Tìm kiếm Bài giảng
Công tác kiểm tra giám sát

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Huỳnh Thị Ngọc Bích
Ngày gửi: 15h:40' 15-01-2023
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 158
Nguồn:
Người gửi: Huỳnh Thị Ngọc Bích
Ngày gửi: 15h:40' 15-01-2023
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 158
Số lượt thích:
0 người
CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT
VÀ KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG
Báo cáo viên: UBKT Quận ủy Quận 9
Mục tiêu bài giảng
Kiến
thức
Nắm vững lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của ĐCSVN về
công tác KT,GS và kỷ luật đảng
Kỹ
năng
Nâng cao kỹ năng nắm bắt, phân tích, xử lý
các tình huống thực tiễn công tác KT,GS và kỷ
luật của Đảng
Thái
độ
Có nhận thức, thái độ đúng đắn, đầy đủ và
Trách Nhiệm cao đối với công tác KT,GS và
kỷ luật của Đảng
I. QUAN NIỆM, VỊ TRÍ, VAI TRÒ, MỤC ĐÍCH
CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG
1. Quan niệm
a. Kiểm tra của Đảng là một trong những chức năng lãnh
đạo của Đảng, là việc các tổ chức đảng xem xét, đánh giá,
kết luận về ưu điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm của cấp ủy,
tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên trong việc chấp hành
Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết,
chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Tổ chức đảng và đảng viên phải thường xuyên tự kiểm
tra. Tổ chức đảng cấp trên kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới
và đảng viên.
Chủ thể kiểm tra gồm:
- Chi bộ, đảng uỷ bộ phận, đảng uỷ cơ sở; cấp
uỷ, Ban Thường vụ cấp uỷ từ cấp trên cơ sở
trở lên.
- Uỷ ban kiểm tra, các ban đảng, văn phòng
cấp uỷ, cơ quan UBKT.
- Ban cán sự đảng, đảng đoàn
Đối tượng kiểm tra gồm:
- Chi bộ, đảng uỷ bộ phận, đảng uỷ cơ sở
- Cấp uỷ, Ban Thường vụ cấp uỷ, thường trực
cấp uỷ trên cơ sở trở lên
- Uỷ ban kiểm tra, các cơ quan tham mưu, giúp
việc của cấp uỷ
- Ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng viên
1. Quan niệm
b. Giám sát của Đảng là việc các tổ chức đảng theo dõi,
xem xét, đánh giá hoạt động nhằm kịp thời tác động để cấp
ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên được giám sát
chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ
Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng.
Tổ chức đảng cấp trên giám sát tổ chức đảng cấp dưới
và đảng viên. Tổ chức đảng và đảng viên thực hiện nhiệm
vụ giám sát theo sự phân công.
Giám sát của Đảng có giám sát thường xuyên và giám sát
theo chuyên đề.
Giám sát trực tiếp, giám sát gián tiếp.
Chủ thể giám sát gồm:
- Chi bộ, đảng uỷ bộ phận, đảng uỷ cơ sở
- Cấp uỷ, Ban Thường vụ cấp uỷ từ cấp trên cơ
sở trở lên.
- Uỷ ban kiểm tra, cơ quan tham mưu, giúp
việc của cấp uỷ
Đối tượng giám sát gồm:
- Chi bộ, đảng uỷ bộ phận, đảng uỷ cơ sở
- Cấp uỷ, Ban Thường vụ cấp uỷ, thường trực
cấp uỷ trên cơ sở trở lên
- Uỷ ban kiểm tra, các cơ quan tham mưu, giúp
việc của cấp uỷ
- Ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng viên
2. Vị trí, vai trò công tác kiểm tra, giám sát
Tư tưởng của V.I.Lênin về
vai trò công tác kiểm tra, giám sát
• + Công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát là một công cụ hữu hiệu và là
một trong những nội dung lãnh đạo quan trọng đối với tổ chức đảng,
cơ quan nhà nước.
• + Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị đã đề ra thì những người cộng
sản phải nắm chắc công cụ kiểm tra, kiểm soát.
• + Người nhấn mạnh, mọi ý kiến và sự chỉ dẫn mặc dầu rất quan trọng,
nhưng không thể thiếu được việc tổ chức, kiểm tra, giám sát trong
thực tiễn để biến lời nói thành hành động.
• + Khi Đảng cộng sản cầm quyền thì nhiệm vụ hàng đầu và trọng tâm
của sự lãnh đạo tổ chức thực hiện phải chuyển “từ việc soạn thảo các
sắc lệnh, mệnh lệnh sang việc lựa chọn người và kiểm tra việc chấp
hành”. Và V.I.Lênin cho rằng, mấu chốt của toàn bộ công tác, của toàn
bộ chính sách hiện nay là ở đấy, vẫn ở đấy và chỉ có ở đấy.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về
vai trò công tác kiểm tra, giám sát
Trong tác phẩm “Một việc mà các cơ quan lãnh đạo cần
thực hành ngay”, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “chính sách
đúng là nguồn gốc thắng lợi. Song từ nguồn gốc đi đến thắng
lợi thực sự, còn phải tổ chức, phải đấu tranh.
Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại
của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa
chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra.
Nếu ba điều ấy sơ sài thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”
3. Mục đích công tác kiểm tra, giám sát
Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng nhằm
góp phần phục vụ công tác xây dựng Đảng
Tư tưởng của V.I.Lênin về
mục đích công tác kiểm tra, giám sát
Theo V.I.Lênin, mục đích cao nhất của công tác kiểm tra, giám sát là
nhằm:
+ Hoàn thiện quy trình lãnh đạo của Đảng (bao gồm các khâu: Ra quyết
định, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát);
+ Phát hiện người tốt việc tốt
+ Ngăn ngừa vi phạm, giữ gìn kỷ luật của Đảng
+ Góp phần thực hiện có kết quả cao nhất các nghị quyết đã đề ra
+ Xây dựng, cũng cố tổ chức đảng, bộ máy nhà nước, các đoàn thể chính
trị - xã hội ngày càng trong sạch, vững mạnh.
V.I.Lênin cho rằng: ý nghĩa và tác dụng lớn nhất của công tác kiểm tra,
giám sát là để sửa chữa, uốn nắm công việc, ngăn ngừa thiếu sót và sai
lầm.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về
mục đích công tác kiểm tra, giám sát
+ Hồ Chí Minh đã chỉ rõ mục đích của công tác kiểm tra, giám sát là giúp
cho các cấp uỷ đảng nắm chắc được tình hình lãnh đạo, chất lượng của
các nghị quyết, chỉ thị...
+ Các cấp, các ngành nếu tổ chức tốt việc kiểm tra, giám sát thì cũng như
“ngọn đèn pha” bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm
chúng ta đều biết rõ.
+ Kiểm tra, giám sát không chỉ giúp cho lãnh đạo nắm chắc chất lượng đội
ngũ cán bộ, ngăn ngừa khuyết điểm, sai lầm, giúp đỡ sửa chữa mà còn
khơi dậy được tính tích cực, sức mạnh to lớn của nhân dân, củng cố uy
tín của Đảng trước quần chúng.
+ Kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên với cán bộ làm tròn
nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt cho nhân
dân.
II. YÊU CẦU, PHƯƠNG PHÁP, HÌNH THỨC
CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG
2. Phương pháp kiểm tra, giám sát của Đảng
a. Dựa vào tổ chức đảng: Tổ chức đảng là cơ quan lãnh
đạo, quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên. Có dựa vào tổ
chức đảng thì chủ thể kiểm tra mới nắm được tình hình,
điều kiện, hoàn cảnh, khó khăn, thuận lợi, ưu khuyết điểm
của đối tượng được kiểm tra để có cơ sở xem xét, kết luận
một cách chính xác.
Dựa vào tổ chức đảng vừa là phương pháp cơ bản của
công tác kiểm tra, giám sát vừa là vấn đề có tính nguyên
tắc trong công tác xây dựng Đảng.
2. Phương pháp kiểm tra, giám sát của Đảng
b. Phát huy tinh thần tự giác của tổ chức đảng và đảng
viên: Tổ chức đảng được thành lập theo quy định của Điều
lệ Đảng, đảng viên tự nguyện gia nhập Đảng, vì vậy tổ
chức đảng và đảng viên phải tự giác chấp hành Cương
lĩnh, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật
của Nhà nước và nhiệm vụ được giao. Tự giác là bản chất
của Đảng. Do vậy, khi tiến hành kiểm tra, giám sát, cần coi
trọng và phát huy tinh thần tự giác tự phê bình của đối
tượng được kiểm tra để nhận rõ ưu khuyết điểm, vi phạm
để có cơ sở kết luận chính xác.
2. Phương pháp kiểm tra, giám sát của Đảng
c. Phát huy trách nhiệm xây dựng Đảng của quần chúng:
Một trong những phương châm xây dựng Đảng là tổ chức,
động viên quần chúng tham gia xây dựng Đảng, góp phần
kiểm tra, giám sát hoạt động của tổ chức đảng, kiểm tra,
giám sát việc thực hiện nhiệm vụ và phẩm chất của cán bộ,
đảng viên.
2. Phương pháp kiểm tra, giám sát của Đảng
d. Làm tốt công tác thẩm tra, xác minh: Yêu cầu cơ bản
của công tác kiểm tra, giám sát là phải đánh giá đúng, sai,
ưu, khuyết điểm, vi phạm (nếu có) của đối tượng được
kiểm tra để có quyết định chính xác. Vì vậy phải hết sức
coi
2. Phương pháp kiểm tra, giám sát của Đảng
e. Kết hợp chặt chẽ công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với
công tác thanh tra nhà nước, thanh tra nhân dân, công tác kiểm
tra, giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp và
phối hợp với các ban, ngành có liên quan: Trong điều kiện Đảng
cầm quyền, đảng viên hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội. Đảng viên vi phạm pháp luật của Nhà nước cũng là vi
phạm kỷ luật Đảng. Vì vậy phải kết hợp chặt chẽ giữa công tác
kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác thanh tra của Nhà nước,
thanh tra nhân dân, công tác kiểm tra của các đoàn thể. Vì thanh
tra nhà nước mới có đủ điều kiện để xem xét, kết luận những vi
phạm về quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội... Kết luận của
thanh tra nhà nước là cơ sở để tổ chức đảng nghiên cứu, kết luận
vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên được kiểm tra.
3. Các hình thức kiểm tra, giám sát
Hình thức KT,GS
Kiểm tra,
giám sát
thường xuyên
Kiểm tra
định kỳ
Kiểm tra
bất thường,
giám sát
chuyên đề
3. Các hình thức kiểm tra, giám sát
1. Kiểm tra, giám sát thường xuyên:
Hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên trên các lĩnh vực
diễn ra thường xuyên. Do đó, công tác kiểm tra, giám sát
cũng phải được tiến hành một cách thường xuyên, gắn
chặt với các hoạt động đó, chứ không phải lúc làm, lúc bỏ.
Có làm được như vậy mới kịp thời phát hiện những biểu
hiện lệch lạc, sai trái để lãnh đạo, chỉ đạo và có biện pháp
điều chỉnh cho phù hợp.
2. Kiểm tra định kỳ: Thực hiện theo chương trình, kế hoạch
từ đầu năm
3. Các hình thức kiểm tra, giám sát
3. Kiểm tra bất thường, giám sát chuyên đề:
Hình thức kiểm tra này được áp dụng khi có sự việc đột
xuất xảy ra cần phải tiến hành kiểm tra, hoặc khi có yêu
cầu của tổ chức đảng cấp trên. Cùng với giám sát thường
xuyên, còn thực hiện giám sát theo chuyên đề.
V. SỰ GIỐNG NHAU VÀ KHÁC NHAU GIỮA
KIỂM TRA VÀ GIÁM SÁT
Sự giống nhau:
Kiểm tra và giám sát đều là hoạt động của nội bộ đảng do cấp uỷ, tổ
chức đảng và uỷ ban kiểm tra các cấp thực hiện.
Kiểm tra và giám sát đều nhằm đạt được mục đích là nắm vững và
đánh giá đúng thực chất tình hình, từ đó để phòng ngừa, ngăn chặn, điều
chỉnh, uốn nắn mọi hành vi của tổ chức và các nhân có liên quan; nhằm
phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vị chính trị và công tác xây dựng đảng
trong sạch, vững mạnh.
Đối tượng và nội dung của kiểm tra, giám sát: đều là tổ chức đảng và
đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị
quyết, chỉ thị của Đảng, các nguyên tắc tổ chức của đảng, trong việc
thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nghị quyết của
cấp uỷ và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung
ương.
V. SỰ GIỐNG NHAU VÀ KHÁC NHAU GIỮA
KIỂM TRA VÀ GIÁM SÁT
Sự khác nhau về mục đích:
Giám sát là việc làm thường xuyên, liên tục để chủ động phòng
ngừa, ngăn chặn xẩy ra vi phạm từ lúc mới manh nha. Giám sát
giúp đối tượng được giám sát thực hiện đúng nghị quyết, chỉ thị,
quy định, quy chế; phát hiện, góp ý, nhằm chủ động phòng ngừa,
ngăn chăn khuyết điểm, vi phạm hành chính. Qua giám sát, nếu
phát hiện có dấu hiệu vi phạm mới tiến hành kiểm tra.
Mục đích của kiểm tra là làm rõ đúng, sai. Sau khi kiểm tra kết
luận và xử lý (nếu có vi phạm đến mức phải xử lý). Đối với kiểm
tra, có thể vi phạm rồi mới kiểm tra, có vụ việc vi phạm đã qua
nhiều năm khi phát hiện mới được kiểm tra làm rõ về nội dung, tính
chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân của vi phạm để xử lý
V. SỰ GIỐNG NHAU VÀ KHÁC NHAU GIỮA
KIỂM TRA VÀ GIÁM SÁT
Sự khác nhau về đối tượng:
Đối với kiểm tra: đảng viên vừa là đối tượng kiểm tra
vừa là chủ thể kiểm tra.
Đối với giám sát: đảng viên chỉ là đối tượng giám sát và
chỉ trở thành chủ thể giám sát khi được tổ chức đảng có
thẩm quyền phân công. Đối tượng giám sát rộng hơn đối
tượng kiểm tra, vì bao gồm cả các tiểu ban, hội đồng, tổ
công tác do cấp uỷ các cấp lập ra …
V. SỰ GIỐNG NHAU VÀ KHÁC NHAU GIỮA
KIỂM TRA VÀ GIÁM SÁT
Sự khác nhau về phương pháp và hình thức:
Giám sát thường xuyên có giám sát trực tiếp và giám sát gián tiếp.
Giám sát thường xuyên chủ yếu giao cho cá nhân thực hiện, không cần tổ
chức thành cuộc, không cần lập đoàn giám sát. Giám sát theo chuyên đề
thì phải lập đoàn giám sát. Khi thực hiện nhiệm vụ giám sát chú trọng theo
dõi, quan sát, đánh giá, lưu ý, cảnh báo, nhắc nhở nhưng không cần thẩm
tra, xác minh, không xem xét thi hành kỷ luật như kiểm tra.
Kiểm tra phải tiến hành theo quy trình chặt chẽ, thành lập đoàn kiểm
tra; phải coi trọng thẩm tra, xác minh, không được bỏ qua phương pháp
này vì chưa thẩm tra, xác minh thì chưa được xem xét, kết luận. Sau kiểm
tra phải có kết luận rõ đúng, sai, nội dung, tính chất, mức độ, tác hại,
nguyên nhân vi phạm, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ và phải xử lý
kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên (nếu có vi phạm đến mức phải xử lý).
V. SỰ GIỐNG NHAU VÀ KHÁC NHAU GIỮA
KIỂM TRA VÀ GIÁM SÁT
Mối quan hệ giữa kiểm tra và giám sát:
Giám sát và kiểm tra có mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn
nhau:
- Kết quả giám sát là căn cứ để kiểm tra, kết quả kiểm tra đánh
giá kết quả công tác giám sát, thực hiện tốt giám sát.
- Giám sát được thực hiện tốt thường xuyên có tác dụng phát
hiện sớm vi phạm, giúp việc kiểm tra chủ động, kịp thời, có chất
lượng, hiệu quả; đồng thời có tác dụng ngăn ngừa vi phạm, làm
giảm số cuộc và nội dung kiểm tra.
- Giám sát mở rộng, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm làm cho
công tác kiểm tra, giám sát bảo đảm tính toàn diện, sâu sắc,
thống nhất.
VI. VẤN ĐỀ KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG
1. Nội dung kỷ luật của Đảng:
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, nội dung kỷ luật của Đảng bao gồm:
- Kỷ luật nội bộ Đảng: Đảng viên làm trái Cương lĩnh chính trị, vi phạm
ĐLĐ, vi phạm những điều đảng viên không được làm trong việc chấp
hành nghị quyết, chỉ thị là vi phạm kỷ luật của Đảng.
- Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước: Mọi đường lối, quan điểm,
nghị quyết, chỉ thị của Đảng được thể chế hoá thành Hiến pháp, pháp
luật của Nhà nước. Vì vậy, vi phạm Hiến pháp và pháp luật là vi phạm
kỷ luật Đảng.
- Kỷ luật của đoàn thể: Các đoàn thể được lập ra dưới sự lãnh đạo
của Đảng. Vi phạm kỷ luật của đoàn thể cũng là vi phạm kỷ luật Đảng.
VI. VẤN ĐỀ KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG
2. Phương châm thi hành kỷ luật: Công minh - chính
xác - kịp thời
3. Phương hướng thi hành kỷ luật:
Tập trung vào những vi phạm về quan điểm, đường lối,
chính sách của Đảng; về chấp hành nguyên tắc tổ chức
của Đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ; suy
thoái về tư tưởng, chính trị, về phẩm chất đạo đức, lối
sống.
VI. VẤN ĐỀ KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG
4. Các hình thức kỷ luật:
a. Đối với tổ chức đảng: Khiển trách, cảnh cáo, giải tán.
b. Đối với đảng viên:
- Đảng viên chính thức: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ.
Đảng viên chính thức vi phạm nghiêm trọng đến mức phải khai trừ thì phải
kỷ luật khai trừ, không áp dụng biện pháp xóa tên, không chấp nhận việc
xin ra khỏi Đảng. Cấp ủy viên vi phạm đến mức cách chức thì phải cách
chức, không để thôi giữ chức.
- Đảng viên dự bị: Khiển trách, cảnh cáo.
Đảng viên dự bị vi phạm đến mức phải kỷ luật thì kỷ luật khiển trách hoặc
cảnh cáo và khi hết thời hạn dự bị, chi bộ vẫn tiến hành xét công nhận
đảng viên chính thức. Nếu vi phạm đến mức không còn đủ tư cách đảng
viên thì xóa tên trong danh sách đảng viên, không kỷ luật khai trừ.
VI. VẤN ĐỀ KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG
5. Thẩm quyền thi hành kỷ luật:
a. Thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với đảng viên:
- Chỉ có các tổ chức đảng do ĐLĐ quy định và BCHTW uỷ
quyền mới có thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với đảng viên vi
phạm, đó là: chi bộ; BCH đảng bộ các cấp từ cấp cơ sở trở
lên; BTV cấp uỷ, UBKT cấp uỷ các cấp từ cấp quận, huyện và
tương đương trở lên và tổ chức đảng được TW uỷ quyền mới
có thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với đảng viên vi phạm.
- Đảng viên, chi uỷ, đảng uỷ bộ phận, BTV ĐU cơ sở, ủy ban
kiểm tra đảng ủy cơ sở, các ban, văn phòng cấp uỷ,… không
có thẩm quyền thi hành kỷ luật đảng viên.
VI. VẤN ĐỀ KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG
Lưu ý: Theo Điều lệ Đảng khoá XI: Chi bộ quyết định khiển
trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp ủy viên
các cấp, đảng viên thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý) vi
phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống,
sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm
vụ do cấp trên giao). Nhiệm vụ do cấp trên giao là công
việc do tổ chức đảng cấp trên hoặc lãnh đạo cấp trên có
thẩm quyền giao cho đảng viên.
Nếu phải xử lý kỷ luật cao hơn, chi bộ đề nghị cấp có thẩm
quyền xem xét, quyết định.
VI. VẤN ĐỀ KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG
b. Thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với tổ chức đảng:
chỉ có các cấp uỷ đảng từ đảng uỷ cơ sở trở lên và tổ chức
đảng được TW uỷ quyền mới có thẩm quyền thi hành kỷ
luật đối với tổ chức đảng vi phạm (Điều 37, Chương VIII).
Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm không thuộc thẩm
quyền quyết định kỷ luật của cấp mình thì đề nghị lên cấp
có thẩm quyền quyết định
PHẦN 2
CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT
CỦA TỔ CHỨC ĐẢNG Ở CƠ SỞ
A. CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA CÁC
TỔ CHỨC ĐẢNG Ở CƠ SỞ
I. CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA ĐẢNG ỦY CƠ SỞ
Theo quy định của Điều lệ Đảng, đảng uỷ cơ sở có trách
nhiệm lãnh đạo công tác kiểm tra và tổ chức thực hiện
nhiệm vụ kiểm tra đối với tổ chức đảng và đảng viên thuộc
phạm vi lãnh đạo, quản lý.
I. CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA ĐẢNG ỦY CƠ SỞ
1. Cấp ủy lãnh đạo công tác kiểm tra:
Các nội dung lãnh đạo công tác kiểm tra gồm:
- Phổ biến, quán triệt Điều lệ, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của cấp uỷ cấp trên và cấp mình về công tác
kiểm tra.
- Xây dựng và chỉ đạo uỷ ban kiểm tra, các cơ quan tham mưu và các cấp uỷ thuộc phạm vi quản lý xây dựng quy chế
làm việc, chương trình công tác kiểm tra toàn khóa và hàng năm. Chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc cấp uỷ cấp dưới xây dựng
và thực hiện chương trình kiểm tra.
- Ban hành các văn bản theo thẩm quyền để các tổ chức đảng thực hiện.
I. CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA ĐẢNG ỦY CƠ SỞ
- Lãnh đạo, chỉ đạo về tổ chức, hoạt động của uỷ ban kiểm tra và bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ kiểm tra.
- Nghe báo cáo và chỉ đạo việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra; giải quyết kiến nghị của các
tổ chức đảng cấp dưới. Định kỳ sơ kết, tổng kết về công tác KT.
- Đề xuất với cấp có thẩm quyền những vấn đề cần bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành các
văn bản về công tác kiểm tra của Đảng.
I. CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA ĐẢNG ỦY CƠ SỞ
2. Cấp ủy tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra:
a. Kiểm tra chấp hành:
Đảng ủy căn cứ yêu cầu, nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng và tình hình thực tế của đảng bộ trong từng
thời gian để xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, trong đó xác định rõ nội dung, đối tượng, thời gian, phương
pháp tiến hành, tổ chức lực lượng, phân công cụ thể từng cấp ủy viên và ủy ban kiểm tra tiến hành kiểm tra.
b. Thực hiện giải quyết tố cáo, giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng và tiến hành các nhiệm vụ kiểm tra khi cần
thiết.
II. CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA ĐẢNG ỦY BỘ PHẬN
1. Đảng uỷ bộ phận xây dựng chương trình và tổ chức thực hiện kiểm tra đối
với chi bộ và đảng viên thuộc phạm vi lãnh đạo của mình và những nội dung
do đảng uỷ cơ sở giao tương tự như công tác kiểm tra của đảng uỷ cơ sở.
2. Cách tiến hành: Cách tiến hành kiểm tra của đảng uỷ bộ phận tương tự
cách tiến hành kiểm tra của đảng uỷ cơ sở như đã nêu trên.
III. CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA CHI BỘ
Hằng năm, chi bộ xây dựng kế hoạch kiểm tra đối với đảng
viên trong chi bộ:
1. Nội dung: Nội dung kiểm tra của chi bộ tương tự như
đảng uỷ cơ sở. Tập trung kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ
đảng viên, việc thực hiện nghị quyết của chi bộ, nhiệm vụ
do chi bộ phân công.
2. Đối tượng: Chi bộ kiểm tra mọi đảng viên sinh hoạt
trong chi bộ. Trước hết, tập trung kiểm tra những đảng viên
đang giữ nhiệm vụ quan trọng
III. CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA CHI BỘ
3. Cách tiến hành
3.1. Chi bộ kiểm tra đảng viên thường xuyên thông qua
sinh hoạt thường kỳ; qua kiểm tra, phân tích chất lượng
đảng viên; qua nhận xét, đánh giá, phản ánh của tổ chức
đoàn thể và nhân dân đối với tổ chức đảng và đảng viên;
qua nghiên cứu, khảo sát nắm tình hình theo yêu cầu của
cấp ủy; qua sơ kết, tổng kết công tác và thông báo của tổ
chức đảng có thẩm quyền cấp trên để đánh giá đúng mặt
mạnh, mặt yếu của đảng viên, kịp thời động viên, phát huy
ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, chủ động phòng ngừa
đảng viên vi phạm.
III. CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA CHI BỘ
3. Cách tiến hành
3.2. Ngoài ra, chi bộ có thể tiến hành kiểm tra định kỳ đối
với một số hoặc tất cả đảng viên của chi bộ về một số nội
dung cần kiểm tra… Khi có vấn đề đột xuất, thì có thể kiểm
tra bất thường. Nếu đảng viên có dấu hiệu vi phạm hoặc bị
tố cáo, chi bộ kịp thời kiểm tra, xem xét hoặc báo cáo tổ
chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, giải quyết.
III. CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA CHI BỘ
3. Cách tiến hành
3.3. Tổ chức một cuộc kiểm tra như sau:
- Chi bộ quyết định lập tổ kiểm tra, kế hoạch kiểm tra. Tổ
kiểm tra phân công nhiệm vụ cho các thành viên, chuẩn bị
văn bản, tài liệu phục vụ kiểm tra.
- Chi bộ thông báo đề cương nội dung kiểm tra yêu cầu
đảng viên được kiểm tra chuẩn bị báo cáo giải trình (chi uỷ
giúp đảng viên kiểm tra chuẩn bị).
- Tổ kiểm tra tiến hành kiểm tra (thu thập tài liệu, nghiên
cứu báo cáo tự kiểm tra của đảng viên được kiểm tra, tiến
hành thẩm tra, xác minh…).
III. CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA CHI BỘ
3. Cách tiến hành
3.3. Tổ chức một cuộc kiểm tra như sau:
- Tổ chức hội nghị chi bộ để nghe đảng viên được kiểm tra
trình bày báo cáo tự kiểm tra.
- Tổ kiểm tra trình bày báo cáo kết quả thẩm tra, xác minh
bằng văn bản.
- Chi bộ thảo luận, phân tích và kết luận ưu điểm, khuyết điểm
về nội dung kiểm tra và kết luận kiểm tra. Trường hợp đảng
viên có vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật, chi bộ chủ động
xem xét, xử lý theo thẩm quyền hoặc đề nghị cấp có thẩm
quyền xem xét, quyết định.
- Lập và lưu trữ hồ sơ.
B. CÔNG TÁC GIÁM SÁT CỦA
CÁC TỔ CHỨC ĐẢNG Ở CƠ SỞ
I. CÔNG TÁC GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG ỦY CƠ SỞ
1. Lãnh đạo công tác giám sát:
Nội dung lãnh đạo công tác giám sát của đảng uỷ cơ sở
tương tự như lãnh đạo công tác kiểm tra của đảng uỷ cơ
sở nêu trên.
2. Tổ chức thực hiện nhiệm vụ giám sát:
Đảng uỷ cơ sở xây dựng chương trình, kế hoạch và tổ
chức thực hiện giám sát tổ chức đảng và đảng viên thuộc
phạm vi quản lý của cấp mình. Xác định rõ nội dung, đối
tượng, phương pháp tiến hành, tổ chức lực lượng, phân
công cấp uỷ viên, uỷ ban kiểm tra của đảng uỷ thực hiện
việc giám sát.
I. CÔNG TÁC GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG ỦY CƠ SỞ
a. Nội dung giám sát:
* Đối với tổ chức đảng:
- Việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ
trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của cấp uỷ cấp trên
và cấp mình, pháp luật của Nhà nước.
- Các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng và việc bảo
đảm quyền của đảng viên.
- Việc giữ gìn đoàn kết nội bộ, quản lý đảng viên, chỉ đạo
thực hiện quy định về những điều cán bộ, đảng viên không
được làm và giữ mối liên hệ với quần chúng.
* Đối với đảng viên: Việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên.
VÀ KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG
Báo cáo viên: UBKT Quận ủy Quận 9
Mục tiêu bài giảng
Kiến
thức
Nắm vững lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của ĐCSVN về
công tác KT,GS và kỷ luật đảng
Kỹ
năng
Nâng cao kỹ năng nắm bắt, phân tích, xử lý
các tình huống thực tiễn công tác KT,GS và kỷ
luật của Đảng
Thái
độ
Có nhận thức, thái độ đúng đắn, đầy đủ và
Trách Nhiệm cao đối với công tác KT,GS và
kỷ luật của Đảng
I. QUAN NIỆM, VỊ TRÍ, VAI TRÒ, MỤC ĐÍCH
CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG
1. Quan niệm
a. Kiểm tra của Đảng là một trong những chức năng lãnh
đạo của Đảng, là việc các tổ chức đảng xem xét, đánh giá,
kết luận về ưu điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm của cấp ủy,
tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên trong việc chấp hành
Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết,
chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Tổ chức đảng và đảng viên phải thường xuyên tự kiểm
tra. Tổ chức đảng cấp trên kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới
và đảng viên.
Chủ thể kiểm tra gồm:
- Chi bộ, đảng uỷ bộ phận, đảng uỷ cơ sở; cấp
uỷ, Ban Thường vụ cấp uỷ từ cấp trên cơ sở
trở lên.
- Uỷ ban kiểm tra, các ban đảng, văn phòng
cấp uỷ, cơ quan UBKT.
- Ban cán sự đảng, đảng đoàn
Đối tượng kiểm tra gồm:
- Chi bộ, đảng uỷ bộ phận, đảng uỷ cơ sở
- Cấp uỷ, Ban Thường vụ cấp uỷ, thường trực
cấp uỷ trên cơ sở trở lên
- Uỷ ban kiểm tra, các cơ quan tham mưu, giúp
việc của cấp uỷ
- Ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng viên
1. Quan niệm
b. Giám sát của Đảng là việc các tổ chức đảng theo dõi,
xem xét, đánh giá hoạt động nhằm kịp thời tác động để cấp
ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên được giám sát
chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ
Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng.
Tổ chức đảng cấp trên giám sát tổ chức đảng cấp dưới
và đảng viên. Tổ chức đảng và đảng viên thực hiện nhiệm
vụ giám sát theo sự phân công.
Giám sát của Đảng có giám sát thường xuyên và giám sát
theo chuyên đề.
Giám sát trực tiếp, giám sát gián tiếp.
Chủ thể giám sát gồm:
- Chi bộ, đảng uỷ bộ phận, đảng uỷ cơ sở
- Cấp uỷ, Ban Thường vụ cấp uỷ từ cấp trên cơ
sở trở lên.
- Uỷ ban kiểm tra, cơ quan tham mưu, giúp
việc của cấp uỷ
Đối tượng giám sát gồm:
- Chi bộ, đảng uỷ bộ phận, đảng uỷ cơ sở
- Cấp uỷ, Ban Thường vụ cấp uỷ, thường trực
cấp uỷ trên cơ sở trở lên
- Uỷ ban kiểm tra, các cơ quan tham mưu, giúp
việc của cấp uỷ
- Ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng viên
2. Vị trí, vai trò công tác kiểm tra, giám sát
Tư tưởng của V.I.Lênin về
vai trò công tác kiểm tra, giám sát
• + Công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát là một công cụ hữu hiệu và là
một trong những nội dung lãnh đạo quan trọng đối với tổ chức đảng,
cơ quan nhà nước.
• + Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị đã đề ra thì những người cộng
sản phải nắm chắc công cụ kiểm tra, kiểm soát.
• + Người nhấn mạnh, mọi ý kiến và sự chỉ dẫn mặc dầu rất quan trọng,
nhưng không thể thiếu được việc tổ chức, kiểm tra, giám sát trong
thực tiễn để biến lời nói thành hành động.
• + Khi Đảng cộng sản cầm quyền thì nhiệm vụ hàng đầu và trọng tâm
của sự lãnh đạo tổ chức thực hiện phải chuyển “từ việc soạn thảo các
sắc lệnh, mệnh lệnh sang việc lựa chọn người và kiểm tra việc chấp
hành”. Và V.I.Lênin cho rằng, mấu chốt của toàn bộ công tác, của toàn
bộ chính sách hiện nay là ở đấy, vẫn ở đấy và chỉ có ở đấy.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về
vai trò công tác kiểm tra, giám sát
Trong tác phẩm “Một việc mà các cơ quan lãnh đạo cần
thực hành ngay”, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “chính sách
đúng là nguồn gốc thắng lợi. Song từ nguồn gốc đi đến thắng
lợi thực sự, còn phải tổ chức, phải đấu tranh.
Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại
của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa
chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra.
Nếu ba điều ấy sơ sài thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”
3. Mục đích công tác kiểm tra, giám sát
Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng nhằm
góp phần phục vụ công tác xây dựng Đảng
Tư tưởng của V.I.Lênin về
mục đích công tác kiểm tra, giám sát
Theo V.I.Lênin, mục đích cao nhất của công tác kiểm tra, giám sát là
nhằm:
+ Hoàn thiện quy trình lãnh đạo của Đảng (bao gồm các khâu: Ra quyết
định, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát);
+ Phát hiện người tốt việc tốt
+ Ngăn ngừa vi phạm, giữ gìn kỷ luật của Đảng
+ Góp phần thực hiện có kết quả cao nhất các nghị quyết đã đề ra
+ Xây dựng, cũng cố tổ chức đảng, bộ máy nhà nước, các đoàn thể chính
trị - xã hội ngày càng trong sạch, vững mạnh.
V.I.Lênin cho rằng: ý nghĩa và tác dụng lớn nhất của công tác kiểm tra,
giám sát là để sửa chữa, uốn nắm công việc, ngăn ngừa thiếu sót và sai
lầm.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về
mục đích công tác kiểm tra, giám sát
+ Hồ Chí Minh đã chỉ rõ mục đích của công tác kiểm tra, giám sát là giúp
cho các cấp uỷ đảng nắm chắc được tình hình lãnh đạo, chất lượng của
các nghị quyết, chỉ thị...
+ Các cấp, các ngành nếu tổ chức tốt việc kiểm tra, giám sát thì cũng như
“ngọn đèn pha” bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm
chúng ta đều biết rõ.
+ Kiểm tra, giám sát không chỉ giúp cho lãnh đạo nắm chắc chất lượng đội
ngũ cán bộ, ngăn ngừa khuyết điểm, sai lầm, giúp đỡ sửa chữa mà còn
khơi dậy được tính tích cực, sức mạnh to lớn của nhân dân, củng cố uy
tín của Đảng trước quần chúng.
+ Kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên với cán bộ làm tròn
nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt cho nhân
dân.
II. YÊU CẦU, PHƯƠNG PHÁP, HÌNH THỨC
CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG
2. Phương pháp kiểm tra, giám sát của Đảng
a. Dựa vào tổ chức đảng: Tổ chức đảng là cơ quan lãnh
đạo, quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên. Có dựa vào tổ
chức đảng thì chủ thể kiểm tra mới nắm được tình hình,
điều kiện, hoàn cảnh, khó khăn, thuận lợi, ưu khuyết điểm
của đối tượng được kiểm tra để có cơ sở xem xét, kết luận
một cách chính xác.
Dựa vào tổ chức đảng vừa là phương pháp cơ bản của
công tác kiểm tra, giám sát vừa là vấn đề có tính nguyên
tắc trong công tác xây dựng Đảng.
2. Phương pháp kiểm tra, giám sát của Đảng
b. Phát huy tinh thần tự giác của tổ chức đảng và đảng
viên: Tổ chức đảng được thành lập theo quy định của Điều
lệ Đảng, đảng viên tự nguyện gia nhập Đảng, vì vậy tổ
chức đảng và đảng viên phải tự giác chấp hành Cương
lĩnh, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật
của Nhà nước và nhiệm vụ được giao. Tự giác là bản chất
của Đảng. Do vậy, khi tiến hành kiểm tra, giám sát, cần coi
trọng và phát huy tinh thần tự giác tự phê bình của đối
tượng được kiểm tra để nhận rõ ưu khuyết điểm, vi phạm
để có cơ sở kết luận chính xác.
2. Phương pháp kiểm tra, giám sát của Đảng
c. Phát huy trách nhiệm xây dựng Đảng của quần chúng:
Một trong những phương châm xây dựng Đảng là tổ chức,
động viên quần chúng tham gia xây dựng Đảng, góp phần
kiểm tra, giám sát hoạt động của tổ chức đảng, kiểm tra,
giám sát việc thực hiện nhiệm vụ và phẩm chất của cán bộ,
đảng viên.
2. Phương pháp kiểm tra, giám sát của Đảng
d. Làm tốt công tác thẩm tra, xác minh: Yêu cầu cơ bản
của công tác kiểm tra, giám sát là phải đánh giá đúng, sai,
ưu, khuyết điểm, vi phạm (nếu có) của đối tượng được
kiểm tra để có quyết định chính xác. Vì vậy phải hết sức
coi
2. Phương pháp kiểm tra, giám sát của Đảng
e. Kết hợp chặt chẽ công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với
công tác thanh tra nhà nước, thanh tra nhân dân, công tác kiểm
tra, giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp và
phối hợp với các ban, ngành có liên quan: Trong điều kiện Đảng
cầm quyền, đảng viên hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội. Đảng viên vi phạm pháp luật của Nhà nước cũng là vi
phạm kỷ luật Đảng. Vì vậy phải kết hợp chặt chẽ giữa công tác
kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác thanh tra của Nhà nước,
thanh tra nhân dân, công tác kiểm tra của các đoàn thể. Vì thanh
tra nhà nước mới có đủ điều kiện để xem xét, kết luận những vi
phạm về quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội... Kết luận của
thanh tra nhà nước là cơ sở để tổ chức đảng nghiên cứu, kết luận
vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên được kiểm tra.
3. Các hình thức kiểm tra, giám sát
Hình thức KT,GS
Kiểm tra,
giám sát
thường xuyên
Kiểm tra
định kỳ
Kiểm tra
bất thường,
giám sát
chuyên đề
3. Các hình thức kiểm tra, giám sát
1. Kiểm tra, giám sát thường xuyên:
Hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên trên các lĩnh vực
diễn ra thường xuyên. Do đó, công tác kiểm tra, giám sát
cũng phải được tiến hành một cách thường xuyên, gắn
chặt với các hoạt động đó, chứ không phải lúc làm, lúc bỏ.
Có làm được như vậy mới kịp thời phát hiện những biểu
hiện lệch lạc, sai trái để lãnh đạo, chỉ đạo và có biện pháp
điều chỉnh cho phù hợp.
2. Kiểm tra định kỳ: Thực hiện theo chương trình, kế hoạch
từ đầu năm
3. Các hình thức kiểm tra, giám sát
3. Kiểm tra bất thường, giám sát chuyên đề:
Hình thức kiểm tra này được áp dụng khi có sự việc đột
xuất xảy ra cần phải tiến hành kiểm tra, hoặc khi có yêu
cầu của tổ chức đảng cấp trên. Cùng với giám sát thường
xuyên, còn thực hiện giám sát theo chuyên đề.
V. SỰ GIỐNG NHAU VÀ KHÁC NHAU GIỮA
KIỂM TRA VÀ GIÁM SÁT
Sự giống nhau:
Kiểm tra và giám sát đều là hoạt động của nội bộ đảng do cấp uỷ, tổ
chức đảng và uỷ ban kiểm tra các cấp thực hiện.
Kiểm tra và giám sát đều nhằm đạt được mục đích là nắm vững và
đánh giá đúng thực chất tình hình, từ đó để phòng ngừa, ngăn chặn, điều
chỉnh, uốn nắn mọi hành vi của tổ chức và các nhân có liên quan; nhằm
phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vị chính trị và công tác xây dựng đảng
trong sạch, vững mạnh.
Đối tượng và nội dung của kiểm tra, giám sát: đều là tổ chức đảng và
đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị
quyết, chỉ thị của Đảng, các nguyên tắc tổ chức của đảng, trong việc
thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nghị quyết của
cấp uỷ và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung
ương.
V. SỰ GIỐNG NHAU VÀ KHÁC NHAU GIỮA
KIỂM TRA VÀ GIÁM SÁT
Sự khác nhau về mục đích:
Giám sát là việc làm thường xuyên, liên tục để chủ động phòng
ngừa, ngăn chặn xẩy ra vi phạm từ lúc mới manh nha. Giám sát
giúp đối tượng được giám sát thực hiện đúng nghị quyết, chỉ thị,
quy định, quy chế; phát hiện, góp ý, nhằm chủ động phòng ngừa,
ngăn chăn khuyết điểm, vi phạm hành chính. Qua giám sát, nếu
phát hiện có dấu hiệu vi phạm mới tiến hành kiểm tra.
Mục đích của kiểm tra là làm rõ đúng, sai. Sau khi kiểm tra kết
luận và xử lý (nếu có vi phạm đến mức phải xử lý). Đối với kiểm
tra, có thể vi phạm rồi mới kiểm tra, có vụ việc vi phạm đã qua
nhiều năm khi phát hiện mới được kiểm tra làm rõ về nội dung, tính
chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân của vi phạm để xử lý
V. SỰ GIỐNG NHAU VÀ KHÁC NHAU GIỮA
KIỂM TRA VÀ GIÁM SÁT
Sự khác nhau về đối tượng:
Đối với kiểm tra: đảng viên vừa là đối tượng kiểm tra
vừa là chủ thể kiểm tra.
Đối với giám sát: đảng viên chỉ là đối tượng giám sát và
chỉ trở thành chủ thể giám sát khi được tổ chức đảng có
thẩm quyền phân công. Đối tượng giám sát rộng hơn đối
tượng kiểm tra, vì bao gồm cả các tiểu ban, hội đồng, tổ
công tác do cấp uỷ các cấp lập ra …
V. SỰ GIỐNG NHAU VÀ KHÁC NHAU GIỮA
KIỂM TRA VÀ GIÁM SÁT
Sự khác nhau về phương pháp và hình thức:
Giám sát thường xuyên có giám sát trực tiếp và giám sát gián tiếp.
Giám sát thường xuyên chủ yếu giao cho cá nhân thực hiện, không cần tổ
chức thành cuộc, không cần lập đoàn giám sát. Giám sát theo chuyên đề
thì phải lập đoàn giám sát. Khi thực hiện nhiệm vụ giám sát chú trọng theo
dõi, quan sát, đánh giá, lưu ý, cảnh báo, nhắc nhở nhưng không cần thẩm
tra, xác minh, không xem xét thi hành kỷ luật như kiểm tra.
Kiểm tra phải tiến hành theo quy trình chặt chẽ, thành lập đoàn kiểm
tra; phải coi trọng thẩm tra, xác minh, không được bỏ qua phương pháp
này vì chưa thẩm tra, xác minh thì chưa được xem xét, kết luận. Sau kiểm
tra phải có kết luận rõ đúng, sai, nội dung, tính chất, mức độ, tác hại,
nguyên nhân vi phạm, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ và phải xử lý
kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên (nếu có vi phạm đến mức phải xử lý).
V. SỰ GIỐNG NHAU VÀ KHÁC NHAU GIỮA
KIỂM TRA VÀ GIÁM SÁT
Mối quan hệ giữa kiểm tra và giám sát:
Giám sát và kiểm tra có mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn
nhau:
- Kết quả giám sát là căn cứ để kiểm tra, kết quả kiểm tra đánh
giá kết quả công tác giám sát, thực hiện tốt giám sát.
- Giám sát được thực hiện tốt thường xuyên có tác dụng phát
hiện sớm vi phạm, giúp việc kiểm tra chủ động, kịp thời, có chất
lượng, hiệu quả; đồng thời có tác dụng ngăn ngừa vi phạm, làm
giảm số cuộc và nội dung kiểm tra.
- Giám sát mở rộng, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm làm cho
công tác kiểm tra, giám sát bảo đảm tính toàn diện, sâu sắc,
thống nhất.
VI. VẤN ĐỀ KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG
1. Nội dung kỷ luật của Đảng:
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, nội dung kỷ luật của Đảng bao gồm:
- Kỷ luật nội bộ Đảng: Đảng viên làm trái Cương lĩnh chính trị, vi phạm
ĐLĐ, vi phạm những điều đảng viên không được làm trong việc chấp
hành nghị quyết, chỉ thị là vi phạm kỷ luật của Đảng.
- Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước: Mọi đường lối, quan điểm,
nghị quyết, chỉ thị của Đảng được thể chế hoá thành Hiến pháp, pháp
luật của Nhà nước. Vì vậy, vi phạm Hiến pháp và pháp luật là vi phạm
kỷ luật Đảng.
- Kỷ luật của đoàn thể: Các đoàn thể được lập ra dưới sự lãnh đạo
của Đảng. Vi phạm kỷ luật của đoàn thể cũng là vi phạm kỷ luật Đảng.
VI. VẤN ĐỀ KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG
2. Phương châm thi hành kỷ luật: Công minh - chính
xác - kịp thời
3. Phương hướng thi hành kỷ luật:
Tập trung vào những vi phạm về quan điểm, đường lối,
chính sách của Đảng; về chấp hành nguyên tắc tổ chức
của Đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ; suy
thoái về tư tưởng, chính trị, về phẩm chất đạo đức, lối
sống.
VI. VẤN ĐỀ KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG
4. Các hình thức kỷ luật:
a. Đối với tổ chức đảng: Khiển trách, cảnh cáo, giải tán.
b. Đối với đảng viên:
- Đảng viên chính thức: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ.
Đảng viên chính thức vi phạm nghiêm trọng đến mức phải khai trừ thì phải
kỷ luật khai trừ, không áp dụng biện pháp xóa tên, không chấp nhận việc
xin ra khỏi Đảng. Cấp ủy viên vi phạm đến mức cách chức thì phải cách
chức, không để thôi giữ chức.
- Đảng viên dự bị: Khiển trách, cảnh cáo.
Đảng viên dự bị vi phạm đến mức phải kỷ luật thì kỷ luật khiển trách hoặc
cảnh cáo và khi hết thời hạn dự bị, chi bộ vẫn tiến hành xét công nhận
đảng viên chính thức. Nếu vi phạm đến mức không còn đủ tư cách đảng
viên thì xóa tên trong danh sách đảng viên, không kỷ luật khai trừ.
VI. VẤN ĐỀ KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG
5. Thẩm quyền thi hành kỷ luật:
a. Thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với đảng viên:
- Chỉ có các tổ chức đảng do ĐLĐ quy định và BCHTW uỷ
quyền mới có thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với đảng viên vi
phạm, đó là: chi bộ; BCH đảng bộ các cấp từ cấp cơ sở trở
lên; BTV cấp uỷ, UBKT cấp uỷ các cấp từ cấp quận, huyện và
tương đương trở lên và tổ chức đảng được TW uỷ quyền mới
có thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với đảng viên vi phạm.
- Đảng viên, chi uỷ, đảng uỷ bộ phận, BTV ĐU cơ sở, ủy ban
kiểm tra đảng ủy cơ sở, các ban, văn phòng cấp uỷ,… không
có thẩm quyền thi hành kỷ luật đảng viên.
VI. VẤN ĐỀ KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG
Lưu ý: Theo Điều lệ Đảng khoá XI: Chi bộ quyết định khiển
trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp ủy viên
các cấp, đảng viên thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý) vi
phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống,
sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm
vụ do cấp trên giao). Nhiệm vụ do cấp trên giao là công
việc do tổ chức đảng cấp trên hoặc lãnh đạo cấp trên có
thẩm quyền giao cho đảng viên.
Nếu phải xử lý kỷ luật cao hơn, chi bộ đề nghị cấp có thẩm
quyền xem xét, quyết định.
VI. VẤN ĐỀ KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG
b. Thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với tổ chức đảng:
chỉ có các cấp uỷ đảng từ đảng uỷ cơ sở trở lên và tổ chức
đảng được TW uỷ quyền mới có thẩm quyền thi hành kỷ
luật đối với tổ chức đảng vi phạm (Điều 37, Chương VIII).
Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm không thuộc thẩm
quyền quyết định kỷ luật của cấp mình thì đề nghị lên cấp
có thẩm quyền quyết định
PHẦN 2
CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT
CỦA TỔ CHỨC ĐẢNG Ở CƠ SỞ
A. CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA CÁC
TỔ CHỨC ĐẢNG Ở CƠ SỞ
I. CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA ĐẢNG ỦY CƠ SỞ
Theo quy định của Điều lệ Đảng, đảng uỷ cơ sở có trách
nhiệm lãnh đạo công tác kiểm tra và tổ chức thực hiện
nhiệm vụ kiểm tra đối với tổ chức đảng và đảng viên thuộc
phạm vi lãnh đạo, quản lý.
I. CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA ĐẢNG ỦY CƠ SỞ
1. Cấp ủy lãnh đạo công tác kiểm tra:
Các nội dung lãnh đạo công tác kiểm tra gồm:
- Phổ biến, quán triệt Điều lệ, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của cấp uỷ cấp trên và cấp mình về công tác
kiểm tra.
- Xây dựng và chỉ đạo uỷ ban kiểm tra, các cơ quan tham mưu và các cấp uỷ thuộc phạm vi quản lý xây dựng quy chế
làm việc, chương trình công tác kiểm tra toàn khóa và hàng năm. Chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc cấp uỷ cấp dưới xây dựng
và thực hiện chương trình kiểm tra.
- Ban hành các văn bản theo thẩm quyền để các tổ chức đảng thực hiện.
I. CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA ĐẢNG ỦY CƠ SỞ
- Lãnh đạo, chỉ đạo về tổ chức, hoạt động của uỷ ban kiểm tra và bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ kiểm tra.
- Nghe báo cáo và chỉ đạo việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra; giải quyết kiến nghị của các
tổ chức đảng cấp dưới. Định kỳ sơ kết, tổng kết về công tác KT.
- Đề xuất với cấp có thẩm quyền những vấn đề cần bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành các
văn bản về công tác kiểm tra của Đảng.
I. CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA ĐẢNG ỦY CƠ SỞ
2. Cấp ủy tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra:
a. Kiểm tra chấp hành:
Đảng ủy căn cứ yêu cầu, nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng và tình hình thực tế của đảng bộ trong từng
thời gian để xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, trong đó xác định rõ nội dung, đối tượng, thời gian, phương
pháp tiến hành, tổ chức lực lượng, phân công cụ thể từng cấp ủy viên và ủy ban kiểm tra tiến hành kiểm tra.
b. Thực hiện giải quyết tố cáo, giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng và tiến hành các nhiệm vụ kiểm tra khi cần
thiết.
II. CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA ĐẢNG ỦY BỘ PHẬN
1. Đảng uỷ bộ phận xây dựng chương trình và tổ chức thực hiện kiểm tra đối
với chi bộ và đảng viên thuộc phạm vi lãnh đạo của mình và những nội dung
do đảng uỷ cơ sở giao tương tự như công tác kiểm tra của đảng uỷ cơ sở.
2. Cách tiến hành: Cách tiến hành kiểm tra của đảng uỷ bộ phận tương tự
cách tiến hành kiểm tra của đảng uỷ cơ sở như đã nêu trên.
III. CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA CHI BỘ
Hằng năm, chi bộ xây dựng kế hoạch kiểm tra đối với đảng
viên trong chi bộ:
1. Nội dung: Nội dung kiểm tra của chi bộ tương tự như
đảng uỷ cơ sở. Tập trung kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ
đảng viên, việc thực hiện nghị quyết của chi bộ, nhiệm vụ
do chi bộ phân công.
2. Đối tượng: Chi bộ kiểm tra mọi đảng viên sinh hoạt
trong chi bộ. Trước hết, tập trung kiểm tra những đảng viên
đang giữ nhiệm vụ quan trọng
III. CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA CHI BỘ
3. Cách tiến hành
3.1. Chi bộ kiểm tra đảng viên thường xuyên thông qua
sinh hoạt thường kỳ; qua kiểm tra, phân tích chất lượng
đảng viên; qua nhận xét, đánh giá, phản ánh của tổ chức
đoàn thể và nhân dân đối với tổ chức đảng và đảng viên;
qua nghiên cứu, khảo sát nắm tình hình theo yêu cầu của
cấp ủy; qua sơ kết, tổng kết công tác và thông báo của tổ
chức đảng có thẩm quyền cấp trên để đánh giá đúng mặt
mạnh, mặt yếu của đảng viên, kịp thời động viên, phát huy
ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, chủ động phòng ngừa
đảng viên vi phạm.
III. CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA CHI BỘ
3. Cách tiến hành
3.2. Ngoài ra, chi bộ có thể tiến hành kiểm tra định kỳ đối
với một số hoặc tất cả đảng viên của chi bộ về một số nội
dung cần kiểm tra… Khi có vấn đề đột xuất, thì có thể kiểm
tra bất thường. Nếu đảng viên có dấu hiệu vi phạm hoặc bị
tố cáo, chi bộ kịp thời kiểm tra, xem xét hoặc báo cáo tổ
chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, giải quyết.
III. CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA CHI BỘ
3. Cách tiến hành
3.3. Tổ chức một cuộc kiểm tra như sau:
- Chi bộ quyết định lập tổ kiểm tra, kế hoạch kiểm tra. Tổ
kiểm tra phân công nhiệm vụ cho các thành viên, chuẩn bị
văn bản, tài liệu phục vụ kiểm tra.
- Chi bộ thông báo đề cương nội dung kiểm tra yêu cầu
đảng viên được kiểm tra chuẩn bị báo cáo giải trình (chi uỷ
giúp đảng viên kiểm tra chuẩn bị).
- Tổ kiểm tra tiến hành kiểm tra (thu thập tài liệu, nghiên
cứu báo cáo tự kiểm tra của đảng viên được kiểm tra, tiến
hành thẩm tra, xác minh…).
III. CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA CHI BỘ
3. Cách tiến hành
3.3. Tổ chức một cuộc kiểm tra như sau:
- Tổ chức hội nghị chi bộ để nghe đảng viên được kiểm tra
trình bày báo cáo tự kiểm tra.
- Tổ kiểm tra trình bày báo cáo kết quả thẩm tra, xác minh
bằng văn bản.
- Chi bộ thảo luận, phân tích và kết luận ưu điểm, khuyết điểm
về nội dung kiểm tra và kết luận kiểm tra. Trường hợp đảng
viên có vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật, chi bộ chủ động
xem xét, xử lý theo thẩm quyền hoặc đề nghị cấp có thẩm
quyền xem xét, quyết định.
- Lập và lưu trữ hồ sơ.
B. CÔNG TÁC GIÁM SÁT CỦA
CÁC TỔ CHỨC ĐẢNG Ở CƠ SỞ
I. CÔNG TÁC GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG ỦY CƠ SỞ
1. Lãnh đạo công tác giám sát:
Nội dung lãnh đạo công tác giám sát của đảng uỷ cơ sở
tương tự như lãnh đạo công tác kiểm tra của đảng uỷ cơ
sở nêu trên.
2. Tổ chức thực hiện nhiệm vụ giám sát:
Đảng uỷ cơ sở xây dựng chương trình, kế hoạch và tổ
chức thực hiện giám sát tổ chức đảng và đảng viên thuộc
phạm vi quản lý của cấp mình. Xác định rõ nội dung, đối
tượng, phương pháp tiến hành, tổ chức lực lượng, phân
công cấp uỷ viên, uỷ ban kiểm tra của đảng uỷ thực hiện
việc giám sát.
I. CÔNG TÁC GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG ỦY CƠ SỞ
a. Nội dung giám sát:
* Đối với tổ chức đảng:
- Việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ
trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của cấp uỷ cấp trên
và cấp mình, pháp luật của Nhà nước.
- Các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng và việc bảo
đảm quyền của đảng viên.
- Việc giữ gìn đoàn kết nội bộ, quản lý đảng viên, chỉ đạo
thực hiện quy định về những điều cán bộ, đảng viên không
được làm và giữ mối liên hệ với quần chúng.
* Đối với đảng viên: Việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên.
 








Các ý kiến mới nhất