Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Unit 6. The environment

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Trọng Thọ
Ngày gửi: 16h:58' 02-03-2010
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 35
Số lượt thích: 0 người
Unit 6

Period : 37
Lesson 1 : - Getting started
- Listen and Read
- Listen
Designed by Hoang Trong Tho
Lam Mong Quang Junior High School
THE ENVIRONMENT
WARM UP
Environmental problems
in our city
air pollution
dirty street
PRE - READING
* deforestation
* garbage dump
* dynamite fishing
* spraying pesticides
* sewage
* disappointed
(adj)
(n)
(n)
(n)
(n)
(n)
: đánh bắt cá bằng thuốc nổ
: đống rác
: việc phun thuốc trừ sâu
: thất vọng ,buồn
: nước thải
:sự tàn phá rừng
Vocabulary
Matching
1)Garbage dump 2) air pollution 3) water pollution 4) deforestation 5)dynamite fishing 6)spraying pesticides
f)
d)
c)
b)
a)
e)
Answer
Air pollution
Spraying pesticides
Garbage dump
Water pollution
deforestation
Dynamite fishing
WHILE - READING
Matching
1. Group 1
2. Group 2
6. Mr. Brown
3. Group 3
4. Mr. Jones
5. Mrs. Smith
a)Collect all the bags and take them to the garbage dump.
b) Check among the rocks.
e) Check the sand.
d) Give out the bags.
c) Provide a picnic lunch for everyone.
f) walk along the shore.
A
B
Listening
“I want everyone to listen carefully, please. First of all, I’d like you to divide into three groups. Each group should take five plastic bags. Once you have fill a bag, come back to me as you will need another. I need group one to walk along the shore. Group two should check the sand, and group three has to check among the rocks. Mr. Jones is going to collect all the bags and take them to the garbage dump. Mrs. Smith has kindly provided a picnic lunch for us, but we won’t eat until the whole area clean. If you can find your place, I will help you get there this map. Don’t worry... Uh... I’m disappointed that people have spoiled this area. However, we are here to do some thing about this pollution. We must all work very hard. And , if we work hard, we’ll make this beach a clean and beautiful place again. OK. Now let’s get started.
Answer
1. Group 1
2. Group 1
6. Mr. Brown
3. Group 1
4. Mr. Jones
5. Mrs. Smith
a)Collect all the bags and take them to the garbage dump.
b) Check among the rocks.
e) Check the sand.
d) Give out the bags.
c) Provide a picnic lunch for everyone.
f) walk along the shore.
A
B
Comprehension Questions
1/ Who is the speaker?
2/ Who are the listener?
3/ Where are they?
4/ What are they going to do ?
5/ What will they achieve if they work hard to day?
Answer
1/ Who is the speaker?
The speaker is Mr. Brown.
2/ Who are the listener?
The listeners are members of the volunteer conservationists.
3/ Where are they?
They are on the beach.
4/ What are they going to do ?
They are going to clean the beach.
5/ What will they achieve if they work hard to day?
They will make the beach clean and beautiful again soon.

POST - READING
Listening
How the ocean is polluted

Firstly: raw sewage is pumped directly into the
sea.
Secondly: ..................................................
dropped into the sea.
Thirdly: oil spills ..........................
Next: ...........................................
Finally: .......................................
Garbage is dumped into the ocean
come from ships at sea
waste materials from factory
oil is wasted from the land.
No_avatar
http://vn.360plus.yahoo.com/lixiaozhong-lixiaozhong/article?mid=32" target="_parent">CÁC CHÍNH SÁCH CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Việt Nam là nước luôn chiếm vị trí quan trọng trong chiến lược của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Mục tiêu nhất quán của Trung Quốc là gắn quan hệ với Việt Nam trong việc phục vụ những yêu cầu chiến lược của Trung Quốc ở trong nưóc, Ðông Nam Á và trên thế giới. Trung Quốc bình thường hoá với Việt Nam bởi:

+ Một mặt nhằm phục vụ yêu cầu lớn là góp phần tạo môi trường xung quanh ổn định để tập trung cho phát triển kinh tế, phục vụ cho yêu cầu mở cửa ven biên giới Trung Quốc.

+ Mặt khác Trung Quốc không muốn Việt Nam mạnh thoát ra ngoài sự chi phối của Trung Quốc, càng không muốn Việt Nam đi với những đối thủ của họ trong việc tranh giành vai trò kiểm soát khu vực Thái Bình Dương. Từ đó, Trung Quốc luôn thực hiện chính sách 2 mặt trong quan hệ với Việt Nam, tuỳ theo lợi ích khác nhau mà điều chỉnh lúc tranh thủ, lúc kiềm chế.

Các văn bản sau này của Trung Quốc nhằm điều chỉnh biên mậu cũng luôn lấy Luật Hải quan làm văn bản gốc. Do vậy cần thiết phải xem xét luật này khi nghiên cứu hệ thống văn bản điều chỉnh chính sách biên mậu của Trung Quốc.

Khác với Việt Nam, luật Hải quan Trung Quốc có từ rất sớm. Luật Hải quan tạm thời của nước CHND Trung Hoa được ban bố từ ngày 18-4-1951. Luật Hải quan hiện có hiệu lực từ 1/7/1987 gồm 61 điều với các nội dung chủ yếu bao gồm: Ðối tượng điều chỉnh: tổ chức và hoạt động hải quan; nội dung chi tiết.

Quy định tổng cục Hải quan là cơ quan của quốc vụ viện chịu trách nhiệm quản lý thống nhất các tổ chức Hải quan toàn quốc theo chiều dọc trực tiếp: quy định quyền hạn của tổ chức hải quan: (điều 4) về quyền kiểm soát, xử lý các vi phạm luật hải quan xem xét các chứng từ liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu trái với luật Hải quan và các điều luật khác... về việc xuất nhập ở nơi không có tổ chức hải quan phải được phép của quốc vụ viện hoặc Bộ được uỷ nhiệm và tất cả các thủ tục Hải quan phải được thực hiện đầy đủ (điều 5); các pháp nhân được quyền kinh doanh xuất nhập khẩu phải khai báo đăng ký với hải quan và đóng thuế theo mức được chuẩn y. Cho phép uỷ quyền khai báo và nộp thuế (điều 6); Không một đơn vị hoặc cá nhân nào được phép cản trở nhân viên hải quan thi hành công vụ (điều 7).

Quy định chi tiết với các phương tiện vận tải xuất nhập cảnh (được quy định trong chương II của Luật Hải quan).

Như không một phương tiện vận chuyển nào được thay đổi hướng đi và tới địa điểm có sự kiểm soát của Hải quan trừ phi nó đã làm đầy đủ thủ tục khai báo và nộp thuế (điều 8).

Hải quan phải được thông báo trước lịch trình hoạt động của phương tiện: thời gian đi, đến, bốc dỡ hàng... trong khu vực kiểm soát hải quan.

Hàng hoá nhập và xuất quá cảnh, chuyển tàu hay đi suốt (được quy định trong chương III Luật Hải quan) phải chịu sự kiểm soát hải quan trong suốt thời gian ở trong vùng kiểm soát (điều 7); quy định chủ hàng phải xuất trình các giấy tờ liên quan, những trương hợp thiếu giấy tờ với những hàng hoá do Nhà nước hạn chế được xử lý bởi quy định của quốc vụ Viện, khai báo hàng hoá nhập khẩu trong vòng 14 ngày kể từ ngày báo đến của phương tiện vận chuyển, hàng hoá xuất khẩu trong vòng 24 giờ trước khi bốc hàng. Hải quan quy định lệ phí khai báo chậm (điều 18); quy định trường hợp hàng hoá xuất nhập khẩu có thể được miễn trừ khám xét nếu có đơn của chủ hàng và chấp nhận của Tổng cục hải quan (điều 19); Hàng hoá tạm thời xuất hoặc nhập hợp pháp được tái nhập hoặc tái xuất trong vòng 6 tháng, trường hợp đặc biệt có thể được gia hạn; quá trình nhập kho, chế biến và lắp ráp các hàng hoá ký gửi kho và để bán phải được phép và đăng ký với hải quan (điều 23).

Tổng cục Hải quan sẽ thảo ra một cách độc lập hoặc có phối hợp, với các Bộ liên quan các quy tắc cho việc kiểm soát đối với hàng hoá nhập và xuất theo yêu cầu của Hải quan. Các quy tắc cho việc kiểm soát đối với hàng hoá nhập xuất trong các vụ kinh doanh nhỏ ở biên giới... không được ghi rõ trong luật này.

Các quy định với vật phẩm xuất nhập khẩu (được quy định trong chương IV của Luật Hải quan): bao gồm các quy định về tính thuế, miễn giảm, tạm miễn, bồi hoàn thuế...

Chương này có một số điều rất quan trọng thể hiện chính sách mở cửa. Ðó là điều 40 quy định:

"Việc miễn thuế hoặc giảm thuế được áp dụng cho những hàng hoá nhập khẩu hoặc xuất khẩu của các khu kinh tế đặc biệt và các khu vực được định rõ là khu đặc biệt, hàng hoá xuất nhập khẩu của liên doanh...

Quốc vụ viện những Bộ được uỷ quyền sẽ xác định mức thuế được giảm hoặc miễn cho các mặt hàng trong các hoạt động buôn bán nhỏ ở biên giới và vạch ra những quy tắc cho việc thực hiện sự giảm hoặc miễn thuế như vậy.

Tất cả các hàng hoá, vật phẩm nhập khẩu được miễn giảm thuế theo quy định của điều 40 chỉ được sử dụng trong những khu vực và trong các tổ chức kinh doanh đã xác định và phục vụ cho những mục đích rõ rệt (Ðiều 41).

Sự giảm thuế hoặc miễn thuế đặc biệt không được ghi trong điều 30 và 41 của luật này sẽ được Tổng cục Hải quan xem xét phê chuẩn một cách độc lập hoặc có phối hợp với Bộ tài chính trực thuộc quốc vụ viện theo đúng các quy định của quốc vụ viện (Ðiều 42).

Trách nhiệm đăng ký (được quy định trong chương IV). Những hình thức được xem như tội buôn lậu (quy định tại điều 47); những hình thức bị xử tội buôn lậu (quy định tại điều 49); Những vi phạm quy định về kiểm soát hải quan được đưa ra trong điều 50, 51 (12 khoản); Các chế tài và khiếu nại được quy định tại điều 52, 53, 54.

Chính sách của Chính phủ Trung Quốc đối với 5 thị trấn biên giới thuộc tỉnh Quảng Tây và Vân nam (thông báo số 62-1992 của Quốc Vụ Viện): có 11 chính sách được phép áp dụng.

- Khuyến khích, tích cực thu hút vốn đầu tư và ngoài nước để thúc đẩy kinh tế phát triển: mở rộng quyền phê chuẩn dự án đầu tư nước ngoài; giảm thuế lợi tức của các xí nghiệp FDI ở mức thuế suất 24%; Cho phép các nhà đầu tư của các nước láng giềng được đầu tư với bằng hiện vật, tư liệu sản xuất, vật tư khí tài khác trong phạm vi tổng hạn ngạch đầu tư của họ. Số hàng hoá này có thể tiêu thụ theo những quy định về mậu dịch biên giới và được giảm 50% thuế xuất khẩu và thuế công thương thống nhất; Những xí nghiệp có vốn nước ngoài, có đổi hàng với nước láng giềng, cho phép tự tiêu thụ, khi nhập khẩu được giảm 50% thuế nhập khẩu và thuế công thương thống nhất (những hàng hoá thuộc hạng mục Nhà nước hạn chế nhập khẩu phải làm thủ tục xin phép theo quy định.)

- Quy định về khuyến khích phát triển gia công, mậu dịch và nông nghiệp tạo ngoại tệ

- Cho phép thành lập các khu hợp tác kinh tế biên giới

- Ưu đãi đầu tư hạ tầng: Nhà nước cấp bù thoả đáng chi phí xây dựng trang bị cửa khẩu; Cấp tín dụng ưu đãi: trong thời kỳ bát ngũ, mỗi năm Ngân hàng Nhà nước cho vay ưu đãi để kiến thiết thành phố biên giới và xây dựng KHKT trong khuôn khổ kế hoạch cho vay và đầu tư của Nhà nước. Mức cho Bằng Tường và Ðông Hưng là 20 triệu NDT/năm (gấp đôi mức cho Uyển Ðĩnh và Thuỷ lệ trên biên giới với Myanmar); chính sách điều tiết hướng đầu tư; cho phép cửa khẩu 5 thị xã được thu lệ phí với hàng hoá qua cửa khẩu để kiến thiết và bảo dưỡng thiết bị cửa khẩu.

- Các hình thức mậu dịch biên giới khác đã được triển khai ở khu vực biên giới, ngoài buôn bán chợ đường biên của dân cư vùng biên giới, sau này đều được thống nhất quản lý trong mậu dịch tiểu ngạch biên giới, chấp hành các chính sách liên quan đến mậu dịch tiểu ngạch biên giới.

Vấn đề thuế quan nhập khẩu và thu thuế trong khâu nhập khẩu đối với mậu dịch biên giới.

- Quy định về việc quản lý xuất nhập khẩu mậu dịch tiểu ngạch biên giới: quyền kinh doanh của xí nghiệp mậu dịch biên giới (2) do cấp tỉnh thẩm tra, phê chuẩn theo điều kiện, tiêu chuẩn của Bộ Kinh mậu và báo cáo danh sách để Bộ Kinh mậu phê duyệt; Triển khai mậu dịch tiểu ngạch biên giới không bị hạn chế bởi phương thức mua bán và phân công kinh doanh (3); Cho phép mỗi tỉnh được chỉ định 1-2 xí nghiệp mậu dịch tiểu ngạch, kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá được Nhà nước chỉ thông qua cửa khẩu chỉ định (quyền kinh doanh ngoại thương), danh sách này do Bộ kinh mậu phê chuẩn; quy định quyền của các xí nghiệp mậu dịch tiểu ngạch biên giới khi xuất khẩu các hàng hoá trong danh mục Nhà nước quy định quản lý bằng phối ngạch và giấy phép.. .

- Quy định về vấn đề quản lý hàng hoá nhập khẩu theo các hạng mục hợp tác kinh tế kỹ thuật với các khu vực biên giới của nước láng giềng....

-Vấn đề tăng cường quản lý mậu dịch biên giới.

Tóm lại, văn kiện số 2 (1996) đã tạo ra 3 chính sách ưu đãi mới và một giải pháp quản lý mậu biên quan trọng, đó là:

- Chính sách ưu đãi với vật tư được đổi mang về theo các hạng mục công trình hợp tác kinh tế kỹ thuật với Việt Nam (giảm 50% thuế).

- Giải pháp quản lý mậu biên quan trọng: thành lập cơ quan chủ quản về mậu dịch biên giới và hợp tác kinh tế cấp tỉnh, khu để tăng cường lãnh đạo, quản lý biên mậu.

Nội dung và phạm vi hoạt đọng của mậu dịch biên giới được Trung Quốc giới định gần đây nhất trong văn bản "Biện pháp tạm thời quản lý ngoại tệ mậu dịch biên giới". Ðây là văn bản do Cục quản lý ngoại tệ Nhà nước Trung Quốc ban hành năm 1997.

Mậu dịch biên giới theo văn bản này được giải thích bao gồm 3 hình thức: mậu dịch chợ dân cư biên giới, giới dịch tiểu ngạch biên giới, hợp tác kỹ thuật và kinh tế.

Mậu dịch chợ cư dân biên giới: là chỉ những hoạt động trao đổi hàng hoá của dân cư khu vực biên giới, tiến hành ở các chợ chỉ định hoặc điểm mở cửa mà Chính phủ phê chuẩn trong phạm vi 20km tuyến biên giới và không được vượt quá kim ngạch cũng như số lượng đã quy định.

Mậu dịch tiểu ngạch biên giới: là chỉ hoạt động mậu dịch được tiến hành giữa các xí nghiệp được phê chuẩn có quyền kinh doanh mậu dịch tiểu ngạch biên giới thuộc khu vực biên giới, thông qua cửa khẩu biên giới đất liền được Nhà nước chỉ định, với xí nghiệp hoặc cơ cấu mậu dịch của khu vực biên giới nước láng giềng.

Hợp tác kỹ thuật và kinh tế đối ngoại biên giới là chỉ hoạt động của những doanh nghiệp ở khu vực biên giới Trung Quốc được Bộ Hợp tác kinh tế mậu dịch đối ngoại phê chuẩn có quyền kinh doanh hợp tác kỹ thuật và kinh tế đối ngoại, triển khai các hạng mục hợp tác dịch vụ lao động và công trình thầu khoán với khu vực biên giới của các nước láng giềng.

Quy định này phù hợp với tinh thần văn bản "Biện pháp quản lý mậu dịch tiểu ngạch biên giới và hợp tác kinh tế kỹ thuật đối ngoại khu vực biên giới do Bộ hợp tác kinh tế mậu dịch đối ngoại và Tổng cục Hải quan ban hành ngày 29 tháng 3 năm 1996. Trong văn bản này do với văn kiện số 2 của Quốc vụ Viện Trung Quốc ngày 3/1/1996. (Thông tư của Quốc vụ viện Trung Quốc về các vấn đề có liên quan đến mậu dịch biên giới) đã bổ sung thêm hình thức "Hợp tác kỹ thuật và kinh tế đối ngoại biên giới".

Về chủ thể hoạt động mậu dịch biên giới ngoài dân cư biên giới và xí nghiệp mậu dịch tiểu ngạch biên giới quy định trong văn kiện số 2 cuả Quốc vụ viện cũng được bổ sung thêm loại hình "xí nghiệp hợp tác kỹ thuật kinh tế đối ngoại" với các quy định cụ thể như sau:

Xí nghiệp mậu dịch tiểu ngạch biên giới là chỉ những doanh nghiệp ở khu vực biên giới Trung Quốc được Bộ Hợp tác kinh tế mậu dịch đối ngoại hoặc các ngành được trao quyền khác phê chuẩn, có quyền kinh doanh mậu dịch đối ngoại hoặc các ngành được trao quyền khác phê chuẩn, có quyền kinh doanh mậu dịch tiểu ngạch biên giới. Xí nghiệp mậu dịch tiểu ngạch biên giới phải có vốn đăng ký không dưới 500.000 nhân dân tệ.

Xí nghiệp hợp tác kỹ thuật kinh tế đối ngoại: chỉ những doanh nghiệp ở khu vực biên giới được Bộ hợp tác kinh tế mậu dịch đối ngoại phê chuẩn, có quyền kinh doanh hợp tác kỹ thuật kinh tế đối ngoại như triển khai các hạng mục hợp tác dịch vụ lao động và thầu khoán công trình với khu vực biên giới của các nước láng giềng trên nguyên tắc các dự án công trình dưới 1.000.000 USD hoặc hợp tác lao vụ dưới 100 người phải được tỉnh thẩm xét cấp "Thư phê chuẩn", trên mức đó phải do Bộ kinh tế mậu dịch đối ngoại thẩm xét và phê chuẩn:

Toàn bộ hoạt động của hai loại xí nghiệp trên đều nằm trong khuôn khổ của Luật Hải quan và "Biện pháp quản lý mậu dịch tiểu ngạch biên giới và hợp tác kinh tế kỹ thuật đối ngoại khu vực biên giới".

Về chủ thể quản lý mậu dịch biên giới: Chính phủ Trung Quốc có văn phòng quản lý mậu dịch biên giới. Thông tư của Quốc vụ viện Trung Quốc về các vần đề có liên quan đến mậu dịch biên giới (3/1/1996) quy định Chính phủ nhân dân các Tỉnh và khu tự trị biên giới chỉ định ra cơ qua n chủ quản về mậu dịch biên giới. Tổng cục Hải quan giảm quản, Văn phòng hỗn hợp chông buôn lậu biên giới thuộc Chính Phủ phụ trách hoạt động chống buôn lậu và Uỷ ban kế hoạch nhà nước và Uỷ ban kinh tế mậu dịch tiểu ngạch biên giới của năm trước và tình hình cung cầu của thị trường trong nước cấp hạn ngạch nhập khẩu mậu dịch biên giới cho từng địa phương đối với mặt hàng quản lý bằng hạn ngạch. Bộ kinh tế mậu dịch đối ngoại thẩm duyệt danh mục xí nghiệp mậu dịch biên giới, các dự án hợp tác kinh tế kỹ thuật đối ngoại được phân cấp và cùng Tổng cục Hải quan biên soạn biện pháp quản lý hoạt động mậu dịch biên giới.

Hoạt động mậu dịch biên giới theo tinh thần của văn bản nêu trên rõ ràng được phía Trung Quốc quản lý một cách chặt chẽ và hệ thống từ Chính phủ cho tới các địa phương, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan hữu quan do vậy theo đúng tinh thần mà Quốc vụ viện đề ra. Ðó là:

- Khẩn trương định ra biện pháp quản lý đồng bộ, tích cực ủng hộ mậu dịch biên giới.

- Thiết thực tăng cường sự lãnh đạo và quản lý đối với mậu dịch biên giới, thúc đẩy mậu dịch biên giới phát triển lành mạnh.

- Ðiều chỉnh, quy phạm hoá các biện pháp chính sách mậu dịch biên giới theo hướng thể chế hoá kinh tế thị trường XHCN.

- Thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế khu vực biên giới, tăng cường đoàn kết dân tộc, phồn vinh và ổn định vùng biên cương, củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị láng giềng với các nước xung quanh.

Vì Trung Quốc và Việt Nam có biên giới chung, là nước láng giếng với nhau, do đó Trung Quốc xác định tiến hành quan hệ buôn bán với các nước làng giềng, chú trọng đồng thời tiến hành hai loại hình buôn bán chính ngạch và biên mậu, áp dụng các chính sách ưu đãi về thuế (giảm 50% thuế trong 5 năm so với mậu dịch chính ngạch), nhằm phát huy mọi lợi thế về địa lý và phục vụ cho phát triển kinh tế ở các địa phương vùng biên giới.

Từ ý đồ về chính sách thương mại trên, vào những năm đầu 90 trở đi, Trung Quốc bắt đầu có sự thay đổi chính sách đối với Việt Nam, tiếp theo việc tăng cường quan hệ chính trị, Trung Quốc bắt đầu coi trọng quan hệ hợp tác kinh tế và thương mại với Việt Nam hơn trước, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập ASEAN thì Trung Quốc coi Việt Nam là đối tác quan trọng gắn liền với đối tác ASEAN. Với chiến lược lâu dài, Trung Quốc không muốn Việt Nam mạnh lên, nhưng trước xu hướng phát triển của thế giới đã buộc Trung Quốc phải suy xét, tính toán hợp tác có ý đồ để vừa xâm nhập thị trường Việt Nam là thị trường tiêu thụ trung bình, có nhiều lĩnh vực có thể sử dụng hàng hoá kỹ thuật của Trung Quốc, vừa thông qua Việt Nam để vào các thị trường khác trong ASEAN nhất là Lào và Camphuchia.

Trung Quốc có chính sách về giao lưu kinh tế qua biên giới với các nước làng giềng nói chung (trong đó có Việt Nam) một cách nhất quán, trên nguyên tắc "Tự sản xuất, tự tìm thị trường và tự cân đối", họ coi biên mậu là một quốc sách quan trọng để phát triển kinh tế vùng biên giới, nâng cao mức sống cư dân biên giới, nhằm ổn định biên giới quốc gia. Trung Quốc coi biên mậu là một trong những biện pháp quan trọng để góp phần thực hiện có hiệu quả mục tiêu toàn cầu của Trung Quốc là cố gắng thực hiện 4 hiện đại hoá để vươn lên thành một cường quốc có ảnh hưởng lớn đối với đời sống chính trị - kinh tế thế giới trong thế kỷ 21. Do vậy Nhà nước Trung Quốc đã có chính sách hỗ trợ và giành ưu đãi đặc biệt về mọi mặt nhất là giao quyền quản lý rộng rãi cho địa phương.

Trung Quốc đề ra nhiều chính sách cụ thể để khuyến khích và thúc đẩy buôn bán biên giới, ví dụ:

- Hàng hoá cư dân biên giới nhập khẩu qua chợ biên giới được miễn thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng tới 3000 NDT mỗi ngày (tăng gấp 3 lần so định mức trước đây).

- Ðối với các doanh nghiệp mậu dịch tiểu ngạch biên giới được miễn 50% thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng.

- Trung ương uỷ quyền rộng rãi cho Chính quyền tỉnh khu tự trị biên giới để điều hành và quyết định các chính sách và biện pháp nhằm thúc đẩy buôn bán biên giới.

Trong hiệp định tạm thời cũng như hiệp định thương mại Việt Trung đều quy định các hình thức mậu dịch phải tuân thủ pháp luật về xuất nhập khẩu của mỗi nước

 
Gửi ý kiến