Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

nhung van de kho cua dia ly 12

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Minh Tuấn
Ngày gửi: 18h:58' 04-11-2008
Dung lượng: 862.0 KB
Số lượt tải: 186
Số lượt thích: 0 người
Khúc mắc
- Hãy cho biết kết quả tác động của quá trình ngoại lực lên địa hình ?
 Hoạt động xâm thực, bồi tụ được đẩy mạnh, hệ thống sông suối đã bồi đắp những đồng bằng châu thổ, các khoáng sản có nguồn gốc ngoại sinh được hình thành.
- Tìm các dẫn chứng để khẳng định giai đoạn tân kiến tạo vẫn còn đang tiếp diễn cho đến tận ngày nay?

Dãy Hoàng Liên Sơn nằm ở khu vực rìa của dãy Hymalaya vẫn đang được tiếp tục nâng cao do các hoạt động địa chất ở khu vực Hymalaya.
Các đồng bằng lớn của nước ta vẫn tiếp tục quá trình thành tạo và mở rộng, ví dụ Đồng bằng sông Hồng mỗi năm mở rộng biển từ 80 – 100m, Đồng bằng sông Cửu long mỗi năm lấn ra biển từ 60 – 80m.
Quan sát hình 25.1 và dựa vào kiến thức đã học, hãy giải thích tại sao kinh tế trang trại lại rất phát triển ở Đồng bằng sông Cửu Long ?

- Kinh tế trang trại ở nước ta phát triển từ kinh tế hộ gia đình.
- Đồng bằng sông Cửu Long là nơi có mức tập trung cao và rất cao các sản phẩm cây hàng năm (lúa gạo, mía, đay cói ), mức độ tập trung rất cao sản phẩm thủy sản nước ngọt và gia cầm là các sản phẩm có tỉ lệ trang trại phân theo loại hình sản xuất thuộc loại cao nhất (trồng cây hàng năm : 28,7 % và nuôi trồng thủy sản : 30,1 % , năm 2005).
0
21-26
1.86
36- 39
31- 36
39- 43
43- 51
51- 54
54- 60
60- 65
65- 70
70- 76
76- 79
79- 89
89- 99
99- 02
02- 05
26- 31
0.69
1.39
%
năm
1.09
3.06
0.5
1.32
1.32
1.7
2.1
2.16
3.0
3.24
2.93
1.1
3.93
Hình 21.1 Biểu đồ tỉ lệ gia tăng dân số trung bình năm qua các giai đoạn
Trang 78 - SGKNC
?
Chỉ số giá tiêu dùng (hay được viết tắt là CPI, từ các chữ tiếng Anh Consumer Price Index) là chỉ số tính theo phần trăm để phản ánh mức thay đổi tương đối của giá hàng tiêu dùng theo thời gian. Sở dĩ chỉ là thay đổi tương đối vì chỉ số này chỉ dựa vào một rổ hàng hóa đại diện cho toàn bộ hàng tiêu dùng.
Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất để đo lường mức giá và sự thay đổi của mức giá chính là lạm phát (một chỉ tiêu khác để phản ánh mức giá chung là Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm trong nước hay Chỉ số điều chỉnh GDP).
Chỉ số giá cả tiêu dùng CPI có liên hệ gì với lạm phát

Lạm phát thường được ưu tiên trong chính sách quản lý kinh tế của các chính phủ vì những hậu quả của chúng để lại hậu quả rất xấu cho nền kinh tế, sau đó là thất nghiệp, lãi suất, năng suất, thâm hụt ngân sách chính phủ, thâm hụt ngoại thương… Lạm phát vừa phải thường có tác dụng tích cực, vì nó gây ra cho tâm lý người người tiêu dùng cần mua sớm nếu không mua thì hàng hóa sẽ còn tăng cao nữa từ đó hàng hóa sẽ được lưu thông tốt hơn. xong tới một mức độ nào đó thì nó lại mất tác dụng và gây ra hậu quả cho nền kinh tế. Thường thì lạm phát có nguyên nhân bắt nguồn chủ yếu từ cung tiền, đổi tiền, thay đổi chính sách về thuế, phúc lợi xã hội, v.v. Song cũng có những trường hợp ngoại lệ như trường hợp của mỹ vào đầu thập niên 80 của thế kỷ 20 là một ví dụ điển hình. Xin trích một đoạn từ trang 97 đến 102 trong cuốn Macroeconomics Fifth Edition – Robert J. Gordon (1991) NXB KHKT- 2000


Giới chuyên môn bàn cãi khá nhiều về nguyên nhân lạm phát và chính sách chống lạm phát. Lạm phát ở Việt Nam được đo bằng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của một rổ gồm 494 mặt hàng thiết yếu, chia ra làm 10 nhóm hàng hóa và dịch vụ.
Lạm phát là gì ?

Trong kinh tế học, lạm phát là hiện tượng giảm mãi lực của đồng tiền. Điều này cũng đồng nghĩa với “vật giá leo thang”, giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao khiến với cùng một số lượng tiền, người tiêu thụ mua được ít hàng hóa hơn hoặc phải trả một giá cao hơn để hưởng cùng một dịch vụ.

Một khái niệm khác về lạm phát là khối lượng tiền được lưu hành trong dân chúng tăng lên do nhà nước in và phát hành thêm tiền vì những nhu cầu cấp thiết (chiến tranh, nội chiến, thâm thủng ngân sách v.v...). Trong khi đó, số lượng hàng hoá không tăng khiến dân chúng cầm trong tay nhiều tiền quá sẽ tranh mua khiến giá cả tăng vọt có khi đưa đến siêu lạm phát. Những ví dụ cùng cực nhất của siêu lạm phát đã xảy ra tại Đức trong những năm đầu thập niên 1920 khi tỉ lệ lạm phát lên tới 3,25 x 106 mỗi tháng, có nghĩa là giá cả tăng gấp đôi mỗi 49 tiếng đồng hồ hoặc tại Hungary sau Thế chiến thứ hai với tỉ lệ lạm phát 4,19 x 1016 (giá cả tăng gấp đôi mỗi 15 giờ đồng hồ).


1. Lạm phát
Không thể phủ nhận việc tăng giá dầu và một số nguyên liệu sản xuất trên thị trường thế giới cũng như thiên tai, dịch bệnh trong nước là nguyên nhân khách quan dẫn tới việc tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong năm 2007. Tuy nhiên, lạm phát ở Việt Nam chủ yếu xuất phát từ các nhân tố chủ quan, có tính cơ cấu của nền kinh tế vì nếu lạm phát chủ yếu do giá thế giới tăng thì các nước khác như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia… cũng đều phải chịu sức ép tương tự. Tuy nhiên, lạm phát ở các nước này lại thấp hơn một cách đáng kể so với Việt Nam (xem Hình 1).
Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác. Thông thường theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu. Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một chủ đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô. Ngược lại với lạm phát là giảm phát. Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự ổn định giá cả.
Chỉ số giảm phát GDP dựa trên việc tính toán của tổng sản phẩm quốc nội: Nó là tỷ lệ của tổng giá trị GDP giá thực tế (GDP danh định) với tổng giá trị GDP của năm gốc, từ đó có thể xác định GDP của năm báo cáo theo giá so sánh hay GDP thực). (Xem thêm Thực và danh định trong kinh tế). Nó là phép đo mức giá cả được sử dụng rộng rãi nhất. Các phép khử lạm phát cũng tính toán các thành phần của GDP như chi phí tiêu dùng cá nhân. Tại Mỹ, Cục Dự trữ Liên bang đã chuyển sang sử dụng khử lạm phát tiêu dùng cá nhân và các phép khử lạm phát khác để tính toán các chính sách kiềm chế lạm phát của mình.

Lạm phát là khi đồng tiền bị mất giá trị so với cách đó một thời gian nào đó. Giảm phát là đối nghịch lạm phát. Khi bạn nghe lạm phát âm có nghĩa là giảm phát đó. Tuy vậy, đừng nghe rằng có giảm phát mà mừng (vì đồng tiền tăng giá), vì thường khi giảm phát là nền kinh tế sẽ bị đình đốn. Tóm lại, giảm phát, hay lạm phát cao đều có hại.
[sửa] Thiểu phát
Xem bài chính về Thiểu phát
[sửa] Lạm phát thấp
Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá từ 3.0 đến 7.0 phần trăm một năm.
[sửa] Lạm phát cao (Lạm phát phi mã)
Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá hai chữ số một năm, nhưng vẫn thấp hơn siêu lạm phát.
[sửa] Siêu lạm phát
Xem bài chính về Siêu lạm phát
Siêu lạm phát là lạm phát "mất kiểm soát", một tình trạng giá cả tăng nhanh chóng khi tiền tệ mất giá trị. Không có định nghĩa chính xác về siêu lạm phát được chấp nhận phổ quát. Một định nghĩa đơn giản là chỉ số lạm phát hàng tháng từ 50% trở lên (nghĩa là cứ 31 ngày thì giá cả lại tăng gấp đôi). Theo Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế 29, có bốn tiêu chí để xác định siêu lạm phát, đó là: (1) người dân không muốn giữ tài sản của mình ở dạng tiền; (2) giá cả hàng hóa trong nước không còn tính bằng nội tệ nữa mà bằng một ngoại tệ ổn định; (3) các khoản tín dụng sẽ tính cả mức mất giá cho dù thời gian tín dụng là rất ngắn; và (4) lãi suất, tiền công và giá cả được gắn với chỉ số giá và tỷ lệ lạm phát cộng dồn trong ba năm lên tới 100 phần trăm.lhg
Đình lạm

Lạm phát do cầu kéo

Lạm phát do cầu thay đổi

Lạm phát do chi phí đẩy

Lạm phát do cơ cấu

Lạm phát do xuất khẩu

Lạm phát do nhập khẩu
Lạm phát tiền tệ

Lạm phát đẻ ra lạm phát

Kiềm chế lạm phát còn gọi là giảm lạm phát.
Khi GDP tăng trưởng 8% có nghĩa là xã hội làm thêm ra được khối tài sản trị giá 8% khối tài sản cũ, nên nhà nước phải phát hành thêm 8% lượng tiền để lưu thông lượng giá trị tài sản ( hàng hoá, dịch vụ, trí tuệ,v.vvv) đó. Nhưngkhông hiểu vì lý do gì mà nhà nước lại phát hành thêm tới 20%, 30% hoặc 50% lượng tiền nên đồng tiền bị mất giá ( lạm phát ) , giá cả hàng hóa tăng cao, xã hội bất ổn.
Bây giờ thì bớt phát hành tiền đi , tăng lãi suất tiết kiệm , nhốt tiền vào ngân hàng để lấy lại giá trị cho đồng tiên ( giảm phát ). Giảm phát và lãi xuất ngân hàng tăng cao thì người ta không thích đầu tư sản xuất nữa, gửi tiền vào ngân hàng sướng hơn. Vả lại, đầu tư kinh doanh với tỷ lệ lãi phải thật cao thì mới đủ trể trả lãi vay ngân hàng. Mà không sản xuất thì khong có công ăn việc làm, thất nghiệp , đói nghèo cũng gây bất ổn xã hội.


Sức mua tương đương
(hay được viết tắt là PPP xuất phát từ purchasing power parity ) là một kiểu tính tỷ giá hối đoái giữa đơn vị tiền tệ của hai nước. Các nhà kinh tế học tính xem cùng một lượng hàng của cùng một thứ hàng hóa khi bán ở hai nước khác nhau bằng đơn vị tiền tệ của hai nước đó thì số tiền phải bỏ ra ra sao, rồi từ đó so sánh lượng hai đơn vị tiền tệ.
Đo lường CPI như thế nào?

Bộ Thương mại biên soạn và công bố các số liệu hàng quý về GNP danh nghĩa, GNP thực tế và chỉ số ngầm giảm phát GNP, nhưng trên thực tế không sưu tầm các giá cả cá biệt của thịt bò, trứng và các sản phẩm khác. Cục Thống Kê Lao động (BLS) tiến hành sưu tầm các giá cả cá biệt và công bố hai chỉ số giá cả là Chỉ số giá cả tiêu dùng (CPI) và Chỉ số giá cả sản xuất (PPI).

Chỉ số giá cả tiêu dùng (CPI), được công bố hàng tháng, dựa vào giá cả
của hàng nghìn sản phẩm được xếp thành 224 nhóm. Giá cả mà những người tiều dùng phải trả được hàng trăm người đi thu nhập giá ghi lại, những người này hàng tháng gọi điện thoại đến hay trực tiếp đến hàng nghìn cửa hàng tại 85 khu vực địa lý và thu nhập được trên 100.000 giá. Sau đó, các giá cả trung bình của từng sản phẩm cá biệt, như thịt bò và trứng chẳng hạn, được BLS kết hợp lại thành các chỉ số nhóm như chỉ số nhóm “thực phẩm và đồ uống” chẳng hạn. Sau đó các chỉ số nhóm được kết hợp lại thành “tổng chỉ số giá cả tiêu dùng CPI”. Những trọng lượng được sử dụng để kết hợp giá cả những sản phẩm cá biệt thành những chỉ số nhóm rồi đi tới “tổng chỉ số giá cả” dựa vào tỷ lệ các hạng mục ấy trong số chỉ tiêu tiêu dùng như đã ghi được trong cuộc điều tra.


Phương pháp tính chỉ số giá tiêu dùng
Để tính toán chỉ số giá tiêu dùng người ta tính số bình quân gia quyền theo công thức Laspeyres của giá cả của kỳ báo cáo (kỳ t) so với kỳ cơ sở. Để làm được điều đó phải tiến hành như sau:
1. Cố định giỏ hàng hoá: thông qua điều tra, người ta sẽ xác định lượng hàng hoá, dịch vụ tiêu biểu mà một người tiêu dùng điển hình mua.
2. Xác định giá cả: thống kê giá cả của mỗi mặt hàng trong giỏ hàng hoá tại mỗi thời điểm.
3. Tính chi phí (bằng tiền) để mua giỏ hàng hoá bằng cách dùng số lượng nhân với giá cả của từng loại hàng hoá rồi cộng lại.
4. Lựa chọn thời kỳ gốc để làm cơ sở so sánh rồi tính chỉ số giá tiêu dùng bằng công thức sau:
CPIt = 100 xChi phí để mua giỏ hàng hoá thời kỳ tChi phí để mua giỏ hàng hoá kỳ cơ sở
Thời kỳ gốc sẽ được thay đổi trong vòng 5 đến 7 năm tùy ở từng nước.
Hình 1. Đóng góp của thức ăn vào chỉ số giá cả (%, trục bên trái); chỉ số giá tiêu dùng (trục phải) ở Việt Nam.
(Nguồn: http://www.dragoncapital.com/UserFiles/File/monthly%20report/2008/Apr/VNFocus_200804.pdf)
Lạm phát ở Việt Nam bắt đầu tăng nhanh theo nhịp độ tăng giá thức ăn thế giới từ tháng 9-2007, nhất là trong 4 tháng đầu năm 2008 khi CPI tháng 4 lên đến 21,42% so với tháng 4-2007(lương thực tăng 25,1%; thực phẩm tăng 15,6% so với tháng 12-2007).
 
Tất nhiên lạm phát không chỉ do tăng giá thức ăn gây ra, việc tăng giá năng lượng, vật liệu (với quyền số gần 10%) cũng góp phần không nhỏ, và giá thế giới của các mặt hàng đó cũng tăng cao. Tăng trưởng tín dụng, lượng cung tiền cũng góp phần tăng lạm phát.
 
Tuy nhiên, theo các chuyên gia của Dragon Capital nguyên nhân chính của lạm phát trong thời gian qua là sự tăng giá thức ăn và năng lượng trên thế giới đã tác động đến giá của các mặt hàng có quyền số lớn như đã nêu ở trên. Và nếu vậy thì theo họ các biện pháp chống lạm phát vừa qua mà chủ yếu là thắt chặt chính sách tiền tệ là chưa hoàn toàn trúng.
       2. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) vượt tốc độ tăng trưởng:
      Tổng mức tăng giá tiêu dùng (CPI) đạt 12,63% - vượt xa mức tăng trưởng GDP 8,5% trong năm nay. Đây là mức tăng CPI cao kỷ lục. Chỉ số CPI tăng cao tác động bất lợi đến sản xuất, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến thu nhập, đời sống của đại bộ phận nhân dân. Mặc dù Chính phủ đã đưa ra nhiều biện pháp như giảm thuế hay siết chặt chính sách về tiền tệ nhưng do các biện pháp đưa ra không kịp thời và buông lỏng việc kiểm soát giá nên việc kiềm chế tốc độ tăng giá đã không thu được hiệu quả như mong muốn.
Hình 1: Chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam và một số nước trong khu vực (2007)1
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đo giá cả các hàng hóa hay được mua bởi "người tiêu dùng thông thường" một cách có lựa chọn. Trong nhiều quốc gia công nghiệp, những sự thay đổi theo phần trăm hàng năm trong các chỉ số này là con số lạm phát thông thường hay được nhắc tới. Các phép đo này thường được sử dụng trong việc chuyển trả lương, do những người lao động mong muốn có khoản chi trả (danh định) tăng ít nhất là bằng hoặc cao hơn tỷ lệ tăng của CPI. Đôi khi, các hợp đồng lao động có tính đến các điều chỉnh giá cả sinh hoạt, nó ngụ ý là khoản chi trả danh định sẽ tự động tăng lên theo sự tăng của CPI, thông thường với một tỷ lệ chậm hơn so với lạm phát thực tế (và cũng chỉ sau khi lạm phát đã xảy ra).
Lạm phát 1 được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá cả của một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế (thông thường dựa trên dữ liệu được thu thập bởi các tổ chức Nhà nước, mặc dù các liên đoàn lao động và các tạp chí kinh doanh cũng làm việc này). Giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra một mức giá cả trung bình, gọi là mức giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm. Chỉ số giá cả là tỷ lệ mức giá trung bình ở thời điểm hiện tại đối với mức giá trung bình của nhóm hàng tương ứng ở thời điểm gốc. Tỷ lệ lạm phát thể hiện qua chỉ số giá cả là tỷ lệ phần trăm mức tăng của mức giá trung bình hiện tại so với mức giá trung bình ở thời điểm gốc. Để dễ hình dung có thể coi mức giá cả như là phép đo kích thước của một quả cầu, lạm phát sẽ là độ tăng kích thước của nó.
Nguyên nhân và tác hại

Giảm phát do tổng cầu giảm
Nguyên nhân chính của giảm phát là do tổng cầu giảm, Có thể dùng sơ đồ AD-AS để minh họa điều này. Ban đầu tổng cầu tương ứng với đường AD. Điểm cân bằng của nền kinh tế là điểm E tại giao điểm của hai đường AD và đường AS (đường tổng cung). Sau đó, tổng cầu giảm, đường AD dịch chuyển song song sang trái thành đường AD` cắt đường AS ở điểm E`. E` là điểm cân bằng mới của nền kinh tế và so với điểm cân bằng cũ E, sản lượng và mức giá chung đều giảm.
Để đo lường tỉ lệ lạm phát, người ta thường dùng hai chỉ số :

- Chỉ số giá cả sản xuất PPI ( Producer Price Index ). Đây là chỉ số giá thành sản xuất của một số mặt hàng và dịch vụ tiêu biểu. Mang so sánh với thời kỳ trước để tính ra tỉ lệ tăng giảm như thế nào. Chỉ số PPI tuy có thể là dấu báo hiệu hiện tượng lạm phát nhưng chưa hẳn lạm phát sẽ bắt buộc phải xảy ra.

- Chỉ số giá cả tiêu thụ CPI ( Consumer Price Index ). Chỉ số giá cả của một số nhu yếu phẩm và dịch vụ tiêu biểu. Chỉ số CPI cho biết tỉ lệ lạm phát thật sự đang xảy ra khi so sánh với thời kỳ trước đó.



Nguyên nhân đưa đến lạm phát

Có nhiều trường phái kinh tế khác nhau đưa ra các lý thuyết về nguyên nhân đưa đến lạm phát, trong số đó trường phái Neo-Keynesian có vẻ được chấp nhận hơn cả với “mô hình tam giác” nói lên ba dạng lạm phát chính và những nguyên nhân của nó :

- Lạm phát do nhu cầu tăng ( Demand-pull inflation ). Lạm phát do nhu cầu sản xuất và dịch vụ (gọi chung là Tổng Thu Nhập Quốc Dân GDP) tăng trong khi tỉ lệ thất nghiệp còn thấp. Còn gọi là Phillips Curve. Nói cách khác là khi nhu cầu kinh tế tăng mà thị trường lao động bị hạn chế sẽ gây lạm phát. Phe Marxist-Leninist bám vào lý luận này và cho rằng kinh tế tư bản luôn luôn cố ý giữ một tỉ lệ thất nghiệp để dễ bóc lột công nhân hơn.

- Lạm phát do đột biến giá cả ( Cost-push inflation ). Giá cả một số nguyên vật liệu trọng yếu, ví dụ giá dầu hoả, tăng cao bất thường có thể đưa đến lạm phát vì hiện tượng dây chuyền, các mặt hàng khác sẽ tăng theo.

- Lạm phát sẵn có tự nhiên ( Built-in inflation ). Lạm phát sẵn có, liên quan đến hiện tượng “vòng xoắn giá/lương” ( price/wage spiral ) nghĩa là hiện tượng công nhân luôn luôn muốn được trả lương cao hơn (dĩ nhiên rồi), chủ bắt buộc phải trả thêm vì không tìm đâu ra công nhân nữa, kinh tế phát triển nên ai cũng có công ăn việc làm cả rồi. Chủ muốn chuyển chi phí phụ trội này qua người tiêu thụ nên tăng giá sản phẩm lên. Công nhân, đồng thời là người tiêu thụ, thấy giá lên lại đòi lương cao hơn nữa. Cái vòng luẩn quẩn này cuối cùng gây ra lạm phát.


Giảm phát là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế giảm xuống liên tục. Do đó, giảm phát trái ngược với lạm phát. Nhưng cũng có thể nói giảm phát là lạm phát với tỷ lệ mang giá trị âm.
Giảm phát ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế thị trường.Nguyên nhân chính dẫn đến việc giảm phát là do tổng cầu giảm.
Giảm phát là tình trạng giá cả hàng hóa bị giảm đi, điều này sẽ có lợi cho người tiêu dùng. Nhưng nếu giảm phát nghiêm trọng thì nền kinh tế có nguy cơ chậm phát triển và sẽ diễn ra sự tranh chấp quyết liệt giữa các nhà sản xuất để tìm cơ hội tồn tại.
13
12
10
9
8
7
11
6
5
4
1
3
2
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
 
Gửi ý kiến