Bài 6. Công dân với các quyền tự do cơ bản
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Thị Thanh Nhàn
Ngày gửi: 15h:42' 25-10-2012
Dung lượng: 5.5 KB
Số lượt tải: 114
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Thị Thanh Nhàn
Ngày gửi: 15h:42' 25-10-2012
Dung lượng: 5.5 KB
Số lượt tải: 114
Số lượt thích:
0 người
Trường THCS Minh Ngọc - Bắc Mê - Hà Giang
phim minh hoa
Mục 2:
TIẾT 14, BÀI 6 CÔNG DÂN VỚI CÁC QUYỀN TỰ DO CƠ BẢN Mục 3:
Quyền tự do cơ bản của CD là chế định pháp lí cơ bản của luật hiến pháp, xác định địa vị pháp lí của công dân trong mối quan hệ với nhà nước và xã hội, là cơ sở để xác định các quyền và nghĩa vụ khác của công dân ở mọi cấp độ và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. - Các quyền này được gọi là quyền tự do cơ bản vì: Các quyền này quy định mối quan hệ cơ bản giữa nhà nước và CD. Các quyền này được ghi nhận trong Hiến Pháp – luật cơ bản của nhà nước. Mục 4:
I/Các quyền tự do cơ bản của công dân phim mở dầu:
Mục 9:
I/ Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân a/ Khái niệm: Mục 5: tình huóng
Tình huống: Ông A mất chiếc xe máy và khẩn cấp trình báo với công an xã. Trong việc này, ông A khẳng định anh X là người lấy cắp. Dựa vào lời khai báo của ông A công an xã đã ngay lập tức bắt anh X. Việc làm của công an xã là vi phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân. Hỏi: Tại sao việc làm này của công an xã là vi phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân? hiến pháp:
Điều 71 Hiến Pháp 1992 "...Không ai bị bắt nếu không có quyết định của tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang..." Mục 6: Khái niệm
b/ Nội dung : Có phải trong mọi trường hợp, công an đều có quyền bắt người không? Thế nào là hành vi bắt giữ người trái phép? Vậy có khi nào pháp luật cho phép bắt người không? Mục 7:
Trường hợp 1: Viện Kiểm sát, Tòa án trong phạm vi thẩm quyền mà pháp luật cho phép có quyền quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam, khi có căn cứ xác đáng chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội. Bị can, bị cáo là đối tượng áp dụng biện pháp ngăn chặn, có thể bị bắt tạm giam trong trường hợp có một trong các căn cứ sau đây được quy định tại Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 - Phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng (đặc biệt nghiêm trọng: 15 năm tù -> chung thân, tử hình; rất nghiêm trọng đến 15 năm tù). - Phạm tội nghiêm trọng (7 năm tù). - Phạm tội ít nghiêm trọng (trên 2 năm tù, cao nhất 3 năm tù). Mục 8:
Khoản 1 ĐIều 80 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003: Thẩm quyền ra lệnh bắt tạm giam bị can, bị cáo Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, VKS quân sự các cấp. Chánh án, Phó chánh án Toà án nhân dân và toà án quân sự các cấp Thẩm phán giữ chức vụ chánh tòa, phó chánh án tòa phúc thẩm TAND tối cao, hội đồng xét xử Thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp. (Lệnh bắt phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành) phim minh hoa băt nguoi
Mục 10:
trường hợp 2::
Trường hợp 2: Bắt người trong trường hợp khẩn cấp Nêu những quy định bắt người trong trường hợp khẩn cấp? Căn cứ phải xác đáng, không dựa trên suy đoán vô lí. Các cơ quan có thẩm quyền qua kiểm tra, xác minh các nguồn tin và xác định rõ ràng là người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm. Tội phạm đang chuẩn bị thực hiện là tội phạm rất nghiệm trọng( khung hình phạt cao nhất là 15 năm tù) hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng ( mức cao nhất của khung hình phạt là trên 15 năm tù, tù trung thân hoặc tử hình) căn cứ 2:
Bắt người trong trường hợp khẩn cấp thứ hai cần phải có hai điều kiện: Thứ nhất: Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm Thứ hai: Cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn Bắt người trong trường hợp khẩn cấp thứ ba cần phải có đủ hai điều kiện: Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại nơi ở của người bị nghi là thực hiện thực hiện tội phạm. Dấu vết tội phạm là dấu vết liên quan đến đến tội phạm đã được thực hiện như công cụ, phương tiện tội phạm, các dấu vết còn lưu lại trên thân thể, quần áo ... Xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ. Mục 5:
Thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp Người chỉ huy ĐV quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương, người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới. Người chỉ huy tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng. Khoản 2 Điều 81 Bộ Luật tố tụng hình sự quy định tư liệu tham khảo:
Điều 81. Bắt người trong trường hợp khẩn cấp 4. Trong mọi trường hợp, việc bắt khẩn cấp phải được báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê chuẩn. Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Nếu Viện kiểm sát quyết định không phê chuẩn thì người đã ra lệnh bắt phải trả tự do ngay cho người bị bắt. minh họa bắt người khẩn cấp:
Bắt khẩn cấp Lê Công Định 13:44:00 13/06/2009 Lê Công Định khi nghe lệnh bắt trường hợp 3:
Trường hợp 3: Thế nào là bắt người đang phạm tội quả tang? Thế nào là bắt người đang bị truy nã? tltk bắt người đang phạm tội quả tang:
Điều 82. Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, cũng như người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Uỷ ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền. câu hỏi thảo luận:
Thảo luận nhóm ( 3 phút) Tại sao pháp luật lại cho phép bắt người trong những trường hợp trên ? PL cho phép bắt người trong 3 trường hợp đó nhằm: Giữ gìn trật tự, an ninh, để điều tra tội phạm, để ngăn chặn tội phạm. ý nghĩa:
*Ý nghĩa BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM- CỦNG CỐ:
Em đồng ý với ý kiến nào sau đây:
A. Trong mọi trường hợp không ai có thể bị bắt.
B. Trong mọi trường hợp chỉ được bắt người khi có quyết định của tào án.
C. Chỉ được bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang.
D. Việc bắt giữ người phải tuân theo quy định của pháp luật.
tình huống:
Do có chuyện hiểu lầm nhau nên H và T đã cãi nhau to tiếng và xô xát nhẹ. Khi đó đã có mấy người cùng thôn đến xem và chia thành hai phe cổ vũ cho hai bên. Ông trưởng công an xã biết chuyện này nên đã cho người đến bắt H và T về trụ sở Ủy ban, trói và giam trong phòng kín 13 giờ liền mà không có quyết định bằng văn bản. Trong thời gian bị giam giữ, H và T không được tiếp xúc với gia đình và không được ăn. Vì quá căng thẳng trong thời gian bị giam giữ nên sau khi bị thả thì cả hai đều bị ốm. Hỏi: Hành vi của ông trưởng công an xã có bị coi là trái PL không ? Vì sao? Mục 11:
- Hành vi của Trưởng công an xã là vi phạm pháp luật. Xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân. - Vì: Trường hợp của H và T chưa đến mức phải bắt giam Bắt giam người nhưng không có quyết định bằng văn bản Không cho người bị giam ăn, làm tổn hại tới sức khỏe của họ
phim minh hoa
Mục 2:
TIẾT 14, BÀI 6 CÔNG DÂN VỚI CÁC QUYỀN TỰ DO CƠ BẢN Mục 3:
Quyền tự do cơ bản của CD là chế định pháp lí cơ bản của luật hiến pháp, xác định địa vị pháp lí của công dân trong mối quan hệ với nhà nước và xã hội, là cơ sở để xác định các quyền và nghĩa vụ khác của công dân ở mọi cấp độ và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. - Các quyền này được gọi là quyền tự do cơ bản vì: Các quyền này quy định mối quan hệ cơ bản giữa nhà nước và CD. Các quyền này được ghi nhận trong Hiến Pháp – luật cơ bản của nhà nước. Mục 4:
I/Các quyền tự do cơ bản của công dân phim mở dầu:
Mục 9:
I/ Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân a/ Khái niệm: Mục 5: tình huóng
Tình huống: Ông A mất chiếc xe máy và khẩn cấp trình báo với công an xã. Trong việc này, ông A khẳng định anh X là người lấy cắp. Dựa vào lời khai báo của ông A công an xã đã ngay lập tức bắt anh X. Việc làm của công an xã là vi phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân. Hỏi: Tại sao việc làm này của công an xã là vi phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân? hiến pháp:
Điều 71 Hiến Pháp 1992 "...Không ai bị bắt nếu không có quyết định của tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang..." Mục 6: Khái niệm
b/ Nội dung : Có phải trong mọi trường hợp, công an đều có quyền bắt người không? Thế nào là hành vi bắt giữ người trái phép? Vậy có khi nào pháp luật cho phép bắt người không? Mục 7:
Trường hợp 1: Viện Kiểm sát, Tòa án trong phạm vi thẩm quyền mà pháp luật cho phép có quyền quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam, khi có căn cứ xác đáng chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội. Bị can, bị cáo là đối tượng áp dụng biện pháp ngăn chặn, có thể bị bắt tạm giam trong trường hợp có một trong các căn cứ sau đây được quy định tại Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 - Phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng (đặc biệt nghiêm trọng: 15 năm tù -> chung thân, tử hình; rất nghiêm trọng đến 15 năm tù). - Phạm tội nghiêm trọng (7 năm tù). - Phạm tội ít nghiêm trọng (trên 2 năm tù, cao nhất 3 năm tù). Mục 8:
Khoản 1 ĐIều 80 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003: Thẩm quyền ra lệnh bắt tạm giam bị can, bị cáo Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, VKS quân sự các cấp. Chánh án, Phó chánh án Toà án nhân dân và toà án quân sự các cấp Thẩm phán giữ chức vụ chánh tòa, phó chánh án tòa phúc thẩm TAND tối cao, hội đồng xét xử Thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp. (Lệnh bắt phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành) phim minh hoa băt nguoi
Mục 10:
trường hợp 2::
Trường hợp 2: Bắt người trong trường hợp khẩn cấp Nêu những quy định bắt người trong trường hợp khẩn cấp? Căn cứ phải xác đáng, không dựa trên suy đoán vô lí. Các cơ quan có thẩm quyền qua kiểm tra, xác minh các nguồn tin và xác định rõ ràng là người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm. Tội phạm đang chuẩn bị thực hiện là tội phạm rất nghiệm trọng( khung hình phạt cao nhất là 15 năm tù) hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng ( mức cao nhất của khung hình phạt là trên 15 năm tù, tù trung thân hoặc tử hình) căn cứ 2:
Bắt người trong trường hợp khẩn cấp thứ hai cần phải có hai điều kiện: Thứ nhất: Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm Thứ hai: Cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn Bắt người trong trường hợp khẩn cấp thứ ba cần phải có đủ hai điều kiện: Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại nơi ở của người bị nghi là thực hiện thực hiện tội phạm. Dấu vết tội phạm là dấu vết liên quan đến đến tội phạm đã được thực hiện như công cụ, phương tiện tội phạm, các dấu vết còn lưu lại trên thân thể, quần áo ... Xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ. Mục 5:
Thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp Người chỉ huy ĐV quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương, người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới. Người chỉ huy tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng. Khoản 2 Điều 81 Bộ Luật tố tụng hình sự quy định tư liệu tham khảo:
Điều 81. Bắt người trong trường hợp khẩn cấp 4. Trong mọi trường hợp, việc bắt khẩn cấp phải được báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê chuẩn. Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Nếu Viện kiểm sát quyết định không phê chuẩn thì người đã ra lệnh bắt phải trả tự do ngay cho người bị bắt. minh họa bắt người khẩn cấp:
Bắt khẩn cấp Lê Công Định 13:44:00 13/06/2009 Lê Công Định khi nghe lệnh bắt trường hợp 3:
Trường hợp 3: Thế nào là bắt người đang phạm tội quả tang? Thế nào là bắt người đang bị truy nã? tltk bắt người đang phạm tội quả tang:
Điều 82. Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, cũng như người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Uỷ ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền. câu hỏi thảo luận:
Thảo luận nhóm ( 3 phút) Tại sao pháp luật lại cho phép bắt người trong những trường hợp trên ? PL cho phép bắt người trong 3 trường hợp đó nhằm: Giữ gìn trật tự, an ninh, để điều tra tội phạm, để ngăn chặn tội phạm. ý nghĩa:
*Ý nghĩa BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM- CỦNG CỐ:
Em đồng ý với ý kiến nào sau đây:
A. Trong mọi trường hợp không ai có thể bị bắt.
B. Trong mọi trường hợp chỉ được bắt người khi có quyết định của tào án.
C. Chỉ được bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang.
D. Việc bắt giữ người phải tuân theo quy định của pháp luật.
tình huống:
Do có chuyện hiểu lầm nhau nên H và T đã cãi nhau to tiếng và xô xát nhẹ. Khi đó đã có mấy người cùng thôn đến xem và chia thành hai phe cổ vũ cho hai bên. Ông trưởng công an xã biết chuyện này nên đã cho người đến bắt H và T về trụ sở Ủy ban, trói và giam trong phòng kín 13 giờ liền mà không có quyết định bằng văn bản. Trong thời gian bị giam giữ, H và T không được tiếp xúc với gia đình và không được ăn. Vì quá căng thẳng trong thời gian bị giam giữ nên sau khi bị thả thì cả hai đều bị ốm. Hỏi: Hành vi của ông trưởng công an xã có bị coi là trái PL không ? Vì sao? Mục 11:
- Hành vi của Trưởng công an xã là vi phạm pháp luật. Xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân. - Vì: Trường hợp của H và T chưa đến mức phải bắt giam Bắt giam người nhưng không có quyết định bằng văn bản Không cho người bị giam ăn, làm tổn hại tới sức khỏe của họ
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓

Các ý kiến mới nhất