêu, bị tước đi hạnh phúc gia đình. *Để rồi nàng tìm đến cái chết sau mọi sự cố gắng không thành.
+ Mượn bến Hoàng Giang để bày tỏ tấm lòng trong trắng, thủy chung: “Thiếp nếu đoan trang…cho diều quạ”.
*Hành động trầm mình tự vẫn là hành động quyết liệt cuối cùng để bảo vệ phẩm chất trinh bạch của mình.
Những năm tháng sống dưới thủy cung:
* Ở chốn phiêu bồng ấy, nàng vẫn một lòng hướng về chồng con, quê hương và khát khao được đoàn tụ. * Nàng khao khát được trả lại phẩm giá, danh dự. * Nàng là người trọng tình, trọng nghĩa. * Vũ Nương là người phụ nữ chung thủy, đầy bao dung và lòng vị tha.
2. Trong mối quan hệ với mẹ chồng: Nàng là một người con dâu hiếu thảo.
*Chăm sóc mẹ chồng ốm yếu, thuốc thang, lễ bái thần phật đủ cả. Khi mẹ chồng mất nàng lo liệu ma chay chu đáo. *Lời trăng trối của mẹ chồng đã khẳng định lòng hiếu thảo, tình cảm chân thành của nàng: “Xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.
3.Trong mối quan hệ với con: Người mẹ yêu thương con hết mực.
*Khi chồng ra trận, nàng một mình sinh con và nuôi dạy khôn lớn. *Nàng còn tâm lí, đóng cả vai trò của người cha, không để con thiếu thốn gì cả về mặt tinh thần.
B. Nguyên nhân cái chết của Vũ Nương:
*Nguyên nhân trực tiếp: Chiếc bóng đã khiến bé Đản ngộ nhận đó là cha mình, và chính những lời nói ngây ngô, vô tình đã thổi bùng ngọn lửa ghen tuông trong lòng Trương Sinh. *Nguyên nhân gián tiếp:
+ Cuộc hôn nhân không bình đẳng và tính cách gia trưởng, độc đoán của Trương Sinh.
+ Lễ giáo phong kiến hà khắc: Chế độ Nam quyền.
+ Nạn nhân của chiến tranh.
C. Giá trị hiện thực và nhân đạo
*GTHT:
+ Phản ánh một cách chân thực về số phận bất hạnh của Người Phụ Nữ.
+ Lên án chế độ xã hội lúc bấy giờ đầy bất công, vô lí.
+ Phản ánh chiến tranh phong kiến phi nghĩa.
*GTNĐ:
+ Khám phá, ca ngợi và trận trọng những vẻ đẹp phẩm chất của người phụ nữ.
+ Thể hiện sự thấu hiểu, xót xa và niềm cảm thương sâu sắc của tác giả.
+ Lên tiếng tố cáo chế độ nam quyền.
3.Tổng kết
*Nội dung: Truyện đã thể hiện niềm thương cảm sâu sắc với số phận trái ngang, oan nghiệt của người phụ nữ thời phong kiến, đồng thời khẳng định và ca ngợi những vẻ đẹp quý báu của họ. *Nghệ thuật:
+ Xây dựng tình huống truyện độc đáo.
+ Nghệ thuật kể chuyện đặc sắc.
+ Có sự kết hợp hài hòa giữu các phương thức biểu đạt: tự sự, biểu cảm.
+ Ngôi kể: ngôi thứ ba.
 








Các ý kiến mới nhất