Violet
Baigiang

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Bài giảng

lịch sử lưu trữ việt nam

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Phan Vũ Phương Quỳnh
Người gửi: Ruby Phan
Ngày gửi: 03h:35' 13-05-2016
Dung lượng: 2.5 MB
Số lượt tải: 23
Số lượt thích: 0 người
CHÀO MỪNG THẦY VÀ CÁC BẠN ĐẾN VỚI BÀI THUYẾT TRÌNH CỦA NHÓM 4
LỊCH SỬ LƯU TRỮ VIỆT NAM
Giảng viên: Tiến sĩ Nghiêm Kỳ Hồng
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Tú Khâm (1356130020).
Nguyễn Thị Ngà (1356130029).
Phạm Thị Như Ngà (1356130030).
Lê Thị Thanh Nguyên (1356130035).
Hồ Thị Nhàn (1356130037).
Đặng Thị Quí (1356130042).
Phan Vũ Phương Quỳnh (1356130044).
Huỳnh Thị Kim Thoa (1356130052).
ĐỀ TÀI:

LƯU TRỮ VIỆT NAM TỪ 1954 - 1954
NỘI DUNG TRÌNH BÀY:
III. LƯU TRỮ CỦA CHÍNH QUYỀN
THỰC DÂN PHÁP
II. LƯU TRỮ CỦA CHÍNH QUYỀN
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ
IV. NHẬN XÉT CHUNG
I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ
Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước - kỷ nguyên độc lập, tự chủ.
Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Ðình, Hồ Chủ tịch đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Nhân dân hân hoan chào mừng Cách mạng Tháng Tám thành công
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập trên Lễ đài Quảng trường, Ba Đình, Hà Nội, ngày 2/9/1945
Những khó khăn buổi đầu giành độc lập tự chủ:
Về kinh tế:
Hầu như kiệt quệ với hệ thống kho tàng trống rỗng, nông nghiệp lạc hậu, mất mùa vì lũ lụt.
Các ngành công thương nghiệp, thủ công nghiệp bị đình đốn hoặc phá sản
=> Hậu quả thảm khốc là nạn đói xảy ra, làm chết hơn hai triệu người, gần 1/10 dân số nước ta bấy giờ.
Nạn đói năm Ất Dậu (1944 – 1945)
Vê trình độ dân trí: văn hóa, giáo dục thấp kém với hơn 80% dân số mù chữ.
Về chính trị: Tàn dư của chế độ thực dân, phong kiến dẫn đến bệnh quan liêu giấy tờ trong bộ máy Nhà nước mới còn hết sức nặng nề
Về quân sự : “ thù trong giặc ngoài”
Ðược Anh mở đường, thực dân Pháp trở lại gây căng thẳng ở Nam Bộ. Quân Tưởng Giới Thạch kéo vào miền Bắc.
Trong nước, các tổ chức Việt Cách và Việt Quốc núp bóng quân Tưởng, bất hợp tác với Cách mạng, liên tục quấy phá; lớp địa chủ, tư sản cũng ngóc dậy, ngấm ngầm chống đối.
Quân Anh đến Sài Gòn vào tháng 9/1945 để mở đường cho Pháp quay lại xâm lược Việt Nam
Giải pháp:
Trước tình hình đó, Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp nhằm đưa đất nước vượt qua những khó khăn trước mắt, xây dựng, bảo vệ chính quyền :
Phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 3/9/1945,
Nghị quyết Hội nghị Cán bộ Bắc Kỳ ngày 10/9/1945
Bản Chỉ thị về “Kháng chiến kiến quốc” ngày 25/11/1945 của Trung ương Đảng
“Một mặt phá hoại
Một mặt kiến thiết
Phá hoại để ngăn địch
Kiến thiết để đánh địch.”
Chỉ thị về “Kháng chiến kiến quốc”
Những chủ trương về xây dựng chính quyền và xây dựng nền văn hóa mới nói trên là cơ sở để Đảng và Nhà nước ta đề ra nhiều chủ trương, biện pháp chỉ đạo quan trọng đối với công tác lưu trữ trong những năm đầu xây bảo vệ chính quyền và tiến hành cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp.
1. Xây dựng, ban hành
pháp luật về lưu trữ
2. Xây dựng hệ thống
tổ chức và đội ngũ
công chức lưu trữ
3. Tổ chức giữ gìn, bảo vệ hồ
sơ, tài liệu lưu trữ

II. LƯU TRỮ CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
4. Tổ chức sử dụng tài liệu
phục vụ công cuộc kháng
chiến, kiến quốc
II. LƯU TRỮ CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
1. Xây dựng, ban hành pháp luật về lưu trữ:
a.Văn bản pháp luật về việc xây dựng tổ chức và đội ngũ cán bộ lưu trữ
Sắc lệnh ngày 8/9/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh sáp nhập các thư viện và các cơ quan văn hóa khác vào Bộ Quốc gia Giáo dục.
Sắc lệnh số 21 ngày 8/9/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh cử Ngô Đình Nhu làm Giám đốc Nha Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc.
Nghị định số 35/NĐ ngày 21/9/1945 về bộ máy tồ chức của Sở Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc.
Sắc lệnh số 119/SL ngày 9/7/1946 của Quyền Chủ tịch Chính phủ Huỳnh Thúc Kháng quy định Sở Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc trực thuộc Nha Giám đốc Đại học vụ.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ IV ngày 20/5/1948.
Nghị quyết Hội nghị Cán bộ văn phòng cấp ủy Đảng lần thứ I ngày 8 – 10/6/1949.
Nghị quyết Hội nghị Cán bộ chính quyền về công tác văn phòng ngày 19/12/1950.
Các Thông đạt ngày 8/9, 19 và 25/10/1945 của Ủy ban Nhân dân Bắc Bộ khẳng định giá trị của công văn, tài liệu và yêu cầu các công sở phải ngăn chặn kịp thời tình trạng hủy hoại tài liệu đồng thời tổ chức việc giữ gìn, bảo quản an toàn công văn, tài liệu.
Nghị quyết phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 14/11/1945.
Sắc lệnh số 65 ngày 23/11/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh quy định về nhiệm vụ của Đông Dương bác cổ học viện.
Thông đạt số 1-C/VP ngày 3/1/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh về giữ gìn và cấm tiêu hủy công văn, hồ sơ cũ.
Thư của Tổng Bí thư Trường Chinh gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 16/11/1946.
b.Văn bản pháp luật về việc giữ gìn,
bảo vệ hồ sơ, tài liệu:
Nghị quyết Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ I ngày 24/11/1946.
Thư của Chủ tịch nước Hồ Chí Minh gửi Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Hữu Nam ngày 9/7/1947.
Nghị quyết Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ II ngày 16 – 20/7/1648.
Nghị quyết Hội nghị Quân sự toàn quốc lần thứ V tháng 8/1948.
Nghị quyết phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 17/11/1948.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II tháng 2/1951.
Sắc lệnh số 69-SL ngày 10/12/1951 của Chủ tịch nước Hồ Chí Minh về giữ gìn bí mật quốc gia.
Các Chỉ thị ngày 1 và 3/7/1954 của Ban Bí Thư Trung ương Đảng về việc tiếp thu và quản lý các thành phố mới giải phóng.
c. Văn bản pháp luật về việc tổ chức sử dụng tài liệu phục vụ cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc:
Thông tri ngày 7/9/1945 của Bộ Nội vụ chủ trương sưu tầm những tài liệu là giấy tờ bí mật, các bản thống kê, tranh ảnh nói về tội ác của thực dân Pháp.
Thông tư số 9 ngày 28/4/1946 của Chính phủ yêu cầu các Bộ, các công sở tạo điều kiện giúp các vị đại biểu Quốc hội sưu tầm tài liệu phục vụ cho việc soạn thảo Hiến pháp và chuẩn bị ý kiến đóng góp cho Chính phủ về công việc xây dựng đất nước.
II. LƯU TRỮ CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
2.Xây dựng tổ chức và đội ngũ cán bộ lưu trữ
a.Xây dựng tổ chức lưu trữ
Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, chính quyền Pháp đã thành lập Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương.
Sau ngày 19/8/1945, cơ quan này được chính quyền cách mạng tiếp quản.
Ngày 8/9/1945, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã thay mặt Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh ký hai Sắc lệnh:
Sắc lệnh sáp nhập các thư viện và các cơ quan văn hóa khác vào Bộ Quốc gia Giáo dục. Theo đó, Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương được cải tổ lại và đặt trong Bộ Quốc gia Giáo dục với tên gọi là Nha Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc, vị trí của Nha được xác định là “một cơ quan mà sự hoạt động sẽ giúp một phần lớn vào việc cải tạo văn hóa nước nhà”.
Sắc lệnh số 21 cử Ngô Đình Nhu làm Giám đốc Nha Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc.
Ngô Đình Nhu
Sau một thời gian hoạt động với bộ máy tổ chức mới được quy định tại Nghị định số 35/NĐ ngày 21/9/1945 và nhận thấy “cách tổ chức hiện thời đã không hợp lý lại sinh nhiều trở ngại vô ích
Vào tháng 7/1946, Sở đã trình lên Nha Giám đốc Đại học vụ một bản dự thảo Nghị định nhằm cải tổ tổ chức và hoạt động của Sở “cho phù hợp với chương trình kiến thiết quốc gia” trong giai đoạn mới.
Tuy nhiên, cuối năm 1946, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, công việc cải tổ lại Sở Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc đã không thực hiện được.
Mặc dù chỉ hoạt động trong một thời gian rất ngắn (1 năm 3 tháng, tháng 9/1945 - 12/1946) nhưng Sở đã đạt được những thành tựu đáng chú ý:
Tiếp quản, bảo vệ, giữ gìn tài liệu lưu trữ và sách báo do Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương để lại.
Tổ chức bảo quản, bảo vệ hồ sơ, tài liệu, sách báo ở Kho lưu trữ Trung ương Hà Nội.
Tiến hành bổ sung tư liệu, tổ chức phục vụ bạn đọc ngay trong những ngày tháng đầu tiên của chính quyền cách mạng đầy khó khăn thử thách.
b.Xây dựng đội ngũ cán bộ lưu trữ
Hội nghị Trung ương lần thứ IV: Ngày 20/5/1948, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ IV và một trong những nội dung quan trọng của Hội nghị là đã đề ra nhiệm vụ cụ thể về kiện toàn một bước Văn phòng cấp ủy Đảng các cấp.
Hội nghị Cán bộ Văn phòng cấp ủy Đảng toàn quốc lần thứ I: Trong các ngày 8 - 10/6/1949, Hội nghị đã kiểm điểm đánh giá tình hình và đề ra nhiều nội dung quan trọng trong công tác văn phòng nói chung, công tác lưu trữ trong các cơ quan Đảng nói riêng.
Nghị quyết Hội nghị Cán bộ chính quyền về công tác văn phòng ngày 19/12/1950.
II. LƯU TRỮ CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
3.TỔ CHỨC GIỮ GÌN, BẢO VỆ HỒ SƠ, TÀI LIỆU LƯU TRỮ
a.TÀI LIỆU CỦA CHÍNH QUYẾN CŨ ĐỂ LẠI
Ban hành các văn bản khẳng định giá trị của tài liệu lưu trữ và các loại tài sản văn hóa khác:
Ủy ban Nhân dân Bắc Bộ, liên tục trong các ngày 8/9, 19 và 25/10/1945, đã ban hành các Thông đạt, Công văn khẳng định giá trị của công văn, tài liệu và yêu cầu các công sở phải ngăn chặn kịp thời tình trạng hủy hoại tài liệu
Ngày 23/11/1945, trong Sắc lệnh số 65 quy định về nhiệm vụ của Đông Dương Bác cổ học viện đã ra mệnh lệnh: “Cấm phá hủy những bi ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở có tính cách tôn giáo hay không, nhưng có ích cho lịch sử mà chưa được bảo tồn”.
Đông Dương Bác cổ học viện, nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam (Hà Nội)
Ngày 3/1/1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đã ký ban hành bản Thông đạt số 1-C/VP về giữ gìn và cấm tiêu hủy công văn, hồ sơ cũ.

Thông đạt này của Chủ tịch Hồ Chí Minh là văn kiện chỉ đạo đầu tiên hết sức quan trọng của Nhà nước ta về công tác lưu trữ.
Vì vậy, ngày 17/9/2007, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, thông qua Quyết định số 1229/QĐ-TTg, đã chọn ngày 3/1 – ngày ra đời của bản Thông đạt – làm ngày “Lưu trữ Việt Nam”.
Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, quân đội Pháp đã phải rút khỏi nhiều thành phố. Liên tiếp các ngày 1 và 3/7/1954, Ban Bí Thư Trung ương Đảng đã ban hành hai bản Chỉ thị về việc tiếp thu và quản lý các thành phố mới giải phóng.
Thành tựu :
Hồ sơ, tài liệu, sách báo ở Kho lưu trữ Trung ương Hà Nội được Nha Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc tổ chức bảo quản, bảo vệ. Trong khối tài liệu tiếp quản đó có nhiều tài liệu quý hiếm.
Hiện tượng tùy tiện hủy bỏ tài liệu trong nhiều công sở đã được từng bước ngăn chặn.
Hồ sơ, tài liệu trong các công sở và các kho lưu trữ ở các thành phố mới giải phóng đã được giữ gìn tương đối an toàn, hạn chế được hiện tượng bộ đội, công chức của ta đốt phá tài liệu địch cũng như việc địch phá hoại hoặc cướp tài liệu mang đi.
Đối với tài liệu của các cơ quan Đảng, Nhà nước
và các đoàn thể cách mạng:
Ngày 8/9/1945, Chính phủ đã có công văn yêu cầu các công sở chủ động chuẩn bị tài liệu sẵn sàng di chuyển để đối phó với những tình huống bất trắc khi Pháp đánh chiếm trở lại.
Phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 14/11/1945 đã bàn đến việc sơ tán tài liệu.
Các văn bản chỉ đạo của Đảng như Thư của Tổng Bí thư Trường Chinh gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 16/11/1946, Nghị quyết Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ I ngày 24/11/1946, Nghị quyết Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ II ngày 16 đến 20/7/1948, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II tháng 2/1951,... đều khẳng định quan điểm bảo tồn lâu dài và phát huy giá trị của các di sản văn hóa dân tộc, trong đó có tài liệu lưu trữ.
Từ tháng 12/1946 - 2/1947, Trung ương Đảng đã chủ trương di chuyển các cơ quan Trung ương của Đảng, Chính phủ và tài liệu lưu trữ đến các tỉnh ngoại vi Hà Nội.
Trong bức thư gửi ông Hoàng Hữu Nam – Thứ trưởng Bộ Nội vụ ngày 9/4/1947, sau khi thông báo tin địch tấn công và lưu ý về việc đảm bảo an toàn cho ta, Bác đã chỉ thị: “Nhân viên và tài liệu của Chính phủ phải rời ngay vào nơi an toàn. Lúc rời phải rất bí mật”.
Trong Hội nghị Quân sự toàn quốc lần thứ V (tháng 8/1948) và phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 17/11/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở các cơ quan Chính phủ, các ngành, các cấp chính quyền phải hết sức chú trọng giữ gìn bí mật trong các văn kiện của Nhà nước.
Năm 1950, để tăng cường công tác bảo vệ bí mật, Bộ Nội vụ đã có Tờ trình lên Chủ tịch nước để ban hành một bản Sắc lệnh về giữ gìn bí mật quốc gia.
Ngày 10/12/1951, Chủ tịch nước Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 69-SL về giữ gìn bí mật quốc gia.
Trong những năm 1953 – 1954, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Trung Bộ đã đặt ra yêu cầu phải đề cao kỷ luật, tuyệt đối giữ bí mật hồ sơ, tài liệu
Thành tựu
Mặc dù trong hoàn cảnh khó khăn của cuộc kháng chiến, các cơ quan phải sơ tán, tài liệu phải cất giấu nhiều nơi nhưng đa số thành phần tài liệu của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn được giữ gìn và bảo quản an toàn.
Sau khi hoà bình được lập lại trên miền Bắc năm 1954, khối tài liệu này đã được đưa từ Chiến khu Việt Bắc, từ chiến trường miền Trung, miền Nam về Thủ đô Hà Nội và đã được chỉnh lý, sắp xếp và nhu cầu khai thác sử dụng rất cao.
4.TỔ CHỨC SỬ DỤNG TÀI LIỆU PHỤC VỤ CHO CÔNG CUỘC KHÁNG CHIẾN, KIẾN QUỐC
Chủ trương sưu tầm những tài liệu là giấy tờ bí mật, các bản thống kê, tranh ảnh nói về tội ác của thực dân Pháp, tập trung về Hội văn hóa cứu quốc Việt Nam để biên soạn cuốn sách vạch trần tội ác của chúng (Thông tri ngày 7/9/1945 của Bộ Nội vụ).
Sử dụng các văn bản quan trọng như Đạo luật, Sắc lệnh, Nghị định, Nghị quyết, Quyết định, Chỉ thị,… của Nhà nước để đăng trong Việt Nam dân quốc công báo số đầu tiên ngày 29/9/1945.
Việt Nam dân quốc công báo số đầu tiên ngày 29/9/1945
Yêu cầu các Bộ, các công sở tạo điều kiện giúp các vị đại biểu Quốc hội sưu tầm tài liệu phục vụ cho việc soạn thảo Hiến pháp và chuẩn bị ý kiến đóng góp cho Chính phủ về công việc xây dựng đất nước (Thông tư số 9 ngày 28/4/1946 của Chính phủ).
Chủ trương: Trưng bày tài liệu, tranh ảnh; Lập hồ sơ về tội ác của thực dân Pháp; Gửi tài liệu cho đài phát thanh;… Để tuyên truyền, lên án tội ác của địch ở trong nước và trên trường quốc tế (Chỉ thị ngày 17/7/1949 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng).
Bác Hồ đang làm việc tại chiến khu Việt Bắc. Từ trái sang phải: Nguyễn Thế Đoàn (quay phim), Diệp Minh Châu (vẽ) và Đinh Đăng Định (chụp ảnh)
Bác Hồ đang dạy chiến sĩ vệ binh tập võ, trích phim của Nguyễn Thế Đoàn
III.LƯU TRỮ CỦA CHÍNH QUYỀN THỰC DÂN PHÁP

1.XÂY DỰNG TỔ CHỨC VÀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LƯU TRỮ
a.XÂY DỰNG TỔ CHỨC LƯU TRỮ
Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương dời trụ sở vào Sài Gòn, đổi tên thành Sở Lưu trữ và Thư viện Liên bang của Cao ủy Pháp tại Đông Dương, trực tiếp quản lý cơ quan Đại diện Lưu trữ và Thư viện phía Bắc Việt Nam (gồm Kho Lưu trữ Trung ương và Thư viện Trung ương ở Hà Nội), có nhiệm vụ bảo quản năm nguồn tài liệu.
b.XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LƯU TRỮ
Paul Boudet là Giám đốc Sở Lưu trữ và Thư viện Liên bang.
Trong năm 1946, Simone De Saint Exupery được giao trách nhiệm Trưởng Đại diện Lưu trữ ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ, Castagnol được bổ nhiệm làm Phó Trưởng Đại diện, Rémy Bourgeois được bổ nhiệm làm Quản thủ viên của Lưu trữ Trung Kỳ.
Từ năm 1947, Simone được giao trách nhiệm chỉ đạo Sở Lưu trữ và Thư viện Liên bang.
Ngày 30/8/1948, Simone được giao nhiệm vụ Quyền Giám đốc Sở Lưu trữ và Thư viện Liên bang.
Năm 1949, De Ferry được bổ nhiệm chính thức làm Giám đốc.
Năm 1952, Ferry quyết định nhân sự của Đại diện Lưu trữ và Thư viện phía Bắc Việt Nam gồm: Trưởng Đại diện – Thư ký đặc biệt, Bộ phận thư ký – kế toán, Bộ phận thư viện của Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Bắc Kỳ; Simone được bổ nhiệm làm Giám đốc Thư viện Quốc gia trực thuộc Đại diện Lưu trữ và Thư viện phía Bắc Việt Nam.
2.TỔ CHỨC THU HỒI TÀI LIỆU
Thu hồi tài liệu ở Kho Lưu trữ Trung ương, Phủ toàn quyền Đông Dương, Phủ Thống sứ Bắc Kỳ, số tài liệu đã được chuyển vào Sài Gòn là 43 hòm.
Trước những thắng lợi liên tiếp của Chính phủ và quân đội nhân dân Việt Nam, Pháp đã tính đến khả năng thất bại nên tìm cách chuyển tài liệu về chính quốc.
IV.NHẬN XÉT CHUNG
1.THÀNH QUẢ
Bước đầu xây dựng tổ chức bộ máy và cán bộ lưu trữ;
Giữ gìn, bảo vệ hồ sơ tài liệu và đưa tài liệu phục vụ cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc;
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, các quan điểm và nguyên tắc chỉ đạo xây dựng và phát triển công tác lưu trữ bước đầu được xác định, những quan điểm đó đã phát huy tác dụng chỉ đạo tích cực trong quá trình xây dựng công tác lưu trữ non trẻ của nước ta.
2.HẠN CHẾ
Trong điều kiện kháng chiến khó khăn, nhiều công việc quan trọng để xây dựng công tác lưu trữ chưa thể thực hiện được;
Tổ chức lưu trữ còn nhỏ yếu và hoạt động sớm bị gián đoạn;
Tài liệu bị mất mát, hư hỏng nặng nề trong chiến tranh, gây nên những tổn thất khó bù đắp nổi đối với tài liệu lưu trữ ở nước ta trong thời kỳ này.
CÁM ƠN THẦY VÀ CÁC BẠN ĐÃ THEO DÕI ^__^
468x90
 
Gửi ý kiến