Ngữ văn 8 KNTT

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hải
Ngày gửi: 19h:50' 10-10-2023
Dung lượng: 461.7 KB
Số lượt tải: 120
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hải
Ngày gửi: 19h:50' 10-10-2023
Dung lượng: 461.7 KB
Số lượt tải: 120
Số lượt thích:
1 người
(nguyễn thị ngọc diệp)
BÀI 3: LỜI SÔNG NÚI
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về.
(Nguyễn Đình Thi)
TRI THỨC NGỮ VĂN
Để một văn bản nghị luận có tính
logic, chặt chẽ chúng ta cần quan tâm
vào yếu tố nào
I. Giới thiệu bài học
1- Chủ đề bài học:Lời sông núi
2- Thể loại chính của các văn bản:Nghị luận
II.Tri thức ngữ văn
1. Luận đề, luận điểm trong văn bản nghị luận
- Luận đề: là vấn đề được luận bàn trong văn bản nghị luận. Vấn đề đó có tính
chất bao trùm, xuyên suốt văn bản. Mỗi văn bản nghị luận thường chỉ có một
luận đề. Luận đề có thể được nêu rõ ở nhan đề, ở một số câu hoặc có thể được
khái quát từ toàn bộ nội dung của văn bản. Luận đề trong văn bản nghị luận xã
hội là hiện tượng hay vấn đề của đời sống được nêu để bàn luận.
- Luận điểm: là các ý triển khai những khía cạnh khác nhau của một luận đề
trong văn bản nghị luận. Qua luận điểm được trình bàycó thể nhận thấy ý kiến
cụ thể của người viết về vấn đề được bàn luận.
2. Mối liên hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng
trong văn bản nghị luận
Luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng là những yếu tố có mối liên hệ chặt
chẽ với nhau trong văn bản nghị luận. Mối liên hệ này có tính tầng bậc. Như đã
nêu trên, văn bản nghị luận trước hết phải có một luận đề. Từ luận đề, người viết
triển khai thành các luận điểm. Mỗi luận điểm muốn có sức thuyết phục, cần
được làm rõ bằng các lí lẽ và mỗi lí lẽ cần được chứng minh bằng các bằng
chứng cụ thể. Có thể hình dung mối liên hệ này qua sơ đồ sau:
3. Đoạn văn diễn dịch, quy nạp, song song, phối hợp
Diễn dịch, quy nạp, song song, phối hợp là các kiểu đoạn văn được phân biệt
dựa vào cách thức tổ chức, triển khai nội dung. Việc phân biệt các kiểu đoạn
văn này liên quan đến câu chủ đề, tức là câu thể hiện nội dung bao quát của
đoạn văn.
- Đoạn văn diễn dịch: Đoạn văn có câu chủ đề được đặt ở đầu đoạn, những
câu tiếp triển khai các nội dung cụ thể để làm rõ chủ đề của đoạn văn.
- Đoạn văn quy nạp: Đoạn văn triển khai nội dung cụ thể trước, từ đó mới
khái quát nội dung chung, được thể hiện bằng câu chủ đề ở cuối đoạn văn.
- Đoạn văn song song: Đoạn văn không có câu chủ đề, các câu trong đoạn có
nội dung khác nhau, nhưng cùng hướng tới một chủ đề.
- Đoạn văn phối hợp: Đoạn văn kết hợp diễn dịch với quy nạp, có câu chủ đề
ở đầu đoạn và cuối đoạn.
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về.
(Nguyễn Đình Thi)
TRI THỨC NGỮ VĂN
Để một văn bản nghị luận có tính
logic, chặt chẽ chúng ta cần quan tâm
vào yếu tố nào
I. Giới thiệu bài học
1- Chủ đề bài học:Lời sông núi
2- Thể loại chính của các văn bản:Nghị luận
II.Tri thức ngữ văn
1. Luận đề, luận điểm trong văn bản nghị luận
- Luận đề: là vấn đề được luận bàn trong văn bản nghị luận. Vấn đề đó có tính
chất bao trùm, xuyên suốt văn bản. Mỗi văn bản nghị luận thường chỉ có một
luận đề. Luận đề có thể được nêu rõ ở nhan đề, ở một số câu hoặc có thể được
khái quát từ toàn bộ nội dung của văn bản. Luận đề trong văn bản nghị luận xã
hội là hiện tượng hay vấn đề của đời sống được nêu để bàn luận.
- Luận điểm: là các ý triển khai những khía cạnh khác nhau của một luận đề
trong văn bản nghị luận. Qua luận điểm được trình bàycó thể nhận thấy ý kiến
cụ thể của người viết về vấn đề được bàn luận.
2. Mối liên hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng
trong văn bản nghị luận
Luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng là những yếu tố có mối liên hệ chặt
chẽ với nhau trong văn bản nghị luận. Mối liên hệ này có tính tầng bậc. Như đã
nêu trên, văn bản nghị luận trước hết phải có một luận đề. Từ luận đề, người viết
triển khai thành các luận điểm. Mỗi luận điểm muốn có sức thuyết phục, cần
được làm rõ bằng các lí lẽ và mỗi lí lẽ cần được chứng minh bằng các bằng
chứng cụ thể. Có thể hình dung mối liên hệ này qua sơ đồ sau:
3. Đoạn văn diễn dịch, quy nạp, song song, phối hợp
Diễn dịch, quy nạp, song song, phối hợp là các kiểu đoạn văn được phân biệt
dựa vào cách thức tổ chức, triển khai nội dung. Việc phân biệt các kiểu đoạn
văn này liên quan đến câu chủ đề, tức là câu thể hiện nội dung bao quát của
đoạn văn.
- Đoạn văn diễn dịch: Đoạn văn có câu chủ đề được đặt ở đầu đoạn, những
câu tiếp triển khai các nội dung cụ thể để làm rõ chủ đề của đoạn văn.
- Đoạn văn quy nạp: Đoạn văn triển khai nội dung cụ thể trước, từ đó mới
khái quát nội dung chung, được thể hiện bằng câu chủ đề ở cuối đoạn văn.
- Đoạn văn song song: Đoạn văn không có câu chủ đề, các câu trong đoạn có
nội dung khác nhau, nhưng cùng hướng tới một chủ đề.
- Đoạn văn phối hợp: Đoạn văn kết hợp diễn dịch với quy nạp, có câu chủ đề
ở đầu đoạn và cuối đoạn.
 







Các ý kiến mới nhất