Tuần 11. Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận phân tích và so sánh

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Quang Thanh
Ngày gửi: 08h:02' 26-10-2022
Dung lượng: 3.3 MB
Số lượt tải: 59
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Quang Thanh
Ngày gửi: 08h:02' 26-10-2022
Dung lượng: 3.3 MB
Số lượt tải: 59
Số lượt thích:
0 người
Từng nghe nói rằng: Người hiền xuất hiện ở đời, thì như
ngôi sao sáng trên trời cao. Sao sáng ắt chầu về ngôi Bắc
Thần, người hiền ắt làm sứ giả cho thiên tử. Nếu như che
mất ánh sáng, giấu đi vẻ đẹp, có tài mà không được đời
dùng, thì đó không phải là ý trời sinh ra người hiền vậy.
( Trích “Chiếu cầu hiền”- Ngô Thì Nhậm )
Đoạn trích trên sử dụng thao tác
lập luận gì?Phân tích mục đích, tác
dụng của thao tác lập luận đó?
1. Nhắc lại khái niệm về thao tác lập luận so sánh?
- So sánh là làm sáng rõ đối tượng đang nghiên cứu
trong tương quan với các đối tượng khác.
2. Yêu cầu của thao tác lập luận so sánh là gì?
- Khi so sánh, phải đặt các đối tượng vào cùng một
bình diện, đánh giá trên cùng một tiêu chí mới thấy
được sự giống nhau và khác nhau của chúng.
LUYỆN TẬP THAO TÁC
LẬP LUẬN SO SÁNH
I. BÀI TẬP 1: ( sgk116)
Tâm trạng của nhân vật trữ tình ( khi về thăm
quê ) trong hai bài thơ dưới đây:
- “Khi đi trẻ, lúc về già,
Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao.
Trẻ con nhìn lạ không chào,
Hỏi rằng khách ở chốn nào lại chơi ?”
( Hạ Tri Chương)
- “Trở lại An Nhơn, tuổi lớn rồi,
Bạn chơi ngày nhỏ chẳng còn ai
Nền nhà nay dựng cơ quan mới
Chẳng lẽ thăm quê lại hỏi người.”
(Chế Lan Viên)
1. Điểm giống nhau:
a. Cả hai tác giả đều rời quê hương ra đi lúc còn
trẻ và trở về lúc tuổi đã cao:
-“Khi đi trẻ, lúc về già”
(Hạ Tri Chương)
“Trở lại An Nhơn tuổi lớn rồi”
(Chế Lan Viên)
1. Điểm giống nhau:
b. Cả hai đều nhận thấy mình xa lạ ngay trên
chính quê hương:
“Trẻ con nhìn lạ không chào
Hỏi rằng khách ở chốn nào lại chơi”
(Hạ Tri Chương)
→ Không còn ai nhận ra mình
- “Bạn chơi ngày nhỏ chẳng còn ai
Nền nhà nay dựng cơ quan mới
Chẳng lẽ thăm quê lại hỏi người”
(Chế Lan Viên)
→ Quê hương đã biến đổi sau chiến tranh, không còn
cảnh cũ người xưa
2. Kết luận:
Hai nhà thơ, hai con người ở hai thời đại
khác nhau, nhưng cảm xúc về nỗi lòng của
người xa xứ ngày trở về đều có nét giống nhau.
Đọc người xưa cũng là dịp để hiểu người nay
sâu sắc hơn.
II. BÀI TẬP 2/116
Học cũng có ích như trồng cây, mùa xuân
được hoa, mùa thu được quả.
Cách so sánh tương đồng
1. Học và trồng cây đều có ích như nhau:
Học: mang lại tri thức để thực hành trong đời sống.
Trồng cây: cho hoa, quả, cho môi trường trong sạch, điều
hoà khí hậu...
2. Học và trồng cây đều cần có thời gian:
- Học: tiếp thu từ đơn giản đến phức tạp, dễ đến khó để
tiến bộ
- Trồng cây: dần dần thu hoạch từ ít đến nhiều, không nôn
nóng.
3. Kết luận: Cách so sánh để khuyên ta kiên nhẫn trên
con đường học tập
III. Bài tập 3: So sánh ngôn ngữ thơ HXH và bà
Huyện Thanh Quan trong hai bài thơ sau:
TỰ TÌNH
CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ
(Bài 1)
Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom,
Trời chiều bảng lãng bóng hoàng hôn,
Oán hận trông ra khắp mọi chòm.
Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn.
Mõ thảm không khua mà cũng cốc
Gác mái ngư ông về viễn phố
Chuông chùa chẳng đánh cớ sao om?
Gõ sừng mục tử lại cô thôn.
Trước nghe những tiếng thêm rền rĩ,
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Sau giận vì duyên để mõm mòm.
Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
Tài tử giai nhân ai đó tá?
Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ,
Thân này đâu để chịu già tom!
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?
(Hồ Xuân Hương)
(Bà Huyện Thanh Quan)
So sánh trên tiêu chí ngôn ngữ:
1. Sự giống nhau của hai bài thơ:
- Thể loại: thất ngôn bát cú
- Ngôn ngữ: đều gieo vần, tuân thủ nghiêm chỉnh
luật đối (câu 3 + 4 và 5 + 6)
2.Sự khác biệt:
- Ngôn từ:
+ Thơ Hồ Xuân Hương: dùng ngôn ngữ hàng ngày (tiếng
gà văng vẳng, mõ thảm, chuông sầu, những tiếng thêm rền
rĩ, khắp mọi chòm…; cớ sao om, duyên để mõm mòm, chịu
già tom)
+ Thơ Bà Huyện Thanh Quan: dùng nhiều từ Hán Việt
(hoàng hôn, ngư ông, viễn phố, mục tử, cô thôn, chốn
Chương Đài, người lữ thứ, nỗi hàn ôn)
- Về thi liệu:
+ Thơ Bà Huyện Thanh Quan: dùng nhiều thi liệu của
văn chương cổ điển (Chương Đài, ngàn mai, dặm liễu)
+ Thơ Hồ Xuân Hương: ít dùng
- Về phong cách:
+ Hồ Xuân Hương: gần gũi, bình dân, tuy có xót xa
nhưng vẫn tinh nghịch, hiểm hóc
+ Bà Huyện Thanh Quan: trang nhã, đài các, tiếng nói
của văn nhân trí thức thượng lưu
3. Kết luận: Cả hai bài thơ đều hay theo hai phong
cách khác nhau
IV. Bài tập 4: Viết đoạn văn so sánh
Hoạt động nhóm:
* Đề tài: tục ngữ, thành ngữ, ca dao, danh
ngôn... có nội dung so sánh
Nhóm 1: Tục ngữ
Nhóm 2: Thành ngữ
Nhóm 3: Ca dao
Nhóm 4: Danh ngôn
Tham khảo đoạn văn so sánh tương đồng
Cả hai nhà thơ đều có sự cảm nhận giống
nhau khi về thăm lại quê hương. Đó là sự cảm
nhận về thời gian và tuổi tác. Thời gian trôi đi
không bao giờ trở lại. Nó kéo theo bao sự thay
đổi. Sự vật biến đổi. Con người già nua. Cả hai
nhà thơ đều bắt nguồn từ quy luật ấy. Giọng
thơ cũng giống nhau, có nỗi buồn man mác
trước cảnh cũ người xưa. Hẳn là cả hai đều bỡ
ngỡ. Có cái gì gợi nhớ đến bâng khuâng.
Tham khảo đoạn văn so sánh tương phản
Các cụ ưa những màu đỏ choét, ta lại ưa
những màu xanh nhạt...các cụ bâng khuâng vì tiếng
trùng đêm khuya, ta nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ.
Nhìn một cô gái ngây thơ, xinh xắn, các cụ coi như đã
làm một việc tội lỗi; ta thì cho mát mẻ như đứng
trước một cánh đồng xanh. Cái ái tình của các cụ thì
chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình
muôn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái
tình gần gũi, cái tình xa xôi...,cái tình trong giây phút,
cái tình ngàn thu...
( Lưu Trọng Lư )
HƯỚNG DẪN ĐỌC THÊM:
“Một phương diện của thiên tài Nguyễn Du: Từ
Hải”
Ý chính của bài: Hoài Thanh đã so sánh nhân vật Từ
Hải của Thanh Tâm Tài Nhân với nhân vật Từ Hải
của Nguyễn Du
CỦNG CỐ
- Nắm được cách so sánh tương đồng và
so sánh tương phản
- Biết cách viết đoạn văn có sử dụng thao
tác lập luận so sánh.
Dặn dò:
- Đọc bài Đọc thêm
- Viết các đoạn văn vào vở bài tập
- Chuẩn bị bài học tiếp theo:
Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác
lập luận so sánh và phân tích
ngôi sao sáng trên trời cao. Sao sáng ắt chầu về ngôi Bắc
Thần, người hiền ắt làm sứ giả cho thiên tử. Nếu như che
mất ánh sáng, giấu đi vẻ đẹp, có tài mà không được đời
dùng, thì đó không phải là ý trời sinh ra người hiền vậy.
( Trích “Chiếu cầu hiền”- Ngô Thì Nhậm )
Đoạn trích trên sử dụng thao tác
lập luận gì?Phân tích mục đích, tác
dụng của thao tác lập luận đó?
1. Nhắc lại khái niệm về thao tác lập luận so sánh?
- So sánh là làm sáng rõ đối tượng đang nghiên cứu
trong tương quan với các đối tượng khác.
2. Yêu cầu của thao tác lập luận so sánh là gì?
- Khi so sánh, phải đặt các đối tượng vào cùng một
bình diện, đánh giá trên cùng một tiêu chí mới thấy
được sự giống nhau và khác nhau của chúng.
LUYỆN TẬP THAO TÁC
LẬP LUẬN SO SÁNH
I. BÀI TẬP 1: ( sgk116)
Tâm trạng của nhân vật trữ tình ( khi về thăm
quê ) trong hai bài thơ dưới đây:
- “Khi đi trẻ, lúc về già,
Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao.
Trẻ con nhìn lạ không chào,
Hỏi rằng khách ở chốn nào lại chơi ?”
( Hạ Tri Chương)
- “Trở lại An Nhơn, tuổi lớn rồi,
Bạn chơi ngày nhỏ chẳng còn ai
Nền nhà nay dựng cơ quan mới
Chẳng lẽ thăm quê lại hỏi người.”
(Chế Lan Viên)
1. Điểm giống nhau:
a. Cả hai tác giả đều rời quê hương ra đi lúc còn
trẻ và trở về lúc tuổi đã cao:
-“Khi đi trẻ, lúc về già”
(Hạ Tri Chương)
“Trở lại An Nhơn tuổi lớn rồi”
(Chế Lan Viên)
1. Điểm giống nhau:
b. Cả hai đều nhận thấy mình xa lạ ngay trên
chính quê hương:
“Trẻ con nhìn lạ không chào
Hỏi rằng khách ở chốn nào lại chơi”
(Hạ Tri Chương)
→ Không còn ai nhận ra mình
- “Bạn chơi ngày nhỏ chẳng còn ai
Nền nhà nay dựng cơ quan mới
Chẳng lẽ thăm quê lại hỏi người”
(Chế Lan Viên)
→ Quê hương đã biến đổi sau chiến tranh, không còn
cảnh cũ người xưa
2. Kết luận:
Hai nhà thơ, hai con người ở hai thời đại
khác nhau, nhưng cảm xúc về nỗi lòng của
người xa xứ ngày trở về đều có nét giống nhau.
Đọc người xưa cũng là dịp để hiểu người nay
sâu sắc hơn.
II. BÀI TẬP 2/116
Học cũng có ích như trồng cây, mùa xuân
được hoa, mùa thu được quả.
Cách so sánh tương đồng
1. Học và trồng cây đều có ích như nhau:
Học: mang lại tri thức để thực hành trong đời sống.
Trồng cây: cho hoa, quả, cho môi trường trong sạch, điều
hoà khí hậu...
2. Học và trồng cây đều cần có thời gian:
- Học: tiếp thu từ đơn giản đến phức tạp, dễ đến khó để
tiến bộ
- Trồng cây: dần dần thu hoạch từ ít đến nhiều, không nôn
nóng.
3. Kết luận: Cách so sánh để khuyên ta kiên nhẫn trên
con đường học tập
III. Bài tập 3: So sánh ngôn ngữ thơ HXH và bà
Huyện Thanh Quan trong hai bài thơ sau:
TỰ TÌNH
CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ
(Bài 1)
Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom,
Trời chiều bảng lãng bóng hoàng hôn,
Oán hận trông ra khắp mọi chòm.
Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn.
Mõ thảm không khua mà cũng cốc
Gác mái ngư ông về viễn phố
Chuông chùa chẳng đánh cớ sao om?
Gõ sừng mục tử lại cô thôn.
Trước nghe những tiếng thêm rền rĩ,
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Sau giận vì duyên để mõm mòm.
Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
Tài tử giai nhân ai đó tá?
Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ,
Thân này đâu để chịu già tom!
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?
(Hồ Xuân Hương)
(Bà Huyện Thanh Quan)
So sánh trên tiêu chí ngôn ngữ:
1. Sự giống nhau của hai bài thơ:
- Thể loại: thất ngôn bát cú
- Ngôn ngữ: đều gieo vần, tuân thủ nghiêm chỉnh
luật đối (câu 3 + 4 và 5 + 6)
2.Sự khác biệt:
- Ngôn từ:
+ Thơ Hồ Xuân Hương: dùng ngôn ngữ hàng ngày (tiếng
gà văng vẳng, mõ thảm, chuông sầu, những tiếng thêm rền
rĩ, khắp mọi chòm…; cớ sao om, duyên để mõm mòm, chịu
già tom)
+ Thơ Bà Huyện Thanh Quan: dùng nhiều từ Hán Việt
(hoàng hôn, ngư ông, viễn phố, mục tử, cô thôn, chốn
Chương Đài, người lữ thứ, nỗi hàn ôn)
- Về thi liệu:
+ Thơ Bà Huyện Thanh Quan: dùng nhiều thi liệu của
văn chương cổ điển (Chương Đài, ngàn mai, dặm liễu)
+ Thơ Hồ Xuân Hương: ít dùng
- Về phong cách:
+ Hồ Xuân Hương: gần gũi, bình dân, tuy có xót xa
nhưng vẫn tinh nghịch, hiểm hóc
+ Bà Huyện Thanh Quan: trang nhã, đài các, tiếng nói
của văn nhân trí thức thượng lưu
3. Kết luận: Cả hai bài thơ đều hay theo hai phong
cách khác nhau
IV. Bài tập 4: Viết đoạn văn so sánh
Hoạt động nhóm:
* Đề tài: tục ngữ, thành ngữ, ca dao, danh
ngôn... có nội dung so sánh
Nhóm 1: Tục ngữ
Nhóm 2: Thành ngữ
Nhóm 3: Ca dao
Nhóm 4: Danh ngôn
Tham khảo đoạn văn so sánh tương đồng
Cả hai nhà thơ đều có sự cảm nhận giống
nhau khi về thăm lại quê hương. Đó là sự cảm
nhận về thời gian và tuổi tác. Thời gian trôi đi
không bao giờ trở lại. Nó kéo theo bao sự thay
đổi. Sự vật biến đổi. Con người già nua. Cả hai
nhà thơ đều bắt nguồn từ quy luật ấy. Giọng
thơ cũng giống nhau, có nỗi buồn man mác
trước cảnh cũ người xưa. Hẳn là cả hai đều bỡ
ngỡ. Có cái gì gợi nhớ đến bâng khuâng.
Tham khảo đoạn văn so sánh tương phản
Các cụ ưa những màu đỏ choét, ta lại ưa
những màu xanh nhạt...các cụ bâng khuâng vì tiếng
trùng đêm khuya, ta nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ.
Nhìn một cô gái ngây thơ, xinh xắn, các cụ coi như đã
làm một việc tội lỗi; ta thì cho mát mẻ như đứng
trước một cánh đồng xanh. Cái ái tình của các cụ thì
chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình
muôn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái
tình gần gũi, cái tình xa xôi...,cái tình trong giây phút,
cái tình ngàn thu...
( Lưu Trọng Lư )
HƯỚNG DẪN ĐỌC THÊM:
“Một phương diện của thiên tài Nguyễn Du: Từ
Hải”
Ý chính của bài: Hoài Thanh đã so sánh nhân vật Từ
Hải của Thanh Tâm Tài Nhân với nhân vật Từ Hải
của Nguyễn Du
CỦNG CỐ
- Nắm được cách so sánh tương đồng và
so sánh tương phản
- Biết cách viết đoạn văn có sử dụng thao
tác lập luận so sánh.
Dặn dò:
- Đọc bài Đọc thêm
- Viết các đoạn văn vào vở bài tập
- Chuẩn bị bài học tiếp theo:
Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác
lập luận so sánh và phân tích
 








Các ý kiến mới nhất