Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

giáo đục địa phương thành phố đà nẵng lớp 7 Chủ đề 1 dà nẵng từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: trần ngọc huy
Ngày gửi: 19h:32' 23-04-2026
Dung lượng: 103.9 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích: 0 người
CHỦ ĐỀ 1
Đà Nẵng từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI

NỘI DUNG BÀI
I.Địa giới Đà Nẵng từ thế kỉ X đến thể kỉ XVI và
Tên gọi Đà Nẵng
a)Địa giới Đà Nẵng từ thế kỉ X đến thể kỉ XVI
b)Tên gọi Đà Nẵng
II. quá trình khai hoang, lập làng ở Đà Nẵng XIV
đến thế kỉ XVI

NỘI DUNG BÀI
I.Địa giới Đà Nẵng từ thế kỉ X đến thể kỉ XVI
và Tên gọi Đà Nẵng
a)Địa giới Đà Nẵng từ thế kỉ X đến thể kỉ XVI
b)Tên gọi Đà Nẵng
II. quá trình khai hoang, lập làng ở Đà Nẵng XIV
đến thế kỉ XVI

NỘI DUNG BÀI
I.Địa giới Đà Nẵng từ thế kỉ X đến thể kỉ XVI và
Tên gọi Đà Nẵng
a)Địa giới Đà Nẵng từ thế kỉ X đến thể kỉ
XVI
b)Tên gọi Đà Nẵng
II. quá trình khai hoang, lập làng ở Đà Nẵng XIV

A)ĐỊA GIỚI ĐÀ NẴNG TỪ
THẾ KỈ X ĐẾN THỂ KỈ XVI
Năm 1306, vua Champa là
Jaya Sinhavarman III (người
Việt gọi là Chế Mân) đã dâng
hai châu Ô và châu Lý (châu
Rí) làm sính lễ để xin cưới công
chúa Huyền Trân của Đại Việt.
Đây là một cuộc hôn nhân
mang tính chính trị, vừa giúp
Champa củng cố quan hệ hòa
hiếu với Đại Việt, vừa tạo điều
kiện để Đại Việt mở rộng lãnh
thổ về phía Nam. Sự kiện này
có ý nghĩa quan trọng trong quá
trình Nam tiến của dân tộc Việt,
góp phần làm thay đổi phạm vi
lãnh thổ và tăng cường sức
mạnh của quốc gia.

NỘI DUNG BÀI
I.Địa giới Đà Nẵng từ thế kỉ X đến thể kỉ XVI và
Tên gọi Đà Nẵng
a)Địa giới Đà Nẵng từ thế kỉ X đến thể kỉ
XVI
b)Tên gọi Đà Nẵng
II. quá trình khai hoang, lập làng ở Đà Nẵng XIV

NỘI DUNG BÀI
I.Địa giới Đà Nẵng từ thế kỉ X đến thể kỉ XVI và
Tên gọi Đà Nẵng
a)Địa giới Đà Nẵng từ thế kỉ X đến thể kỉ XVI
b)Tên gọi Đà Nẵng
II. quá trình khai hoang, lập làng ở Đà Nẵng XIV
đến thế kỉ XVI

B)TÊN GỌI ĐÀ
NẴNG

Sau khi tiếp nhận châu Ô và châu Lí, vua
Trần Anh Tông đã đổi tên thành Thuận Châu
và Hóa Châu; vùng Đà Nẵng ngày nay khi
đó thuộc Hóa Châu. Đến năm 1471, dưới
thời vua Lê Thánh Tông, lãnh thổ Đại Việt
được mở rộng đến Phú Yên và lập thêm đạo
thừa tuyên Quảng Nam, trở thành đạo thứ
13 của cả nước. Từ đó, vùng đất Đà Nẵng
thuộc huyện Điện Bàn và phát triển trong
điều kiện hòa bình, ổn định. Tuy nhiên, từ
thời điểm này đến đầu thế kỉ XVII, huyện
Điện Bàn vẫn còn thuộc phủ Triệu Phong,
đạo thừa tuyên Thuận Hóa.

I.ĐỊA GIỚI ĐÀ NẴNG TỪ
THẾ KỈ X ĐẾN THỂ KỈ XVI

TÊN
GỌI
ĐÀ
NẴNG
A
Từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XIV, vùng đất Đà Nẵng
thuộc lãnh thổ của Champa. Năm 1306, sau cuộc
hôn nhân giữa công chúa Huyền Trân và vua Jaya
Sinhavarman III, hai châu Ô và Lí được sáp nhập
vào Đại Việt. Vua Trần Anh Tông đổi tên thành Thuận
Châu và Hóa Châu, trong đó Đà Nẵng thuộc Hóa
Châu. Đến năm 1471, dưới thời Lê Thánh Tông, lãnh
thổ Đại Việt mở rộng đến Phú Yên và lập đạo thừa
tuyên Quảng Nam; từ đó Đà Nẵng thuộc huyện Điện
Bàn và được phát triển trong điều kiện hòa bình, ổn
định, dù về hành chính vẫn trực thuộc hệ thống của
Thuận Hóa trong một thời gian dài.

B

Tên gọi Đà Nẵng có nguồn gốc từ tiếng
Chăm cổ, với dạng “Da Nak”, mang ý nghĩa
là “cửa sông lớn” hoặc “vùng nước rộng”,
phản ánh đặc điểm địa lí của khu vực nằm ở
cửa sông đổ ra biển. Trong lịch sử, vùng đất
này còn có những tên gọi khác như Cửa
Hàn (gắn với sông Hàn) và Tourane (tên do
người Pháp đặt trong thời kì thuộc địa).
Những tên gọi này cho thấy sự giao thoa
văn hóa và vai trò quan trọng của Đà Nẵng
như một cửa ngõ giao thương qua nhiều
thời kì lịch sử.

CÂU HỎI

TRẢ LỜI
1. Những mốc thời gian đánh dấu sự thay đổi địa giới hành chính Đà Nẵng (thế kỉ
X – XVI):
• Từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XIV: vùng Đà Nẵng thuộc lãnh thổ Champa.
• Năm 1306: vua Jaya Sinhavarman III dâng châu Ô và châu Lí cho Đại Việt.
• Sau năm 1306: vua Trần Anh Tông đổi tên thành Thuận Châu và Hóa Châu; Đà
Nẵng thuộc Hóa Châu.
• Năm 1471: dưới thời Lê Thánh Tông, lập đạo thừa tuyên Quảng Nam; Đà Nẵng
thuộc huyện Điện Bàn, đạo Quảng Nam.
• Từ thế kỉ XV đến XVI: khu vực này phát triển ổn định nhưng vẫn chịu sự quản
lí hành chính của hệ thống Thuận Hóa trong một thời gian.
2. Tên gọi Đà Nẵng bắt nguồn từ đâu và có ý nghĩa gì?
Tên Đà Nẵng bắt nguồn từ tiếng Chăm cổ “Da Nak”, có nghĩa là “cửa sông lớn”
hoặc “vùng nước rộng”, phản ánh đặc điểm địa lí của vùng đất nằm ở cửa sông
đổ ra biển. Trong lịch sử, Đà Nẵng còn có các tên gọi khác như Cửa Hàn và
Tourane (thời Pháp), cho thấy sự giao thoa văn hóa và vai trò quan trọng của
vùng đất này.

NỘI DUNG BÀI
I.Địa giới Đà Nẵng từ thế kỉ X đến thể kỉ XVI và
Tên gọi Đà Nẵng
a)Địa giới Đà Nẵng từ thế kỉ X đến thể kỉ XVI
b)Tên gọi Đà Nẵng
II. quá trình khai hoang, lập làng ở Đà Nẵng XIV
đến thế kỉ XVI

NỘI DUNG BÀI
I.Địa giới Đà Nẵng từ thế kỉ X đến thể kỉ XVI và
Tên gọi Đà Nẵng
a)Địa giới Đà Nẵng từ thế kỉ X đến thể kỉ XVI
b)Tên gọi Đà Nẵng
II. quá trình khai hoang, lập làng ở Đà Nẵng
XIV đến thế kỉ XVI

1

QUÁ TRÌNH KHAI HOANG, LẬP
LÀNG Ở ĐÀ NẴNG XIV ĐẾN THẾ
Quá trình khai hoang, lập làng KỈ
và ổn XVI
định đời sống: Sau thế kỉ XIV, đặc biệt sau năm
1471, Đà Nẵng trở thành một phần của Đại Việt, cư dân tiến hành khai hoang, lập làng.
Vùng đất nhanh chóng ổn định, hình thành nhiều làng xã và đời sống cộng đồng đoàn kết.

2

Hình thành và phát triển các làng xã, ngành nghề: Nhiều làng như Hải Châu,
Nam Ô, Mỹ Khê… được xây dựng, trong đó một số nơi phát triển thêm nghề thủ
công, ngư nghiệp và hoạt động buôn bán, tạo nên diện mạo kinh tế đa dạng.

3

Phát triển kinh tế với vai trò chủ đạo của nông nghiệp: Nông nghiệp vẫn là ngành
chính, nhưng các lĩnh vực như thủ công nghiệp, ngư nghiệp và thương mại ngày càng
phát triển, chịu ảnh hưởng từ Hội An, góp phần thúc đẩy kinh tế Đà Nẵng đi lên.

CÂU HỎI

TRẢ LỜI
Quá trình khai hoang, lập làng ở Đà Nẵng từ thế kỉ XIV đến thế kỉ XVI diễn ra gắn liền với
việc vùng đất này trở thành một phần lãnh thổ của Đại Việt. Sau khi tiếp nhận, cư dân
người Việt từ các vùng khác di cư vào, tiến hành khai phá đất hoang, mở rộng diện tích
canh tác và dần hình thành các làng xã mới. Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, quá trình
này diễn ra khá nhanh, giúp vùng đất sớm ổn định.
Đến sau năm 1471, hoạt động khai hoang càng được đẩy mạnh. Nhiều làng xã như Hải
Châu, Nam Ô, Mỹ Khê… được hình thành và phát triển, tạo nên mạng lưới dân cư ngày
càng đông đúc. Người dân không chỉ làm nông nghiệp mà còn kết hợp đánh bắt thủy sản,
làm nghề thủ công và buôn bán nhỏ, góp phần nâng cao đời sống.
Đến thế kỉ XVI, Đà Nẵng đã cơ bản hoàn thiện hệ thống làng xã với đời sống kinh tế – xã
hội ổn định. Nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo, đồng thời các hoạt động ngư nghiệp, thủ
công nghiệp và thương mại ngày càng phát triển, đặt nền tảng cho sự phát triển lâu dài
của vùng đất này.

THANK
YOU
 
Gửi ý kiến