Tìm kiếm Bài giảng
Tuần 10. Đất nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Lụa
Ngày gửi: 21h:02' 03-03-2023
Dung lượng: 9.1 MB
Số lượt tải: 225
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Lụa
Ngày gửi: 21h:02' 03-03-2023
Dung lượng: 9.1 MB
Số lượt tải: 225
Số lượt thích:
0 người
“Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
Cánh cò bay lả rập rờn
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều”
(Trích Trường ca “Bài thơ Hắc Hải” – Nguyễn Đình Thi)
***
“Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm!
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
- Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc,
Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn,
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc.
Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng”..
(Tổ Quốc bao giờ đẹp thế này chăng? – Chế Lan Viên)
Tiết 24-25: Văn
I. Tìm hiểu chung:
1. Tác giả:
- Sinh 1943, xã Phong Hoà,
huyện Phong Điền, Thừa Thiên
Huế.
- Xuất thân: trong gia đình có
truyền thống yêu nước và cách
mạng.
- Là một trong những cây bút tiêu
biểu của thế hệ thơ trẻ trong những
năm chống Mĩ.
- Phong cách thơ: Giàu chất suy tư,
xúc cảm dồn nén, mang màu sắc
chính luận.
- Tác phẩm chính:
+ Đất ngoại ô (Tập thơ, 1972)
+ Mặt đường khát vọng (trường ca,
1974)
+ Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (thơ,
1986)
2. Trường ca Mặt đường
khát vọng:
a. Hoàn cảnh sáng tác:
Trường ca Mặt đường khát
vọng được tác giả sáng tác
năm 1971 tại chiến khu Trị Thiên, viết về sự thức tỉnh của
tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiến
miền Nam về non sông, đất
nước, về sứ mệnh của thế hệ
mình, xuống đường đấu tranh
hòa nhịp với cuộc chiến đấu
chống đế quốc Mĩ xâm lược.
- Đoạn trích Đất nước thuộc
phần đầu chương V của
Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong kháng chiến chống Mỹ
trường ca.
3. Đoạn trích:
a. Xuất xứ:
Phần đầu chương V của trường ca “Mặt đường khát
vọng”.
b. Đọc văn bản
c. Bố cục: Gồm hai phần:
- Phần 1: Từ đầu đến “Làm nên đất nước muôn đời”
Những cảm nhận mới mẻ của tác giả về đất nước.
- Phần 2: Còn lại
Tư tưởng “Đất nước của Nhân dân”.
II. Đọc – hiểu văn bản:
1. Nguồn gốc, sự sinh thành và phát triển của đất nước (9
dòng đầu)
“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
……………………………………
Đất Nước có từ ngày đó”.
Truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên
-Hai dòng đầu: ĐN có từ bao giờ?
“Khi ta lớn lên….mẹ thường hay kể”
Đất Nước đã có từ rất lâu, rất xa, từ bao giờ chẳng
biết .Chỉ biết rằng : khi ta cất tiếng khóc chào đời, thì Đất
Nước đã hiện hữu. Đất nước có từ lâu đời: trong thần
thoại, truyền thuyết, cổ tích.. “ ngày xửa, ngày xưa”
-Đất nước gắn liền với nền văn hóa lâu đời của dân tộc:
phong tục, tập quán của người Việt:
“ “Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn,
Tóc mẹ thì búi sau đầu
+Hình ảnh “miếng trầu” đã là một hình tượng nghệ thuật
giàu tính thẩm mỹ từng xuất hiện trong các câu chuyện cổ
tích,ca dao,tục ngữ.“Miếng trầu”là hiện thân của tình yêu
thương, lòng thủy chung của tâm hồn dân tộc
+ Bằng những ý thơ giàu sức liên tưởng , nhà thơ đã
đưa người đọc trở về với những nét đẹp văn hóa một
thời của người phụ nữ Việt Nam bằng hình ảnh “tóc mẹ
búi sau đầu”, gợi tả một nét đẹp thuần phong mỹ tục của
người Việt
-Đất Nước lớn lên trong đau thương vất vả gắn liền với
lịch sử đấu tranh của dân tộc:
“ĐN lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”
Từ truyền thuyết Thành Gióng dân gian đến tác phẩm
thơ văn hiện đại, cây tre đã trở thành biểu tượng cho sức
mạnh tinh thần dân tộc quật cường đánh giặc cứu nước
và giữ nước.
- Trong quá trình trưởng thành, đất nước còn gắn liền
với với đời sống văn hóa tâm linh, Đất nước gắn liền với
quá trình lao động cần cù, những con người sống ân tình thủy chung
“Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên,
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, dần ,sàng…”
+Tác giả đã vận dụng thành ngữ “gừng cay muối mặn” một cách
hết sức tự nhiên, đặc sắc, nhẹ nhàng mà thấm đượm ân tình để
nói lên sự thuỷ chung ở trong con người
+Từ xa xưa, con người đã biết chặt gỗ mà làm nhà. Những ngôi
nhà đó sử dụng kèo, cột giằng giữ vào nhau vững chãi, bền chặt
tránh được mưa gió và thú dữ. Đó cũng chính là ngôi nhà tổ ấm
cho mọi gia đình có thể đoàn tụ, quây quần bên nhau, cùng nhau
chia sẻ niềm vui nỗi buồn; từ đó hình thành nên làng, xóm và Đất
nước
+Hình ảnh thơ còn thể hiện sự cảm nhận về đất nước gắn với
nền văn hóa nông nghiệp lúa nước, lấy hạt gạo làm gia bản…
Nhà thơ vận dụng khéo léo câu thành ngữ “Một nắng hai
sương” để nói lên sự cần cù chăm chỉ của cha ông ta trong lao
động sản xuất. Các động từ “xay – giã – dần – sàng” đó là quy
trình sản xuất ra hạt gạo. Để làm ra được hạt gạo, người nông
dân phải trải qua biết bao tháng ngày nắng sương vất vả gieo
cấy, chăm sóc, xay giã và giần sàng. Thấm vào trong hạt gạo bé
nhỏ ấy là mồ hôi vị mặn nhọc nhằn của người nông dân vất vả
nắng mưa.
-Từ tất cả các yếu tố trên, nhà thơ khẳng định:
“Đất Nước có từ ngày đó…”
“Ngày đó” là ngày nào, chúng ta không hề biết. Chỉ biết rằng
ngày đó chính là ngày ta bắt đầu có truyền thống, có những
phong tục tập quán, có nhiều văn hoá riêng biệt khác với quốc
gia khác. Đó là ngày ta có Đất nước của dân tộc Việt Nam.
*Tóm lại: Bằng việc vận dụng khéo léo và mềm mại các chất
liệu văn hóa dân gian như phong tục ăn trầu, tục búi lệ tóc,
truyền thống đánh giặc ngoại xâm, truyền thống làm nông
nghiệp và các câu ca dao, tục ngữ cùng các thành ngữ…
cùng với ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, Hình ảnh giàu sức liên
tưởng, gợi cảm ,lời thơ nhẹ nhàng đúng giọng thủ thỉ tâm
tình thâm trầm- trang nghiêm, tha thiết, trữ tình, điệp từ “Đất
nước”, tác giả Nguyễn Khoa Điềm đã mang đến cho bạn đọc
một cách nhìn mới mẻ về cội nguồn của đất nước; về vẻ đẹp
của một đất nước giàu văn hóa cổ truyền, đất nước của truyền
thống, của phong tục tươi đẹp. Đất nước gần gũi, thân thương
gắn bó với đời sống con người Việt Nam
2. Đất nước được cảm nhận ở phương diện địa lí và
phương diện lịch sử “ Đất là nơi….. Nhớ ngày giỗ tổ”
*Khái quát: Ở 20 câu thơ này, nhà thơ tiếp tục bày tỏ sự cảm nhận
của mình về đất nước để trả lời cho câu hỏi : Đất nước là gì Câu
hỏi đã được nhà thơ trả lời bằng cách nêu ra những định nghĩa
về đất nước ở hai phương diện : không gian địa lý và thời gian lịch
sử .
a.Về không gian địa lý,- đất nước là nơi sinh sống của mỗi người ,
Là nơi gắn với cuộc sống sinh hoạt hàng ngày
“Đất là nơi…..là nơi em tắm”
Khi DN được tách ra thành 2 thành tố gắn với kỉ niệm đáng yêu
đáng nhớ, thân thuộc với mỗi con người. Tách thành tố Đất để chỉ
con đường hang ngày anh đến trường, ngôi trường cung cấp hành
trang tri thức cho mỗi chúng ta để ta tự tin làm chủ cộc sống. Tách
thành tố Nước là dòng song em tắm mát, chở nặng phù sa làm tốt
xanh những cánh đồng, bãi mía, nương dâu. Cách diễn đạt ấy giúp
ta hình dung cụ thể ĐN là nơi ta lớn lên học tập và sinh hoạt
- Là nơi gắn với kỉ niệm tình yêu đôi lứa:
“Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”
ĐN hoà nhập vào một trở thành kg hẹn hò, nâng bước và minh
chứng cho tình yêu của hai đứa. Nơi trai gái hẹn hò gợi nên
những kg làng quê thanh bình, yên ả. Khi hai đứa yêu nhau thì
ĐN như cũng sống trong nỗi nhớ thầm của hai đứa. Câu thơ đậm
chất ca dao dân ca đặc trưng của văn hoá Việt xưa kia
“Khăn thương nhớ ai…..”
-Là không gian rộng lớn, tráng lệ, hùng vĩ của núi cao, biển cả:
“Đất là nơi….móng nước biển khơi… mênh mông”
+Đất Nước được cảm nhận là“không gian mênh mông”. Có thể
hiểu đó là núi sông, bờ cõi, là Bắc – Trung – Nam một dải. Là
đất nước rừng vàng biển bạc. Trong ấy, bao thế hệ nối tiếp nước
từ dãy Trường Sơn hùng vĩ - "Nơi con chim phượng hoàng bay
về hòn núi bạc” cho đến biển bờ Thái Bình Dương vỗ sóng mênh
mang -nơi "Con cá ngư ông móng nước biển khơi
+Niềm tự hào về đất nước trù phú, giàu đẹp, tài nguyên vô tận
-Đất Nước còn là không gian sinh tồn, nơi phát sinh
và phát triển của cộng đồng người Việt qua biết bao
thế hệ:
“Đất là nơi dân mình đoàn tụ”
“Những ai đã khuất… yêu nhau và sinh con đẻ cái…
để lại”
b. Đất nước được cảm nhận qua phương diện lịch
sử
-Đất nước thiêng liêng hào hùng trong quá khứ “Đất là nơi
chim về…Lạc Long Quân…bọc trứng…giỗ tổ”
+Ở phương diện này, đất nước có cả chiều sâu và bề dày
được nhận thức từ huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ, từ
truyền thuyết Hùng Vương và ngày giỗ Tổ .
+Nguyễn Khoa Điềm với xúc cảm tự hào, ông nhớ lại huyền
tích lung linh về dòng dõi con Rồng cháu Tiên của dân tộc
Lạc Việt. Đó là truyền thuyết:
“Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng “
Truyện cổ “Sự tích một trăm trứng” ra đời từ rất lâu đời
nhằm lý giải xuất xứ của dân tộc Việt Nam. Từ câu chuyện
đó, nhân dân ta mãi mãi tự hào mình là con rồng cháu tiên,
con cháu Vua Hùng.
c) Trên cơ sở đó, nhà thơ đã thức dậy lòng yêu nước, niềm
tự hào về dòng máu Lạc Hồng, dòng máu con rồng cháu tiên,
nhắc nhở thế hệ trẻ phải biết kế tục truyền thống của cha
ông, của Đất Nước(Đoạn thơ: Những ai đã khuất… giỗ tổ)
Những ai đã khuất
Những ai bây giờ
Yêu nhau và sinh con đẻ cái
Gánh vác phần người đi trước để lại
Dặn dò con cháu chuyện mai sau
- Yêu nước, lớp lớp con cháu người Việt nối bước cha ông, gánh
vác trên vai trách nhiệm xây dựng và bảo vệ đất nước.
- Cảm xúc và suy tư, trữ tình và chính luận khiến những câu thơ
trên có sức lay động lớn đến tâm hồn người đọc về ý thức trách
nhiệm của mỗi chúng ta: Dù người mất hay còn thì truyền thống
dân tộc, đạo đức cha ông, các thế hệ con cháu phải có trách
nhiệm kế thừa và phát huy.
Hàng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ
- Hai chữ “cúi đầu” thể tình cảm thành kính, thiêng liêng, chạm
vào tình cảm cội nguồn, khơi dậy trong lòng người truyền thuyết
vua Hùng dựng nước. Xúc động và đáng trân trọng biết bao thái
độ thành kính của nhà thơ hướng về quá khứ, cội nguồn của
dân tộc. Cúi đầu để hướng về lịch sử về Tổ Hùng Vương đã góp
công dựng nên nước nhà Âu Lạc mà nay là nước Việt Nam hùng
cường sánh vai bốn bể năm châu. Người Việt mình dù đi khắp thế
giới nhưng trong tâm linh của họ luôn có một ngôi nhà chung để
quay về. Đó chính là Quê cha đất Tổ Vua Hùng.
Tóm lại
-Bằng cảm nhận rất đỗi thân thương, gần gũi, Nguyễn Khoa Điềm
đã mang đến cho chúng ta một hình ảnh Đất Nước bình dị
nhưng không kém phần tươi đẹp. Đọc đoạn thơ nói riêng và bài
thơ nói chung, ta cảm nghe như cội nguồn dân tộc, cội nguồn văn
hóa đang thấm vào tận từng mạch hồn ta, dòng máu ta. Điều đó
càng làm ta thêm yêu thêm quý quê hương Tổ quốc mình.
-Nguyễn Khoa Điềm, qua đoạn thơ trên, đã nêu những định
nghĩa đa dạng, phong phú về đất nước, từ chiều sâu của văn
hóa văn tộc, chiều dài của thời gian lịch sử đến chiều rộng
của không gian đất nước. Nhà thơ cũng vận dụng rộng rãi các
chất liêu văn hóa dân gian, từ truyền thuyết lịch sử, phong tục, tập
quán đến sinh hoạt, lao động của dân tộc ta, kết hợp với những
hình ảnh, ngôn ngữ nghệ thuật đậm đà tính dân tộc và giàu chất
trí tuệ.
2 .Lời nhắn nhủ về sự gắn bó và trách nhiệm đối với Đất Nước: 13
câu tiếp
“ Trong anh và em hôm nay
………………………………
Làm nên Đất Nước muôn đời”.
*Khái quát: Đọan thơ sau đây là những lời nhắn nhủ tâm tình về sự gắn
bó và trách nhiệm của mỗi người với đất nước :
“ Trong anh và em hôm nay,
Đều có một phần Đất Nước
………………………………
Làm nên Đất Nước muôn đời”.
-Đất nước đã hóa thân vào mỗi con người
“ Trong anh và em hôm nay,
Đều có một phần Đất Nước”.
Đất nước đã hóa thân vào mỗi con người, bởi chúng ta đều là con
Rồng, cháu Tiên, đều sinh ra và lớn lên trên đất nước này.Mỗi người Việt
Nam đều đã và đang thừa hưởng những giá trị vật chất, tinh thần của
đất nước thành máu thịt, tâm hồn, nếp cảm,nếp nghĩ và cách sống của
mình. ĐN giản dị, gần gũi trong hiện tại.
- Từ việc khẳng định: đất nước hóa thân và kết tinh trong cuộc sống của
mỗi người,nhà thơ tiếp tục nói về mối quan hệ gắn bó sâu sắc của mỗi
người với đất nước bằng những dòng thơ giàu chất chính luận :
“Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn, to lớn”.
-Với những cảm nhận tinh tế, mới mẻ về sự hòa quyện giữa cái riêng và
cái chung, giữa tình yêu và niềm tin, đồng thời kết hợp sử dụng các tính
từ “hài hòa, nồng thắm”; “vẹn tròn, to lớn” đi liền nhau; đặc biệt là kiểu
câu cấu tạo theo hai cặp đối xứng về ngôn từ (“Khi /Khi; Đất
Nước / Đất Nước),nhà thơ muốn gửi đến cho người đọc bức thông
điệp: đất nước là sự thống nhất hài hòa giữa tình yêu đôi lứa với tình
yêu Tổ quốc, giữa cá nhân với cộng đồng. ĐN được xd trên cơ sở của
tình yêu thương và tình đoàn kết của dân tộc.
-Không chỉ khẳng định mối quan hệ gắn bó giữa Đất nước và nhân dân,
giữa tình yêu cá nhân với tình yêu lớn của đất nước; nhà thơ còn thể
hiện niềm tin mãnh liệt vào tương lai tươi sáng của đất nước :
“Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng”.
Có thể nói, ba dòng thơ đã mở ra một tầng ý nghĩa mới, đó là niềm tin
mãnh liệt vào tương lai tươi sáng của đất nước.
Thế hệ sau “con ta lớn lên sẽ mang Đất Nước đi xa- Đến những tháng
ngày mơ mộng”.Đất nước sẽ đẹp hơn, những tháng ngày mơ mộng ở
hiện tại sẽ trở thành hiện thực ở ngày mai.
- Khi đã hiểu hết ý nghĩa thiêng liêng của đất nước, nhà thơ muốn nhắn
gửi với mọi người : Trách nhiệm với đât nước
“ Em ơi em Đất nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời…”
Điệp ngữ, kết cấu câu mệnh lệnh,giàu tính chính luận. Lời thơ
nhẹ nhàng, tha thiết nhắc nhở chính mình và nhắn gửi mọi người
phải có trách nhiệm đối đất nước, giữ gìn đất nước mãi trường
tồn.
*Bằng giọng thơ trữ tình kết hợp với chính luận; bằng cách sử dụng câu
cầu khiến, điệp ngữ “phải biết - phải biết” nhắc lại hai lần cùng các động
từ mạnh “gắn bó, san sẻ, hóa thân” …nhà thơ như nhắn nhủ mình,
nhưng cũng là nhắn nhủ với mọi người ( nhất là thế hệ trẻ) về trách
nhiệm thiêng liêng của mình với đất nước. Cái hay là lời nhắn nhủ mang
tính chính luận nhưng lại không giáo huấn mà vẫn rất trữ tình, tha thiết
như lời tự dặn mình - dặn người của nhà thơ.
4. Ca ngợi Đất Nước hùng vĩ, ca ngợi vẻ đẹp của Nhân dân
“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nướcnhững núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau còn góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên
Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng, gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ước ao, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hoá núi sông ta…”
*Khái quát: Đoạn thơ 12 câu này trích trong phần II bài "Đất
Nước" đã ca ngợi Đất Nước hùng vĩ, tự hào khẳng định những
phẩm chất cao đẹp của nhân dân ta, dân tộc ta. Câu thơ mở rộng
đến 13, 14, 15 từ, nhưng vẫn thanh thoát, nhịp nhàng, giàu âm
điệu và nhạc điệu gợi cảm
*Tám câu thơ đầu nói về tượng hình Đất Nước, một Đất Nước
hùng vĩ, một giang sơn gấm vóc. Khắp nơi trên mọi miền Đất
Nước ta, ở đâu cũng có những danh lam thắng cảnh.
-Thiên nhiên địa lí được hình thành từ cuộc đời và số phận
của nhân dân:
"Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi
Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái".
Núi Vọng Phu ở Lạng Sơn, Thanh Hóa, Bình
Định…, hòn Trống Mái ở Sầm Sơn: là do "những
người vợ nhớ chồng" hoặc những "cặp vợ chồng yêu
nhau" mà "góp cho", "góp thêm", làm đẹp thêm, tô
điểm cho Đất Nước.
Núi Vọng Phu
Núi Vọng Phu ở Lạng Sơn, Thanh Hóa, Bình Định,... hòn Trống
Mái ở Sầm Sơn không chỉ là vẻ đẹp thiên nhiên mà còn là biểu
tượng cho vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam. Tình yêu
lứa đôi có thắm thiết, tình nghĩa vợ chồng có thủy chung thì Đất
Nước mới có tượng hình kì thú ấy.
-Hai câu thơ tiếp Tác giả ca ngợi vẻ
đẹp của Đất Nước về mặt lịch sử và
truyền thống:
"Gót ngựa của …
… Hùng Vương"
Cái "gót ngựa của Thánh Gióng" đã "để lại" cho
đất nước bao ao đầm ở vùng Hà Bắc ngày nay.
"Chín mươi chín" núi con Voi đã quần tụ, chung
sức chung lòng "góp mình dựng đất tổ Hùng
Vương".. Các từ ngữ: "đi qua còn... để lại", "góp
mình dựng" đã thể hiện một cách bình dị mà tự
hào về sự thiêng liêng của Tổ quốc, về khí phách
anh hùng, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc của
nhân dân ta trong xây dựng và bảo vệ Đất Nước:
-Đất Nước ta Đất Nước ta có núi cao, biển rộng, sông dài
còn có những dòng sông thơ mộng:
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Rồng "nằm im" từ bao đời nay mà quê hương có "dòng sông xanh thẳm"
cho nước ngọt phù sa, nhiều tôm cá, mênh mông biển lúa bốn mùa.) ca
ngợi giang sơn gấm vóc, con người Việt Nam rất đỗi tài hoa?
- Ngắm núi Bút, non Nghiên, Nguyễn Khoa Điềm nghĩ về người
học trò nghèo: về truyền thống hiếu học và tấm lòng tôn sư trọng
đạo của nhân dân ta:
“Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non
"Nghèo" mà vẫn góp cho đất nước ta núi Bút non
Nghiên, làm rạng rỡ nền văn hiến Đại Việt, văn hiến
Việt Nam. Nghèo vật chất mà giàu trí tuệ tài năng.
- Tư tưởng "Đất Nước là của nhân dân" cũng thể hiện trong kì quan
nổi tiếng, những tên tuổi có công với dân với nước:
“Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm”
+Hạ Long trở thành kì quan, thắng cảnh là nhờ có "con cóc, con gà quê hương
cùng góp cho“
+ Và những tên làng, tên núi, tên sông như Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà
Điểm... ở vùng cực Nam Đất nước xa xôi là do những người dân vô danh bình
dị làm nên, đã đem mồ hôi, xương máu bạt rừng, lấn biển, đào kênh, bắt sấu,
bộ hổ... làm nên ? Nhà thơ đã có một cách nói bình dị mà thấm thía ca ngợi
đức tính cần cù, siêng năng, dũng cảm trong lao động sáng tạo của nhân dân
ta, khẳng định nhân dân vô cùng vĩ đại, người chủ nhân đã "làm nên Đất
Nước muôn đời":
Sông Ông Đốc
*Qua cái nhìn của nhà thơ, mỗi danh thắng còn ẩn
chứa nét đẹp tâm hồn của nhân dân:
+ Núi Vọng Phu, hòn Trống Mái biểu tượng cho sự
thuỷ chung, tình nghĩa vợ chồng thắm thiết.
+ Những "ao đầm" mà "gót ngựa Thánh Gióng đi qua"
tượng trưng cho truyền thống yêu nước và sức mạnh
bất khuất của dân tộc.
+ Núi Bút non Nghiên tượng trưng cho truyền thống
hiếu học, vượt khó vươn lên của nhân dân.
+ Những địa danh ở vùng cực Nam đất nước xa xôi
tượng trưng cho tinh thần xả thân vì cộng đồng, đức
tính cần cù, siêng năng, dũng cảm trong lao động sáng
tạo của nhân dân ta.
*Tóm lại: Tám câu thơ với bao địa danh và cổ tích
huyền thoại được nhà thơ nói đến thể hiện niềm tự
hào và biết ơn Đất Nước cùng Nhân dân. Các thi liệu
- hình ảnh: người vợ, cặp vợ chồng, gót ngựa, 99 con
voi, con rồng, người học trò nghèo, con cóc con gà,
những người dân nào... dưới ngòi bút của Nguyễn
Khoa Điềm mang ý nghĩa tượng trưng cho tâm hồn
trung hậu, cho trí tuệ và tài năng, đức tính cần cù và
tinh thần dũng cảm,... của nhân dân ta qua trường kì
lịch sử. Chính nhân dân vĩ đại đã "góp cho", "góp
nên", "để lại", "góp mình", "cùng góp cho", "đã góp
tên",... đã làm cho Đất Nước ngày thêm giàu đẹp.
* Bốn câu thơ cuối đoạn, giọng thơ vang lên say đắm, ngọt ngào. Từ
cụ thể, thơ được nâng lên tầm khái quát, tính chính luận kết hợp một
cách hài hòa với chất trữ tình đằm thắm:sự hóa thân của Nhân Dân
vào bóng hình Đất Nước.
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau 4.000 năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta
+Nhân Dân chính là người đã tạo dựng, đã đặt
tên, ghi dấu ấn cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi,
dòng sông, khắp mọi miền đất nước này:
– Hai câu đầu là khẳng định dáng hình của Nhân Dân
trong không gian Đất Nước “trên khắp ruộng đồng gò
bãi”. Bóng hình ấy của nhân dân không chỉ làm cho
đất nước thêm phần tươi đẹp mà còn mang “một ao
ước, một lối sống cha ông”. Nghĩa là nhân dân không
chỉ góp danh lam thắng cảnh, mà còn góp vào đó
những giá trị tinh thần, là phong tục, tập quán, là
truyền thống văn hóa lưu dấu tới mai sau.
– Hai câu cuối là nhờ “những cuộc đời” đã hóa thân
để góp nên. Nhân Dân không chỉ góp tuổi, góp tên mà
còn góp cả cuộc đời và số phận mình. Ý thơ giản dị mà
sâu sắc khiến ta hình dung Đất Nước thật gần gũi và
thân thuộc.
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
Cánh cò bay lả rập rờn
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều”
(Trích Trường ca “Bài thơ Hắc Hải” – Nguyễn Đình Thi)
***
“Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm!
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
- Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc,
Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn,
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc.
Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng”..
(Tổ Quốc bao giờ đẹp thế này chăng? – Chế Lan Viên)
Tiết 24-25: Văn
I. Tìm hiểu chung:
1. Tác giả:
- Sinh 1943, xã Phong Hoà,
huyện Phong Điền, Thừa Thiên
Huế.
- Xuất thân: trong gia đình có
truyền thống yêu nước và cách
mạng.
- Là một trong những cây bút tiêu
biểu của thế hệ thơ trẻ trong những
năm chống Mĩ.
- Phong cách thơ: Giàu chất suy tư,
xúc cảm dồn nén, mang màu sắc
chính luận.
- Tác phẩm chính:
+ Đất ngoại ô (Tập thơ, 1972)
+ Mặt đường khát vọng (trường ca,
1974)
+ Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (thơ,
1986)
2. Trường ca Mặt đường
khát vọng:
a. Hoàn cảnh sáng tác:
Trường ca Mặt đường khát
vọng được tác giả sáng tác
năm 1971 tại chiến khu Trị Thiên, viết về sự thức tỉnh của
tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiến
miền Nam về non sông, đất
nước, về sứ mệnh của thế hệ
mình, xuống đường đấu tranh
hòa nhịp với cuộc chiến đấu
chống đế quốc Mĩ xâm lược.
- Đoạn trích Đất nước thuộc
phần đầu chương V của
Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong kháng chiến chống Mỹ
trường ca.
3. Đoạn trích:
a. Xuất xứ:
Phần đầu chương V của trường ca “Mặt đường khát
vọng”.
b. Đọc văn bản
c. Bố cục: Gồm hai phần:
- Phần 1: Từ đầu đến “Làm nên đất nước muôn đời”
Những cảm nhận mới mẻ của tác giả về đất nước.
- Phần 2: Còn lại
Tư tưởng “Đất nước của Nhân dân”.
II. Đọc – hiểu văn bản:
1. Nguồn gốc, sự sinh thành và phát triển của đất nước (9
dòng đầu)
“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
……………………………………
Đất Nước có từ ngày đó”.
Truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên
-Hai dòng đầu: ĐN có từ bao giờ?
“Khi ta lớn lên….mẹ thường hay kể”
Đất Nước đã có từ rất lâu, rất xa, từ bao giờ chẳng
biết .Chỉ biết rằng : khi ta cất tiếng khóc chào đời, thì Đất
Nước đã hiện hữu. Đất nước có từ lâu đời: trong thần
thoại, truyền thuyết, cổ tích.. “ ngày xửa, ngày xưa”
-Đất nước gắn liền với nền văn hóa lâu đời của dân tộc:
phong tục, tập quán của người Việt:
“ “Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn,
Tóc mẹ thì búi sau đầu
+Hình ảnh “miếng trầu” đã là một hình tượng nghệ thuật
giàu tính thẩm mỹ từng xuất hiện trong các câu chuyện cổ
tích,ca dao,tục ngữ.“Miếng trầu”là hiện thân của tình yêu
thương, lòng thủy chung của tâm hồn dân tộc
+ Bằng những ý thơ giàu sức liên tưởng , nhà thơ đã
đưa người đọc trở về với những nét đẹp văn hóa một
thời của người phụ nữ Việt Nam bằng hình ảnh “tóc mẹ
búi sau đầu”, gợi tả một nét đẹp thuần phong mỹ tục của
người Việt
-Đất Nước lớn lên trong đau thương vất vả gắn liền với
lịch sử đấu tranh của dân tộc:
“ĐN lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”
Từ truyền thuyết Thành Gióng dân gian đến tác phẩm
thơ văn hiện đại, cây tre đã trở thành biểu tượng cho sức
mạnh tinh thần dân tộc quật cường đánh giặc cứu nước
và giữ nước.
- Trong quá trình trưởng thành, đất nước còn gắn liền
với với đời sống văn hóa tâm linh, Đất nước gắn liền với
quá trình lao động cần cù, những con người sống ân tình thủy chung
“Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên,
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, dần ,sàng…”
+Tác giả đã vận dụng thành ngữ “gừng cay muối mặn” một cách
hết sức tự nhiên, đặc sắc, nhẹ nhàng mà thấm đượm ân tình để
nói lên sự thuỷ chung ở trong con người
+Từ xa xưa, con người đã biết chặt gỗ mà làm nhà. Những ngôi
nhà đó sử dụng kèo, cột giằng giữ vào nhau vững chãi, bền chặt
tránh được mưa gió và thú dữ. Đó cũng chính là ngôi nhà tổ ấm
cho mọi gia đình có thể đoàn tụ, quây quần bên nhau, cùng nhau
chia sẻ niềm vui nỗi buồn; từ đó hình thành nên làng, xóm và Đất
nước
+Hình ảnh thơ còn thể hiện sự cảm nhận về đất nước gắn với
nền văn hóa nông nghiệp lúa nước, lấy hạt gạo làm gia bản…
Nhà thơ vận dụng khéo léo câu thành ngữ “Một nắng hai
sương” để nói lên sự cần cù chăm chỉ của cha ông ta trong lao
động sản xuất. Các động từ “xay – giã – dần – sàng” đó là quy
trình sản xuất ra hạt gạo. Để làm ra được hạt gạo, người nông
dân phải trải qua biết bao tháng ngày nắng sương vất vả gieo
cấy, chăm sóc, xay giã và giần sàng. Thấm vào trong hạt gạo bé
nhỏ ấy là mồ hôi vị mặn nhọc nhằn của người nông dân vất vả
nắng mưa.
-Từ tất cả các yếu tố trên, nhà thơ khẳng định:
“Đất Nước có từ ngày đó…”
“Ngày đó” là ngày nào, chúng ta không hề biết. Chỉ biết rằng
ngày đó chính là ngày ta bắt đầu có truyền thống, có những
phong tục tập quán, có nhiều văn hoá riêng biệt khác với quốc
gia khác. Đó là ngày ta có Đất nước của dân tộc Việt Nam.
*Tóm lại: Bằng việc vận dụng khéo léo và mềm mại các chất
liệu văn hóa dân gian như phong tục ăn trầu, tục búi lệ tóc,
truyền thống đánh giặc ngoại xâm, truyền thống làm nông
nghiệp và các câu ca dao, tục ngữ cùng các thành ngữ…
cùng với ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, Hình ảnh giàu sức liên
tưởng, gợi cảm ,lời thơ nhẹ nhàng đúng giọng thủ thỉ tâm
tình thâm trầm- trang nghiêm, tha thiết, trữ tình, điệp từ “Đất
nước”, tác giả Nguyễn Khoa Điềm đã mang đến cho bạn đọc
một cách nhìn mới mẻ về cội nguồn của đất nước; về vẻ đẹp
của một đất nước giàu văn hóa cổ truyền, đất nước của truyền
thống, của phong tục tươi đẹp. Đất nước gần gũi, thân thương
gắn bó với đời sống con người Việt Nam
2. Đất nước được cảm nhận ở phương diện địa lí và
phương diện lịch sử “ Đất là nơi….. Nhớ ngày giỗ tổ”
*Khái quát: Ở 20 câu thơ này, nhà thơ tiếp tục bày tỏ sự cảm nhận
của mình về đất nước để trả lời cho câu hỏi : Đất nước là gì Câu
hỏi đã được nhà thơ trả lời bằng cách nêu ra những định nghĩa
về đất nước ở hai phương diện : không gian địa lý và thời gian lịch
sử .
a.Về không gian địa lý,- đất nước là nơi sinh sống của mỗi người ,
Là nơi gắn với cuộc sống sinh hoạt hàng ngày
“Đất là nơi…..là nơi em tắm”
Khi DN được tách ra thành 2 thành tố gắn với kỉ niệm đáng yêu
đáng nhớ, thân thuộc với mỗi con người. Tách thành tố Đất để chỉ
con đường hang ngày anh đến trường, ngôi trường cung cấp hành
trang tri thức cho mỗi chúng ta để ta tự tin làm chủ cộc sống. Tách
thành tố Nước là dòng song em tắm mát, chở nặng phù sa làm tốt
xanh những cánh đồng, bãi mía, nương dâu. Cách diễn đạt ấy giúp
ta hình dung cụ thể ĐN là nơi ta lớn lên học tập và sinh hoạt
- Là nơi gắn với kỉ niệm tình yêu đôi lứa:
“Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”
ĐN hoà nhập vào một trở thành kg hẹn hò, nâng bước và minh
chứng cho tình yêu của hai đứa. Nơi trai gái hẹn hò gợi nên
những kg làng quê thanh bình, yên ả. Khi hai đứa yêu nhau thì
ĐN như cũng sống trong nỗi nhớ thầm của hai đứa. Câu thơ đậm
chất ca dao dân ca đặc trưng của văn hoá Việt xưa kia
“Khăn thương nhớ ai…..”
-Là không gian rộng lớn, tráng lệ, hùng vĩ của núi cao, biển cả:
“Đất là nơi….móng nước biển khơi… mênh mông”
+Đất Nước được cảm nhận là“không gian mênh mông”. Có thể
hiểu đó là núi sông, bờ cõi, là Bắc – Trung – Nam một dải. Là
đất nước rừng vàng biển bạc. Trong ấy, bao thế hệ nối tiếp nước
từ dãy Trường Sơn hùng vĩ - "Nơi con chim phượng hoàng bay
về hòn núi bạc” cho đến biển bờ Thái Bình Dương vỗ sóng mênh
mang -nơi "Con cá ngư ông móng nước biển khơi
+Niềm tự hào về đất nước trù phú, giàu đẹp, tài nguyên vô tận
-Đất Nước còn là không gian sinh tồn, nơi phát sinh
và phát triển của cộng đồng người Việt qua biết bao
thế hệ:
“Đất là nơi dân mình đoàn tụ”
“Những ai đã khuất… yêu nhau và sinh con đẻ cái…
để lại”
b. Đất nước được cảm nhận qua phương diện lịch
sử
-Đất nước thiêng liêng hào hùng trong quá khứ “Đất là nơi
chim về…Lạc Long Quân…bọc trứng…giỗ tổ”
+Ở phương diện này, đất nước có cả chiều sâu và bề dày
được nhận thức từ huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ, từ
truyền thuyết Hùng Vương và ngày giỗ Tổ .
+Nguyễn Khoa Điềm với xúc cảm tự hào, ông nhớ lại huyền
tích lung linh về dòng dõi con Rồng cháu Tiên của dân tộc
Lạc Việt. Đó là truyền thuyết:
“Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng “
Truyện cổ “Sự tích một trăm trứng” ra đời từ rất lâu đời
nhằm lý giải xuất xứ của dân tộc Việt Nam. Từ câu chuyện
đó, nhân dân ta mãi mãi tự hào mình là con rồng cháu tiên,
con cháu Vua Hùng.
c) Trên cơ sở đó, nhà thơ đã thức dậy lòng yêu nước, niềm
tự hào về dòng máu Lạc Hồng, dòng máu con rồng cháu tiên,
nhắc nhở thế hệ trẻ phải biết kế tục truyền thống của cha
ông, của Đất Nước(Đoạn thơ: Những ai đã khuất… giỗ tổ)
Những ai đã khuất
Những ai bây giờ
Yêu nhau và sinh con đẻ cái
Gánh vác phần người đi trước để lại
Dặn dò con cháu chuyện mai sau
- Yêu nước, lớp lớp con cháu người Việt nối bước cha ông, gánh
vác trên vai trách nhiệm xây dựng và bảo vệ đất nước.
- Cảm xúc và suy tư, trữ tình và chính luận khiến những câu thơ
trên có sức lay động lớn đến tâm hồn người đọc về ý thức trách
nhiệm của mỗi chúng ta: Dù người mất hay còn thì truyền thống
dân tộc, đạo đức cha ông, các thế hệ con cháu phải có trách
nhiệm kế thừa và phát huy.
Hàng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ
- Hai chữ “cúi đầu” thể tình cảm thành kính, thiêng liêng, chạm
vào tình cảm cội nguồn, khơi dậy trong lòng người truyền thuyết
vua Hùng dựng nước. Xúc động và đáng trân trọng biết bao thái
độ thành kính của nhà thơ hướng về quá khứ, cội nguồn của
dân tộc. Cúi đầu để hướng về lịch sử về Tổ Hùng Vương đã góp
công dựng nên nước nhà Âu Lạc mà nay là nước Việt Nam hùng
cường sánh vai bốn bể năm châu. Người Việt mình dù đi khắp thế
giới nhưng trong tâm linh của họ luôn có một ngôi nhà chung để
quay về. Đó chính là Quê cha đất Tổ Vua Hùng.
Tóm lại
-Bằng cảm nhận rất đỗi thân thương, gần gũi, Nguyễn Khoa Điềm
đã mang đến cho chúng ta một hình ảnh Đất Nước bình dị
nhưng không kém phần tươi đẹp. Đọc đoạn thơ nói riêng và bài
thơ nói chung, ta cảm nghe như cội nguồn dân tộc, cội nguồn văn
hóa đang thấm vào tận từng mạch hồn ta, dòng máu ta. Điều đó
càng làm ta thêm yêu thêm quý quê hương Tổ quốc mình.
-Nguyễn Khoa Điềm, qua đoạn thơ trên, đã nêu những định
nghĩa đa dạng, phong phú về đất nước, từ chiều sâu của văn
hóa văn tộc, chiều dài của thời gian lịch sử đến chiều rộng
của không gian đất nước. Nhà thơ cũng vận dụng rộng rãi các
chất liêu văn hóa dân gian, từ truyền thuyết lịch sử, phong tục, tập
quán đến sinh hoạt, lao động của dân tộc ta, kết hợp với những
hình ảnh, ngôn ngữ nghệ thuật đậm đà tính dân tộc và giàu chất
trí tuệ.
2 .Lời nhắn nhủ về sự gắn bó và trách nhiệm đối với Đất Nước: 13
câu tiếp
“ Trong anh và em hôm nay
………………………………
Làm nên Đất Nước muôn đời”.
*Khái quát: Đọan thơ sau đây là những lời nhắn nhủ tâm tình về sự gắn
bó và trách nhiệm của mỗi người với đất nước :
“ Trong anh và em hôm nay,
Đều có một phần Đất Nước
………………………………
Làm nên Đất Nước muôn đời”.
-Đất nước đã hóa thân vào mỗi con người
“ Trong anh và em hôm nay,
Đều có một phần Đất Nước”.
Đất nước đã hóa thân vào mỗi con người, bởi chúng ta đều là con
Rồng, cháu Tiên, đều sinh ra và lớn lên trên đất nước này.Mỗi người Việt
Nam đều đã và đang thừa hưởng những giá trị vật chất, tinh thần của
đất nước thành máu thịt, tâm hồn, nếp cảm,nếp nghĩ và cách sống của
mình. ĐN giản dị, gần gũi trong hiện tại.
- Từ việc khẳng định: đất nước hóa thân và kết tinh trong cuộc sống của
mỗi người,nhà thơ tiếp tục nói về mối quan hệ gắn bó sâu sắc của mỗi
người với đất nước bằng những dòng thơ giàu chất chính luận :
“Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn, to lớn”.
-Với những cảm nhận tinh tế, mới mẻ về sự hòa quyện giữa cái riêng và
cái chung, giữa tình yêu và niềm tin, đồng thời kết hợp sử dụng các tính
từ “hài hòa, nồng thắm”; “vẹn tròn, to lớn” đi liền nhau; đặc biệt là kiểu
câu cấu tạo theo hai cặp đối xứng về ngôn từ (“Khi /Khi; Đất
Nước / Đất Nước),nhà thơ muốn gửi đến cho người đọc bức thông
điệp: đất nước là sự thống nhất hài hòa giữa tình yêu đôi lứa với tình
yêu Tổ quốc, giữa cá nhân với cộng đồng. ĐN được xd trên cơ sở của
tình yêu thương và tình đoàn kết của dân tộc.
-Không chỉ khẳng định mối quan hệ gắn bó giữa Đất nước và nhân dân,
giữa tình yêu cá nhân với tình yêu lớn của đất nước; nhà thơ còn thể
hiện niềm tin mãnh liệt vào tương lai tươi sáng của đất nước :
“Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng”.
Có thể nói, ba dòng thơ đã mở ra một tầng ý nghĩa mới, đó là niềm tin
mãnh liệt vào tương lai tươi sáng của đất nước.
Thế hệ sau “con ta lớn lên sẽ mang Đất Nước đi xa- Đến những tháng
ngày mơ mộng”.Đất nước sẽ đẹp hơn, những tháng ngày mơ mộng ở
hiện tại sẽ trở thành hiện thực ở ngày mai.
- Khi đã hiểu hết ý nghĩa thiêng liêng của đất nước, nhà thơ muốn nhắn
gửi với mọi người : Trách nhiệm với đât nước
“ Em ơi em Đất nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời…”
Điệp ngữ, kết cấu câu mệnh lệnh,giàu tính chính luận. Lời thơ
nhẹ nhàng, tha thiết nhắc nhở chính mình và nhắn gửi mọi người
phải có trách nhiệm đối đất nước, giữ gìn đất nước mãi trường
tồn.
*Bằng giọng thơ trữ tình kết hợp với chính luận; bằng cách sử dụng câu
cầu khiến, điệp ngữ “phải biết - phải biết” nhắc lại hai lần cùng các động
từ mạnh “gắn bó, san sẻ, hóa thân” …nhà thơ như nhắn nhủ mình,
nhưng cũng là nhắn nhủ với mọi người ( nhất là thế hệ trẻ) về trách
nhiệm thiêng liêng của mình với đất nước. Cái hay là lời nhắn nhủ mang
tính chính luận nhưng lại không giáo huấn mà vẫn rất trữ tình, tha thiết
như lời tự dặn mình - dặn người của nhà thơ.
4. Ca ngợi Đất Nước hùng vĩ, ca ngợi vẻ đẹp của Nhân dân
“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nướcnhững núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau còn góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên
Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng, gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ước ao, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hoá núi sông ta…”
*Khái quát: Đoạn thơ 12 câu này trích trong phần II bài "Đất
Nước" đã ca ngợi Đất Nước hùng vĩ, tự hào khẳng định những
phẩm chất cao đẹp của nhân dân ta, dân tộc ta. Câu thơ mở rộng
đến 13, 14, 15 từ, nhưng vẫn thanh thoát, nhịp nhàng, giàu âm
điệu và nhạc điệu gợi cảm
*Tám câu thơ đầu nói về tượng hình Đất Nước, một Đất Nước
hùng vĩ, một giang sơn gấm vóc. Khắp nơi trên mọi miền Đất
Nước ta, ở đâu cũng có những danh lam thắng cảnh.
-Thiên nhiên địa lí được hình thành từ cuộc đời và số phận
của nhân dân:
"Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi
Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái".
Núi Vọng Phu ở Lạng Sơn, Thanh Hóa, Bình
Định…, hòn Trống Mái ở Sầm Sơn: là do "những
người vợ nhớ chồng" hoặc những "cặp vợ chồng yêu
nhau" mà "góp cho", "góp thêm", làm đẹp thêm, tô
điểm cho Đất Nước.
Núi Vọng Phu
Núi Vọng Phu ở Lạng Sơn, Thanh Hóa, Bình Định,... hòn Trống
Mái ở Sầm Sơn không chỉ là vẻ đẹp thiên nhiên mà còn là biểu
tượng cho vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam. Tình yêu
lứa đôi có thắm thiết, tình nghĩa vợ chồng có thủy chung thì Đất
Nước mới có tượng hình kì thú ấy.
-Hai câu thơ tiếp Tác giả ca ngợi vẻ
đẹp của Đất Nước về mặt lịch sử và
truyền thống:
"Gót ngựa của …
… Hùng Vương"
Cái "gót ngựa của Thánh Gióng" đã "để lại" cho
đất nước bao ao đầm ở vùng Hà Bắc ngày nay.
"Chín mươi chín" núi con Voi đã quần tụ, chung
sức chung lòng "góp mình dựng đất tổ Hùng
Vương".. Các từ ngữ: "đi qua còn... để lại", "góp
mình dựng" đã thể hiện một cách bình dị mà tự
hào về sự thiêng liêng của Tổ quốc, về khí phách
anh hùng, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc của
nhân dân ta trong xây dựng và bảo vệ Đất Nước:
-Đất Nước ta Đất Nước ta có núi cao, biển rộng, sông dài
còn có những dòng sông thơ mộng:
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Rồng "nằm im" từ bao đời nay mà quê hương có "dòng sông xanh thẳm"
cho nước ngọt phù sa, nhiều tôm cá, mênh mông biển lúa bốn mùa.) ca
ngợi giang sơn gấm vóc, con người Việt Nam rất đỗi tài hoa?
- Ngắm núi Bút, non Nghiên, Nguyễn Khoa Điềm nghĩ về người
học trò nghèo: về truyền thống hiếu học và tấm lòng tôn sư trọng
đạo của nhân dân ta:
“Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non
"Nghèo" mà vẫn góp cho đất nước ta núi Bút non
Nghiên, làm rạng rỡ nền văn hiến Đại Việt, văn hiến
Việt Nam. Nghèo vật chất mà giàu trí tuệ tài năng.
- Tư tưởng "Đất Nước là của nhân dân" cũng thể hiện trong kì quan
nổi tiếng, những tên tuổi có công với dân với nước:
“Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm”
+Hạ Long trở thành kì quan, thắng cảnh là nhờ có "con cóc, con gà quê hương
cùng góp cho“
+ Và những tên làng, tên núi, tên sông như Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà
Điểm... ở vùng cực Nam Đất nước xa xôi là do những người dân vô danh bình
dị làm nên, đã đem mồ hôi, xương máu bạt rừng, lấn biển, đào kênh, bắt sấu,
bộ hổ... làm nên ? Nhà thơ đã có một cách nói bình dị mà thấm thía ca ngợi
đức tính cần cù, siêng năng, dũng cảm trong lao động sáng tạo của nhân dân
ta, khẳng định nhân dân vô cùng vĩ đại, người chủ nhân đã "làm nên Đất
Nước muôn đời":
Sông Ông Đốc
*Qua cái nhìn của nhà thơ, mỗi danh thắng còn ẩn
chứa nét đẹp tâm hồn của nhân dân:
+ Núi Vọng Phu, hòn Trống Mái biểu tượng cho sự
thuỷ chung, tình nghĩa vợ chồng thắm thiết.
+ Những "ao đầm" mà "gót ngựa Thánh Gióng đi qua"
tượng trưng cho truyền thống yêu nước và sức mạnh
bất khuất của dân tộc.
+ Núi Bút non Nghiên tượng trưng cho truyền thống
hiếu học, vượt khó vươn lên của nhân dân.
+ Những địa danh ở vùng cực Nam đất nước xa xôi
tượng trưng cho tinh thần xả thân vì cộng đồng, đức
tính cần cù, siêng năng, dũng cảm trong lao động sáng
tạo của nhân dân ta.
*Tóm lại: Tám câu thơ với bao địa danh và cổ tích
huyền thoại được nhà thơ nói đến thể hiện niềm tự
hào và biết ơn Đất Nước cùng Nhân dân. Các thi liệu
- hình ảnh: người vợ, cặp vợ chồng, gót ngựa, 99 con
voi, con rồng, người học trò nghèo, con cóc con gà,
những người dân nào... dưới ngòi bút của Nguyễn
Khoa Điềm mang ý nghĩa tượng trưng cho tâm hồn
trung hậu, cho trí tuệ và tài năng, đức tính cần cù và
tinh thần dũng cảm,... của nhân dân ta qua trường kì
lịch sử. Chính nhân dân vĩ đại đã "góp cho", "góp
nên", "để lại", "góp mình", "cùng góp cho", "đã góp
tên",... đã làm cho Đất Nước ngày thêm giàu đẹp.
* Bốn câu thơ cuối đoạn, giọng thơ vang lên say đắm, ngọt ngào. Từ
cụ thể, thơ được nâng lên tầm khái quát, tính chính luận kết hợp một
cách hài hòa với chất trữ tình đằm thắm:sự hóa thân của Nhân Dân
vào bóng hình Đất Nước.
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau 4.000 năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta
+Nhân Dân chính là người đã tạo dựng, đã đặt
tên, ghi dấu ấn cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi,
dòng sông, khắp mọi miền đất nước này:
– Hai câu đầu là khẳng định dáng hình của Nhân Dân
trong không gian Đất Nước “trên khắp ruộng đồng gò
bãi”. Bóng hình ấy của nhân dân không chỉ làm cho
đất nước thêm phần tươi đẹp mà còn mang “một ao
ước, một lối sống cha ông”. Nghĩa là nhân dân không
chỉ góp danh lam thắng cảnh, mà còn góp vào đó
những giá trị tinh thần, là phong tục, tập quán, là
truyền thống văn hóa lưu dấu tới mai sau.
– Hai câu cuối là nhờ “những cuộc đời” đã hóa thân
để góp nên. Nhân Dân không chỉ góp tuổi, góp tên mà
còn góp cả cuộc đời và số phận mình. Ý thơ giản dị mà
sâu sắc khiến ta hình dung Đất Nước thật gần gũi và
thân thuộc.
 








Các ý kiến mới nhất