PP Giáo dục âm nhạc

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Nguyễn Thị Tố Loan
Người gửi: Nguyễn Tố Loan
Ngày gửi: 14h:51' 21-05-2026
Dung lượng: 4.0 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn: Nguyễn Thị Tố Loan
Người gửi: Nguyễn Tố Loan
Ngày gửi: 14h:51' 21-05-2026
Dung lượng: 4.0 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Ths: Nguyễn Thị Tố Loan
1. Kiến thức
+ Biết được các phương pháp tổ chức Ca hát; nghe
nhạc; vận động theo nhạc; trò chơi âm nhạc;
+ Hiểu được cơ sở của các kiến thức, các dạng hoạt
động giáo dục âm nhạc và phương pháp hoạt động;
+ Hiểu được những ứng dụng của các phương pháp
đặc thù trong tổ chức các hoạt động âm nhạc ở
trường mầm non.
2. Kỹ Năng
+ Hình thành được năng lực sử dụng phương pháp và
phát triển các kỹ năng tổ chức các hoạt động âm nhạc
Mầm non;
+ Phát triển kỹ năng phân tích, quan sát, tổng hợp,
thảo luận các vấn đề liên quan;
+ Vận dụng kiến thức thực hành soạn các dang hoạt
động giáo dục trong chương trình giáo dục âm nhạc
ở trường mầm non.
3. Năng lực tự chủ và trách nhiệm
+ Có thái độ học tập nghiêm túc, tích cực xây
dựng bài, chủ động lĩnh hội tri thức, có khả
năng tự học, tự nghiên cứu. Yêu nghề mến trẻ
và có định hướng phát triển nghề nghiệp trong
tương lai
Máy tính, máy chiếu
Tập bài giảng: Phương pháp cho trẻ khám phá khoa học
về Môi trường xung quanh (tài liệu lưu hành nội bộ)
Tuyển tập: Trò chơi, thơ truyện, bài hát (4 quyển 4 độ
tuổi)
Phát triển và tổ chức thực hiện chương trình GDMN (4
quyển 4 độ tuổi)
YÊU CẦU CẦN CHUẨN BỊ CỦA NGƯỜI HỌC
Nghiên cứu trước tài liệu
Tích cực trong các hoạt động trên lớp
Làm bài tập đầy đủ
Chuẩn bị học liệu trước khi đến lớp
C. NỘI DUNG KIẾN THỨC TRỌNG TÂM
2.1. Ca hát
2.2. Nghe nhạc:
2.3. Vận động theo nhạc.
2.4. Trò chơi âm nhạc
2.1.1. Ý nghĩa giáo dục của ca hát đối với trẻ.
- Ca hát là loại hình nghệ thuật có giá
trị biểu hiện tình cảm cao, là hình thức
nghệ thuật dễ tiếp thu, dễ thể hiện. Vì
vậy, ca hát mang tính quần chúng
rộng rãi, được đánh giá cao và không
thể thiếu được trong cuộc sống.
- Ca hát giúp cho trẻ hít sâu, phát triển
giọng, củng cố thanh quản, phát triển
ngôn ngữ, phát triển tư duy, đặc biệt
là sự nhạy cảm và khả năng tái hiện
chính xác âm điệu, nhịp điệu, trí nhớ
AN.
- Bộ phận cộng
hưởng và cấu tạo âm
(hốc mũi, họng, miệng,
răng và môi)
- Bộ phận thanh quản
(tạo luồng hơi phát âm)
Trong nghệ thuật
thanh nhạc hơi thở
được coi là cơ sở của
ca hát.
2.1.2. Đặc điểm cơ
quan phát âm của trẻ:
Các dây thanh đới còn
mảnh và ngắn, hơi thở ngắn,
nông do đó âm thanh phát ra
yếu. Trẻ chưa điều khiển
được cơ thanh quản và hơi
thở, nên giọng trẻ nói cao và
yếu hơn người lớn. Sự phối
hợp giữa tai và giọng chưa
chủ động, khoang ngực
chưa phát triển, tỉ lệ đầu to
so với thân mình nên giọng
trẻ vang, tiếng trong.
2.1.2. Đặc điểm
cơ quan phát âm của
trẻ:
Muốn
trẻ
phát triển giọng tốt, cần
rèn luyện thường xuyên,
đảm bảo vừa sức, vệ
sinh. Nếu làm tổn thương
hệ thống phát âm mảnh
mai quá sớm vì la hét,
hát quá sức hoặc thanh
quản bị viêm nhiễm thì
giọng hát của trẻ bị hỏng,
không hát được.
2.1.3. Yêu cầu cần đạt khi dạy trẻ hát.
Yêu cầu cơ bản là giúp trẻ hát tự nhiên, chuẩn xác, diễn
cảm các bài hát có nội dung phù hợp với độ tuổi trên cơ sở có
cảm xúc và kĩ năng thể hiện. Như vậy giáo viên phải giúp trẻ
hiểu bài hát, từ nội dung lời ca đến tính chất thể hiện sắc thái
tình cảm của từng thể loại bài hát.
Để phát triển nhạc cảm và kĩ năng, phải chú ý rèn luyện
cho trẻ các kĩ thuật ca hát cơ bản nhất như:
- Tư thế : Trong khi hát cần đứng hoặc ngồi thẳng để
tạo hơi thở tốt. Hai tay đặt tự nhiên trên đùi, không nâng vai,
khom lưng hay dựa đầu vào thành ghế, không căng cứng mà
hoàn toàn tự nhiên thoải mái.
2.1.3. Yêu cầu cần đạt khi dạy trẻ hát.
- Lấy hơi: Hít nhanh, sâu, không hổn hển, thở ra từ từ
đủ để hát một câu nhạc ngắn. Hơi thở là cơ sở của ca hát, do
đó giáo viên cần dạy dần dần và có hệ thống cho trẻ biết cách
thở đúng.
- Hát rõ lời : Liên quan đến vị trí đúng của lưỡi và môi,
hàm dưới cử động tự nhiên. Dấu giọng có liên quan đến ngữ
điệu, do đó giáo viên cần đọc lời rõ ràng, chậm, diễn cảm cho
trẻ hiểu và rễ hát.
- Sự hòa hợp: Khi hát tập thể trẻ cần hòa giọng mình
trong giọng hát chung của các bạn qua việc điều chỉnh độ cao,
độ mạnh nhẹ, nhịp độ bài hát.
2.1.4. Lựa chọn các bài hát dạy trẻ.
Cần tuyển chọn các bài hát có chất lượng nghệ thuật cao,
phù hợp với lứa tuổi, chứa đựng tính nhân đạo, đi sâu vào thế
giới tình cảm của trẻ, gây hứng thú cho trẻ.
Các bài có nội dung theo các chủ điểm, ngôn ngữ bài hát
phải đơn giản, rễ hiểu.
Các bài hát cần có hình tượng rõ ràng, được thể hiện qua
lời ca, âm điệu, nhịp điệu rễ nhớ, rễ hát, điệu thức cũng như cấu
trúc mang tính dân tộc (điệu thức 5 âm)
Âm nhạc cho trẻ phải thực hiện được nhiệm vụ học tập.
Nhờ có âm nhạc trẻ em được học hát, học múa, học nghe và sử
dụng nhạc cụ. Vì vậy các sáng tác cần gắn liền với hoạt động âm
nhạc đa dạng để hình thành các kĩ năng thực hành.
2.1.5. Phương pháp dạy trẻ ca hát.
2.1.5.1. Làm quen với bài hát.
- Cô giới thiệu cho trẻ tên bài hát, tên tác giả, dẫn dắt trẻ nghe
bằng các thủ thuật thu hút sự chú ý của trẻ đến nội dung, hình tượng
nghệ thuật khơi gợi trí tưởng tượng ở trẻ.
Phần hát mẫu sử dụng biện pháp trực quan truyền cảm, cô
biểu diễn bài hát trọn vẹn, đúng, hát hay, rõ lời, lôi cuốn trẻ vào tâm
trạng cảm xúc chung của bài hát, đặt câu hỏi khai thác nội dung lời
ca để trẻ lắng nghe và trả lời. Việc cô giáo giải thích chi tiết bài hát
giúp trẻ định hướng trước khi hát mẫu lại.
Ví dụ: sau khi cô hát mẫu lần 1, cô hỏi trẻ: cô vừa hát bài gì ? Do ai
sáng tác? Cô giảng giải nội dung bài hát, sau đó cô hát mẫu lần 2.
- Nếu sử dụng được nhạc cụ giáo viên nên đệm theo hát.
2.1.5. Phương pháp dạy trẻ ca hát.
2.1.5.2. Dạy trẻ hát.
Giáo viên sử dụng biện pháp luyện tập kết hợp biện
pháp dùng lời để chỉ dẫn kĩ năng hát tình cảm, thể hiện cảm
xúc khi hát.
- Đặc điểm của trẻ mầm non là chưa biết chữ do đó
phương pháp dạy hát chung cho các lứa tuổi là dạy hát (truyền
khẩu) tức là trẻ vừa lắng nghe cô hát, vừa hát theo cô cho đến
khi trẻ tự hát được.
- Đối với bài hát ngắn trẻ đã được làm quen từ trước,
trẻ sẽ hát theo cô liên tục cả bài không dạy thuộc câu này sang
câu khác.
2.1.5. Phương pháp dạy trẻ ca hát.
2.1.5.2. Dạy trẻ hát.
Bắt đầu dạy trẻ hát không nên cho trẻ hát cùng bộ nhớ của
đàn organ.
- Cách phát giọng: dạy trẻ hát bằng âm thanh tự nhiên tránh
âm vực giọng cao quá hay thấp quá mà bắt giọng phù hợp để bảo
vệ và phát triển giọng hát của trẻ.
- Cách bắt nhịp: bắt nhịp bằng hai tay để giữ tốc độ đều cho
trẻ hát
- Khi phối hợp hát cùng nhạc cụ đệm, giáo viên vừa bắt nhịp
vừa lắng nghe nhạc điệu để điều khiển trẻ hát khớp nhạc.
- Nếu trẻ chưa hát rõ lời của bài hát cô giáo có thể đọc lời ca
theo âm hình tiết tấu một cách chậm rãi diễn cảm.
2.1.5. PP dạy trẻ ca hát.
2.1.5.2. Dạy trẻ hát.
- Trong quá trình dạy hát với các
âm ngân dài cô hát mẫu ngân dài
kết hợp dùng tay đưa sang ngang
làm động tác so sánh trực quan.
- Nếu gặp chỗ khó trong giai điệu
và tiết tấu thì phải tập riêng.
- Nếu trẻ còn hát sai âm điệu cô
hát mẫu riêng chỗ cần sửa, cho trẻ
nghe và cho trẻ hát lại nhiều lần.
- Thay đổi hình thức hát: tổ, nhóm,
cá nhân.. nối tiếp để trẻ có dịp
nghỉ ngơi theo dõi đánh giá và biết
hòa nhập đúng lúc với các bạn.
2.1.5. PP dạy trẻ ca hát.
2.1.5.2. Dạy trẻ hát.
- Cần thay đổi tư thế ngồi, đứng để trẻ
đỡ mỏi, chán, kết hợp với vận động
nhẹ nhàng, chơi đơn giản.
Ví dụ: Cô dạy cho cả lớp hát :
bài hát “ Mẹ đi vắng”
Cô cho trẻ hát theo nhóm, cá nhân,
luôn phiên đứng đạy hát, lên sân khấu
hát, kết hợp đếm số bạn hát, so sánh
chiêu cao các bạn….(chú ý sửa sai)
Khi đa số trẻ thuộc có thể cho hát kết
hợp với các dụng cụ âm nhạc và kết
hợp giáo dục trẻ.
2.1.5. Phương pháp dạy trẻ ca hát.
2.1.5.3. Hát ôn.
Khi đã học thuộc cần dạy cho trẻ thể hiện diễn cảm để trẻ
có thể biểu diễn dễ dàng hấp dẫn. Trong khi củng cố luyện tập
chủ yếu sử dụng biện pháp nhắc lại cho trẻ hát cùng nhạc cụ,
giáo viên đàm thoại giải thích, gợi ý để trẻ hiểu được ý nghĩa
giáo dục của lời ca.
Cho trẻ vừa hát vừa vỗ tay theo nhịp, phách với âm hình
tiết tấu của bài hát để tăng thêm cảm xúc về nhịp điệu tiết tấu.
Để tạo cho buổi học không khí vui vẻ hào hứng bằng
cách động viên khuyến khích để trẻ bộc lộ cảm xúc một cách tự
nhiên tránh dùng mệnh lệnh khô khan.
2.1.6. Chuẩn bị dạy hát:
Để chuẩn bị dạy hát, giáo viên phải tự phân tích bài hát và trên
cơ sở đó luyện hát trôi chảy, chính xác, diễn cảm theo tính chất, đặc
điểm của bài hát, những công việc này bao gồm:
- Nắm được ý nghĩa và tính chất chung của bài hát trong sự
thống nhất giữa âm nhạc và lời ca, từ đó chuẩn bị các câu hỏi để kiểm
tra việc cảm thụ âm nhạc của trẻ.
- Xác định đặc điểm âm nhạc như sắc thái ,tình cảm, âm vực,
cấu trúc câu, đoạn của bài hát.
- Tìm hiểu âm vực giọng hát, xác định âm để bắt giọng của bài
hát phù hợp với giọng của trẻ.
- Dự kiến chỗ khó về âm điệu, nhịp điệu, lời, dễ nhầm lẫn, khó
phát âm, những chỗ giai điệu tiến hành trái với dấu giọng của lời ca,
chỗ ngân nghỉ giữa hai câu hát.
2.1.6. Chuẩn bị dạy hát:
- Luyện tập đàn, hát chuẩn xác và diễn cảm.
- Xác định yêu cầu cụ thể của từng bài, từng tiết học. Mỗi
bài hát có những yêu cầu riêng được nâng cao qua từng tiết học
về các mặt như tạo âm, phát âm... cần xác định trọng tâm và mức
độ cần đạt của từng tiết học.
- Nêu cụ thể biện pháp, thủ pháp, tiến hành theo tuần tự
trong soạn giáo án (trực quan, chỉ dẫn, đàm thoại, thực hành nghệ
thuật, các dụng cụ âm nhạc ...) theo các độ tuổi, đội hình ca hát.
Muốn chuẩn bị tốt, phù hợp yêu cầu giáo dục, giáo viên cần
nắm vững chương trình, khả năng ca hát của trẻ trong lớp mình
phụ trách để khuyến khích các cháu khá làm mẫu, đồng thời giúp
các cháu còn yếu hòa nhập với tập thể.
Nghiên cứu và trình bày:
- Nhóm 1: 2.2.1. Vai trò, ý nghĩa của việc nghe
2.2.2. Nội dung nghe
- Nhóm 2: 2.2.3. Hướng dẫn lựa chọn bài hát,
bản nhạc cho trẻ nghe
- Nhóm 3: 2.2.4.Phương pháp hướng dẫn trẻ
nghe
- Nhóm 4: .2.5. Các hình thức tổ chức nghe
2.2.6. Chuẩn bị cho trẻ nghe 2.2.7. Các bước tổ
chức cho trẻ nghe
2.2.1. Vai trò, ý
nghĩa của việc nghe
nhạc.
Nghe nhạc góp
phần phát triển cảm xúc
của trẻ đối với âm nhạc,
hình thành ở trẻ thói
quen nghe nhạc có kiến
thức. Từ đó biết ghi nhớ
tác phẩm, phân biệt nội
dung, hình thành mối
liên hệ giữa âm nhạc và
cuộc sống.
2.2.1. Vai trò, ý nghĩa
của việc nghe nhạc.
Nghe nhạc là cơ sở để
trẻ học hát, vận động, chơi
theo nhạc. Do đặc điểm của
âm nhạc là phản ánh và kích
thích sự vận động cùng với tính
ham vận động của trẻ. Việc
nghe nhạc trong trường MN là
một hoạt động tích cực, có mối
quan hệ chặt chẽ với vận động,
hoàn thiện những đặc trưng
tâm lí của trẻ, đặc biệt là sự
nhạy cảm với ÂN, tạo dấu ấn
điều chỉnh nhịp sinh lí của trẻ.
2.2.2. Nội dung nghe
Nghe nhạc dưới dạng chung nhất là nhạc hát và nhạc đàn
(thanh nhạc và khí nhạc). Nhạc hát có lời ca dễ hiểu, gần gũi với
trẻ và tác dụng giáo dục mọi mặt. Nhạc đàn sử dụng nhiều
phương pháp diễn cảm phong phú để để thể hiện tính chất đa
dạng của các hình tượng âm nhạc mà giọng người khó diễn tả.
Cần cho trẻ nghe các làn điệu của âm nhạc dân gian Việt
Nam, phổ biến phù hợp vớ trẻ.
Một số loại hình cho trẻ nghe bao gồm: từ ca khúc dân ca
đến chuyên nghiệp, có dội dung đa dạng như:
- Các bài hát vui vẻ nhộn nhịp, dí dỏm
- Các bài hát trữ tình êm dịu.
- Các bài hát ru
2.2.3. Hướng dẫn lựa chọn bài hát, bản nhạc cho trẻ nghe.
- Cần lựa chọn các tác phẩm có tính nhân đạo, đi sâu vào thế giới tình
cảm, có hình ảnh vừa sức với trẻ, có nội dung phản ánh những vấn đề mà
trẻ quan tâm, phải có nghệ thuật cao, phong phú về nội dung và đa dạng về
thể loại như: Những bài hát về lãnh tụ, quân đội, Tổ Quốc... để giáo dục
lòng yêu nước như: “Bác Hồ một tình yêu bao la”, “Quê hương”… Căn cứ
vào lứa tuổi để chọn các bài hát cho trẻ nghe phù hợp.
- Cần lựa chọn các bài hát cho trẻ nghe dựa theo các chủ đề giáo dục,
phong phú, đa dạng.
- Các tác phẩm âm nhạc cổ điển trong và ngoài nước điển hình, có tác dụng
giáo dục tốt. Các bản nhạc không lời ngắn gọn điển hình trong, ngoài nước,
có tiêu đề dành cho trẻ.
Các tác phẩm cho trẻ nghe phải phong phú, không bó hẹp trong
chương trình, tính chất chung là vui vẻ, sinh động, mang sức sống riêng và
phù hợp với độ tuổi của trẻ.
2.2.4.
Phương pháp
hướng dẫn trẻ nghe
* Nghe trực tiếp:
Nghe cô đàn, hát trực
tiếp sẽ gây ấn tượng mạnh
mẽ nhất, lôi cuốn nhất. Nghe
trực tiếp trẻ được quan sát
cách thể hiện sinh động của
cô. GV cần phải hát thật
chính xác, diễn cảm kết hợp
với phong cách biểu diễn
phong phú sẽ hấp dẫn, lôi
cuốn trẻ.
2.2.4.
Phương pháp
hướng dẫn trẻ nghe
* Nghe qua phương tiện:
Nghe giai điệu bài hát,
nghe qua băng, đĩa. Nghe
qua phương tiện sẽ mở rộng
phạm vi trực quan cho trẻ, trẻ
được làm quen với cách trình
diễn, dàn dựng công phu, hài
hòa giữa hát và nhạc, âm sắc
các loại nhạc cụ và cách hòa
tấu. Nghe + xem sẽ giúp trẻ
tích lũy các ấn tượng AN, dễ
dàng ghi nhớ tác phẩm.
2.2.5. Các hình thức tổ chức nghe.
- Nghe ở mọi lúc, mọi nơi như: đón trẻ, giờ chơi, giờ học,
giờ nghỉ, giờ trả trẻ với các nội dung nghe phù hợp.
- Nghe trong giờ âm nhạc: Nghe là tiết trọng tâm đòi hỏi
tính tích cực của trẻ về sự chú ý thính giác và tri giác, suy nghĩ
và tưởng tượng, gợi lên ở trẻ sự đồng cảm với hình tượng nghệ
thuật.
Khả năng nghe của trẻ theo nhóm tuổi khác nhau đối với
trẻ nhà trẻ cần tạo cho trẻ hứng thú nghe nhạc, có thể hướng
dẫn bằng động tác để trẻ bộc lộ cảm xúc với lời ca của bài hát.
Đối với các lớp mẫu giáo, cần tổ chức hình thức nghe phong
phú, giúp trẻ khắc sâu hình tượng, nội dung phong cách âm nhạc
bằng diễn xuất trực tiếp.
2.2.6. Chuẩn bị cho trẻ nghe.
- GV giới thiệu ngắn gọn, phù hợp nhằm thu hút trẻ.
- Nắm được tính chất, phong cách chung của BH, từ đó xác
định sắc thái tình cảm, đặc điểm lời ca, giai điệu.
- Học thuộc bài hát, xác định âm vực hát cho phù hợp ở mỗi
bài cần kết hợp nét mặt, điệu bộ phù hợp.
- Nếu sử dụng được nhạc cụ cần phối hợp với phần nhạc,
thu vào bộ nhớ.
- Xác định yêu cầu đối với tiết học và đặc điểm của từng đối
tượng trẻ: Nghe là nội dung chính hay kết hợp, đối tượng nghe
thuộc nhóm độ tuổi nào…
- Cần chuẩn bị hóa trang, trang phục, đạo cụ của cô và trẻ
cho phù hợp với nội dung từng bài.
2.2.7. Các bước tiến hành cho trẻ nghe nhạc.
2.2.7.1. Giới thiệu tác phẩm.
Dẫn dắt trẻ nghe nhạc bằng cách dùng lời lẽ hấp dẫn
sinh động để giới thiệu qua về hình tượng âm nhạc, tên tác
giả, tác phẩm dựa vào lời ca khơi gợi sự tưởng tưởng của trẻ,
có thể dùng câu đố, đoạn thơ, bức tranh...
Phần giới thiệu cần ngắn gọn, lựa chọn sắc thái lời nói
dễ thu hút trẻ, gợi nhu cầu muốn nghe ở trẻ.
Giáo viên không nên giới thiệu quá dài bởi vì nghe hát
cần cảm thụ hình tượng âm nhạc, biết ứng xử nghệ thuật, hình
thành ở trẻ những ấn tượng âm nhạc một cách đúng đắn.
2.2.7. Các bước tiến hành cho trẻ nghe nhạc.
2.2.7.2. Hát cho trẻ nghe.
Cô hát, trẻ nghe là hai hoạt động ứng đối trực tiếp
qua lại lẫn nhau, giáo viên cần hát diễn cảm và những gì
liên quan đến trình diễn trước trẻ như diễn đạt cảm xúc, sự
trang trọng, âu yếm bằng hoạt động trực tiếp sáng tạo có
biểu hiện một cách sống động nội dung bài hát, có thể
thêm hóa trang, động tác phù hợp với hình tượng âm nhạc
để tác động mạnh mẽ đến cảm xúc và nhận thức thẩm mỹ
của trẻ, đây là phương pháp trình diễn nghệ thuật vì vậy
phụ thuộc rất nhiều vào khả năng của giáo viên.
2.2.7. Các bước tiến hành cho trẻ nghe nhạc.
2.2.7.2. Hát cho trẻ nghe.
- Cần tập cho trẻ bộc lộ cảm xúc khi nghe như:
+ Hào hứng chăm chú lắng nghe.
+ Bộc lộ cảm xúc qua động tác, nét mặt.
+ Vỗ tay cảm ơn sau khi nghe.
+ Nếu sử dụng được nhạc cụ thì GV vừa đàn, vừa hát cần
phải hát nhiều lần với sắc thái diễn tả khác nhau.
+ Có thể cho trẻ nghe nhiều tác phẩm qua băng nhạc và diễn
tấu bằng nhạc cụ.
+ Khi cho trẻ nghe nhạc GV không nên nhắc nhở, ra lệnh làm
gián đoạn quá trình cảm thụ âm nhạc, làm giảm sự chú ý tự giác của
trẻ tới tác phẩm.
2.2.7. Các bước tiến hành cho trẻ nghe nhạc.
2.2.7.3. Củng cố ấn tượng ghi nhớ tác phẩm.
Để khắc sâu cảm xúc với tác phẩm âm nhạc sự thay đổi hình
thức biểu diễn GV cần trò chuyện với trẻ về tác phẩm như trò chơi
giai điệu, tiết tấu, lời ca...có thể dùng biện pháp so sánh, đặt câu hỏi
để tự nhớ lại BH nhận ra nét đặc trưng của bài cô đã hát. (VD: nghe
giai điệu đoán tên bài hát)
Sau khi cho trẻ nghe hát, GV hỏi trẻ tên bài hát, tên tác giả
cũng có thể cho trẻ tự đặt tên bài hát hỏi trẻ tính chất âm nhạc sôi
động hay êm dịu, vui vẻ hay êm ái...
Như vậy với từng tác phẩm khác nhau nội dung hình thức nghe
nhạc trong từng tiết học khác nhau cần sử dụng linh hoạt sáng tạo
các biện pháp cho phù hợp với từng đối tượng trẻ và yêu cầu đặt ra.
2.3.1. Ý nghĩa của VĐ theo nhạc
- VĐ theo nhạc GD nhịp điệu cho trẻ
thông qua sự VĐ của cơ thể phù hợp
tính năng động của trẻ.
- VĐ theo nhạc giúp trẻ phát triển cảm
giác nhịp điệu, khéo léo, khả năng
phản ứng nhanh và đúng các ấn tượng
khi nghe được trong AN.
- VĐ còn làm thỏa mãn nhu cầu tình
cảm của trẻ. Các động tác múa giúp
trẻ thể hiện, hiểu biết về kĩ năng, từ đó
biết so sánh, lựa chọn vẻ đẹp của
múa.
2.3.2. Các hình thức vận
động theo nhạc.
Có hai hình thức tổ
chức vận động theo nhạc.
- Là những động tác
đơn giản biểu hiện cảm xúc
theo tính chất, nhịp điệu âm
nhạc như vỗ tay, nhún
nhảy... trẻ nghe và phân
biệt cao độ, sắc thái, trọng
âm các âm hình tiết tấu.
2.3.2. Các hình thức VĐ theo
nhạc.
- Múa là dạng VĐ có tác dụng
phát triển thẩm mĩ cho trẻ, hình
thành tư thế, dáng điệu, động tác
đẹp.
- Các động tác VĐ nhạc như: gõ
nhịp, gõ phách, gõ theo âm hình
tiết tấu, bài tập, trò chơi,
múa ....đều thực hiện nhiệm vụ
chung là cảm nhận tiết tấu âm
nhạc, nhưng mỗi loại VĐ nhịp
điệu có chức năng riêng, do đó
khác nhau về yêu cầu.
2.3.3. Chuẩn bị dạy trẻ vận động.
- Phân tích, tìm hiểu nội dung tác phẩm, để hình dung cách thể
hiện tác phẩm bằng động tác, điệu bộ.
- Dựa vào khả năng VĐ của trẻ, độ tuổi để lựa chọn thể hiện động
tác nhịp điệu hay múa.
- GV tập luyện cách VĐ nhịp điệu hoặc tập luyện bài múa và phối
hợp với nhạc đệm, đạo cụ...
- Xác định mục tiêu của bài dạy: kĩ năng, cảm thụ, thể hiện diễn
cảm.
- Chuẩn bị đồ dùng cho trẻ và cô cho phù hợp với nội dung: mũ
múa, khăn, nơ, trang phục….
- Soạn trình tự cách hướng dẫn VĐ theo nhạc, nêu cụ thể BPvà
PP, các bước hướng dẫn trẻ VĐ.
2.3.4. Phương pháp HD trẻ vận động theo nhạc.
2.3.4.1. Làm mẫu.
Nhằm mục đích cho trẻ tri giác toàn vẹn: giáo viên cần phải
sử dụng biện pháp trình bày kết hợp dùng lời giải thích động tác
cho trẻ, chỉ dẫn ngắn gọn, dễ hiểu, dùng hình ảnh và khi nào trẻ
hiểu được âm nhạc vang lên thì trẻ mới bắt đầu vận động, lời của
bài hát với các động tác tương ứng.
Do tự học thông qua bắt chước nên giáo viên phải làm mẫu
nhiều lần, những động tác múa cần rõ ràng, đúng tính chất âm
nhạc, có đường nét đẹp, có diễn cảm sẽ giúp trẻ khắc sâu ấn
tượng nhận biết một cách xúc cảm các động tác bài múa góp phần
phát triển thẩm mĩ cho trẻ.
2.3.4. Phương pháp HD trẻ vận động theo nhạc.
2.3.4.2. Dùng lời.
Là biện pháp cần thiết để giải thích chi tiết đặc điểm động
tác, đồng thời kích thích trẻ hoạt động độc lập. Trước khi làm
mẫu giáo viên dẫn dắt giới thiệu, hướng trẻ theo dõi tác phẩm,
sau khi nghe tác phẩm lần đầu tiên, giáo viên gợi cho trẻ kể lại
nội dung, hình ảnh của tác phẩm nói lên giả định những động
tác nào đó có thể thực hiện theo âm nhạc vừa nghe.
Đàm thoại về âm nhạc là một trong những biện pháp
quan trọng cho trẻ làm quen với tác phẩm âm nhạc. Biện pháp
dùng lời còn để động viên khuyến khích trẻ, giúp trẻ tưởng
tượng khi làm động tác.
2.3.4. Phương pháp HD trẻ vận động theo nhạc.
2.3.4.3. Phương pháp học thuộc.
Trẻ bắt chước và luyện tập động tác nhiều lần một cách
chính xác và chi tiết đến khi thuộc. GV cần:
- Làm mẫu lại các động tác có sự kết hợp của âm nhạc giúp
trẻ nhớ lại trình tự các động tác.
- Chỉ dẫn trẻ thực hiện động tác cùng với âm nhạc.
- Tập
cùng trẻ, chú ý sửa sai cho trẻ
- Tổ chức đa dạng cách học thuộc động tác, nhịp điệu âm
nhạc.
- Củng cố và hoàn thiện kĩ năng, giúp trẻ thể hiện độc lập,
sáng tạo truyền cảm, đồng cảm với hình tượng nghệ thuật.
2.4.1. Ý nghĩa giáo dục
của trò chơi âm nhạc
AN quyết định nội dung và
tính chất các hoạt động nhằm
phát triển cảm giác nghe nhạy
bén. Trẻ được tự do tìm cách thể
hiện nhân vật, thể hiện bản thân,
hoạt động tích cực, sáng tạo.
Tham gia chơi với nhau
giúp các cháu có sự tưởng tượng
phong phú, có tinh thần tập thể,
rèn luyện phản xạ nhanh nhẹn.
2.4.2. Các dạng trò chơi âm nhạc.
Trò chơi dựa trên nội dung và cấu trúc âm nhạc: Trẻ
vừa hát vừa diễn vai các nhân vật.
Trò chơi rèn luyện thuộc tính âm nhạc: dựa vào âm
sắc, cao độ, cường độ, tiết tấu, nhịp độ, các trò chơi khác
nhau: nghe tiếng hát tìm đồ vật, ai hát, bao nhiêu bạn hát...
giúp trẻ nhận biết các phương tiện diễn tả cơ bản của âm
nhạc.
Trò chơi rèn luyện trí nhớ âm nhạc: Trẻ nhắc lại giai
điệu khi nghe giáo viên đàn, nhìn tranh đoán tên bài hát,
nghe giai điệu nhận ra tên bài hát...
2.4.3. Các bước tổ chức hoạt
động vui chơi.
Khi hướng dẫn trò chơi AN là cấu
trúc riêng, giáo viên thực hiện theo
các bước sau:
- Nêu tên trò chơi
- Giải thích cách chơi, luật chơi
- Cho trẻ chơi
- Nhận xét sau khi chơi
- Trong khi tổ chức cho trẻ chơi cần
khuyến khích động viên các trẻ tham
gia,cổ vũ, nâng cao dần yêu cầu
chơi.
2.4.4. Giới thiệu một số trò chơi âm nhạc.
- Trò chơi Nghe tiết tấu
tìm đồ vật
- Trò chơi Điều khiển
phương tiện giao thông
- Trò chơi Tiếng hạt gì
- Trò chơi Cá bơi về đâu?
- Trò chơi Giọng hát các Hoặc cá ơi từ đâu tới
con vật
- Trò chơi Hát về người thân
- Trò chơi Hát chuyền
sỏi
- Trò chơi Tai ai tinh
- Trò chơi Âm thanh nhạc ca
Câu 1: Theo em để tổ chức tốt các hoạt
động âm nhạc trong trường mầm non, giáo
viên cần phải làm gì?
Câu 2: Hãy lựa chọn một bài hát và tiến
hành dạy trẻ 4-5 tuổi hát bài hát đó?
1. Nêu ý nghĩa; Yêu cầu cần đạt khi dạy hát; Cách lựa
chọn bài hát để dạy trẻ hát; Phương pháp dạy trẻ hát và các
bước chuẩn bị để dạy trẻ hát, cho trẻ nghe nhạc, cho trẻ vận
động theo nhạc, trò chơi âm nhạc?
2. Thực hành: Tập hát, vận động theo nhạc các bài dạy
trẻ hát, hát cho trẻ nghe?
3. Tổ chức các hoạt động: Dạy hát cho trẻ; tổ chức cho
trẻ nghe nhạc; Dạy trẻ vận động theo nhạc; tổ chức cho trẻ
chơi trò chơi âm nhạc?
1. Kiến thức
+ Biết được các phương pháp tổ chức Ca hát; nghe
nhạc; vận động theo nhạc; trò chơi âm nhạc;
+ Hiểu được cơ sở của các kiến thức, các dạng hoạt
động giáo dục âm nhạc và phương pháp hoạt động;
+ Hiểu được những ứng dụng của các phương pháp
đặc thù trong tổ chức các hoạt động âm nhạc ở
trường mầm non.
2. Kỹ Năng
+ Hình thành được năng lực sử dụng phương pháp và
phát triển các kỹ năng tổ chức các hoạt động âm nhạc
Mầm non;
+ Phát triển kỹ năng phân tích, quan sát, tổng hợp,
thảo luận các vấn đề liên quan;
+ Vận dụng kiến thức thực hành soạn các dang hoạt
động giáo dục trong chương trình giáo dục âm nhạc
ở trường mầm non.
3. Năng lực tự chủ và trách nhiệm
+ Có thái độ học tập nghiêm túc, tích cực xây
dựng bài, chủ động lĩnh hội tri thức, có khả
năng tự học, tự nghiên cứu. Yêu nghề mến trẻ
và có định hướng phát triển nghề nghiệp trong
tương lai
Máy tính, máy chiếu
Tập bài giảng: Phương pháp cho trẻ khám phá khoa học
về Môi trường xung quanh (tài liệu lưu hành nội bộ)
Tuyển tập: Trò chơi, thơ truyện, bài hát (4 quyển 4 độ
tuổi)
Phát triển và tổ chức thực hiện chương trình GDMN (4
quyển 4 độ tuổi)
YÊU CẦU CẦN CHUẨN BỊ CỦA NGƯỜI HỌC
Nghiên cứu trước tài liệu
Tích cực trong các hoạt động trên lớp
Làm bài tập đầy đủ
Chuẩn bị học liệu trước khi đến lớp
C. NỘI DUNG KIẾN THỨC TRỌNG TÂM
2.1. Ca hát
2.2. Nghe nhạc:
2.3. Vận động theo nhạc.
2.4. Trò chơi âm nhạc
2.1.1. Ý nghĩa giáo dục của ca hát đối với trẻ.
- Ca hát là loại hình nghệ thuật có giá
trị biểu hiện tình cảm cao, là hình thức
nghệ thuật dễ tiếp thu, dễ thể hiện. Vì
vậy, ca hát mang tính quần chúng
rộng rãi, được đánh giá cao và không
thể thiếu được trong cuộc sống.
- Ca hát giúp cho trẻ hít sâu, phát triển
giọng, củng cố thanh quản, phát triển
ngôn ngữ, phát triển tư duy, đặc biệt
là sự nhạy cảm và khả năng tái hiện
chính xác âm điệu, nhịp điệu, trí nhớ
AN.
- Bộ phận cộng
hưởng và cấu tạo âm
(hốc mũi, họng, miệng,
răng và môi)
- Bộ phận thanh quản
(tạo luồng hơi phát âm)
Trong nghệ thuật
thanh nhạc hơi thở
được coi là cơ sở của
ca hát.
2.1.2. Đặc điểm cơ
quan phát âm của trẻ:
Các dây thanh đới còn
mảnh và ngắn, hơi thở ngắn,
nông do đó âm thanh phát ra
yếu. Trẻ chưa điều khiển
được cơ thanh quản và hơi
thở, nên giọng trẻ nói cao và
yếu hơn người lớn. Sự phối
hợp giữa tai và giọng chưa
chủ động, khoang ngực
chưa phát triển, tỉ lệ đầu to
so với thân mình nên giọng
trẻ vang, tiếng trong.
2.1.2. Đặc điểm
cơ quan phát âm của
trẻ:
Muốn
trẻ
phát triển giọng tốt, cần
rèn luyện thường xuyên,
đảm bảo vừa sức, vệ
sinh. Nếu làm tổn thương
hệ thống phát âm mảnh
mai quá sớm vì la hét,
hát quá sức hoặc thanh
quản bị viêm nhiễm thì
giọng hát của trẻ bị hỏng,
không hát được.
2.1.3. Yêu cầu cần đạt khi dạy trẻ hát.
Yêu cầu cơ bản là giúp trẻ hát tự nhiên, chuẩn xác, diễn
cảm các bài hát có nội dung phù hợp với độ tuổi trên cơ sở có
cảm xúc và kĩ năng thể hiện. Như vậy giáo viên phải giúp trẻ
hiểu bài hát, từ nội dung lời ca đến tính chất thể hiện sắc thái
tình cảm của từng thể loại bài hát.
Để phát triển nhạc cảm và kĩ năng, phải chú ý rèn luyện
cho trẻ các kĩ thuật ca hát cơ bản nhất như:
- Tư thế : Trong khi hát cần đứng hoặc ngồi thẳng để
tạo hơi thở tốt. Hai tay đặt tự nhiên trên đùi, không nâng vai,
khom lưng hay dựa đầu vào thành ghế, không căng cứng mà
hoàn toàn tự nhiên thoải mái.
2.1.3. Yêu cầu cần đạt khi dạy trẻ hát.
- Lấy hơi: Hít nhanh, sâu, không hổn hển, thở ra từ từ
đủ để hát một câu nhạc ngắn. Hơi thở là cơ sở của ca hát, do
đó giáo viên cần dạy dần dần và có hệ thống cho trẻ biết cách
thở đúng.
- Hát rõ lời : Liên quan đến vị trí đúng của lưỡi và môi,
hàm dưới cử động tự nhiên. Dấu giọng có liên quan đến ngữ
điệu, do đó giáo viên cần đọc lời rõ ràng, chậm, diễn cảm cho
trẻ hiểu và rễ hát.
- Sự hòa hợp: Khi hát tập thể trẻ cần hòa giọng mình
trong giọng hát chung của các bạn qua việc điều chỉnh độ cao,
độ mạnh nhẹ, nhịp độ bài hát.
2.1.4. Lựa chọn các bài hát dạy trẻ.
Cần tuyển chọn các bài hát có chất lượng nghệ thuật cao,
phù hợp với lứa tuổi, chứa đựng tính nhân đạo, đi sâu vào thế
giới tình cảm của trẻ, gây hứng thú cho trẻ.
Các bài có nội dung theo các chủ điểm, ngôn ngữ bài hát
phải đơn giản, rễ hiểu.
Các bài hát cần có hình tượng rõ ràng, được thể hiện qua
lời ca, âm điệu, nhịp điệu rễ nhớ, rễ hát, điệu thức cũng như cấu
trúc mang tính dân tộc (điệu thức 5 âm)
Âm nhạc cho trẻ phải thực hiện được nhiệm vụ học tập.
Nhờ có âm nhạc trẻ em được học hát, học múa, học nghe và sử
dụng nhạc cụ. Vì vậy các sáng tác cần gắn liền với hoạt động âm
nhạc đa dạng để hình thành các kĩ năng thực hành.
2.1.5. Phương pháp dạy trẻ ca hát.
2.1.5.1. Làm quen với bài hát.
- Cô giới thiệu cho trẻ tên bài hát, tên tác giả, dẫn dắt trẻ nghe
bằng các thủ thuật thu hút sự chú ý của trẻ đến nội dung, hình tượng
nghệ thuật khơi gợi trí tưởng tượng ở trẻ.
Phần hát mẫu sử dụng biện pháp trực quan truyền cảm, cô
biểu diễn bài hát trọn vẹn, đúng, hát hay, rõ lời, lôi cuốn trẻ vào tâm
trạng cảm xúc chung của bài hát, đặt câu hỏi khai thác nội dung lời
ca để trẻ lắng nghe và trả lời. Việc cô giáo giải thích chi tiết bài hát
giúp trẻ định hướng trước khi hát mẫu lại.
Ví dụ: sau khi cô hát mẫu lần 1, cô hỏi trẻ: cô vừa hát bài gì ? Do ai
sáng tác? Cô giảng giải nội dung bài hát, sau đó cô hát mẫu lần 2.
- Nếu sử dụng được nhạc cụ giáo viên nên đệm theo hát.
2.1.5. Phương pháp dạy trẻ ca hát.
2.1.5.2. Dạy trẻ hát.
Giáo viên sử dụng biện pháp luyện tập kết hợp biện
pháp dùng lời để chỉ dẫn kĩ năng hát tình cảm, thể hiện cảm
xúc khi hát.
- Đặc điểm của trẻ mầm non là chưa biết chữ do đó
phương pháp dạy hát chung cho các lứa tuổi là dạy hát (truyền
khẩu) tức là trẻ vừa lắng nghe cô hát, vừa hát theo cô cho đến
khi trẻ tự hát được.
- Đối với bài hát ngắn trẻ đã được làm quen từ trước,
trẻ sẽ hát theo cô liên tục cả bài không dạy thuộc câu này sang
câu khác.
2.1.5. Phương pháp dạy trẻ ca hát.
2.1.5.2. Dạy trẻ hát.
Bắt đầu dạy trẻ hát không nên cho trẻ hát cùng bộ nhớ của
đàn organ.
- Cách phát giọng: dạy trẻ hát bằng âm thanh tự nhiên tránh
âm vực giọng cao quá hay thấp quá mà bắt giọng phù hợp để bảo
vệ và phát triển giọng hát của trẻ.
- Cách bắt nhịp: bắt nhịp bằng hai tay để giữ tốc độ đều cho
trẻ hát
- Khi phối hợp hát cùng nhạc cụ đệm, giáo viên vừa bắt nhịp
vừa lắng nghe nhạc điệu để điều khiển trẻ hát khớp nhạc.
- Nếu trẻ chưa hát rõ lời của bài hát cô giáo có thể đọc lời ca
theo âm hình tiết tấu một cách chậm rãi diễn cảm.
2.1.5. PP dạy trẻ ca hát.
2.1.5.2. Dạy trẻ hát.
- Trong quá trình dạy hát với các
âm ngân dài cô hát mẫu ngân dài
kết hợp dùng tay đưa sang ngang
làm động tác so sánh trực quan.
- Nếu gặp chỗ khó trong giai điệu
và tiết tấu thì phải tập riêng.
- Nếu trẻ còn hát sai âm điệu cô
hát mẫu riêng chỗ cần sửa, cho trẻ
nghe và cho trẻ hát lại nhiều lần.
- Thay đổi hình thức hát: tổ, nhóm,
cá nhân.. nối tiếp để trẻ có dịp
nghỉ ngơi theo dõi đánh giá và biết
hòa nhập đúng lúc với các bạn.
2.1.5. PP dạy trẻ ca hát.
2.1.5.2. Dạy trẻ hát.
- Cần thay đổi tư thế ngồi, đứng để trẻ
đỡ mỏi, chán, kết hợp với vận động
nhẹ nhàng, chơi đơn giản.
Ví dụ: Cô dạy cho cả lớp hát :
bài hát “ Mẹ đi vắng”
Cô cho trẻ hát theo nhóm, cá nhân,
luôn phiên đứng đạy hát, lên sân khấu
hát, kết hợp đếm số bạn hát, so sánh
chiêu cao các bạn….(chú ý sửa sai)
Khi đa số trẻ thuộc có thể cho hát kết
hợp với các dụng cụ âm nhạc và kết
hợp giáo dục trẻ.
2.1.5. Phương pháp dạy trẻ ca hát.
2.1.5.3. Hát ôn.
Khi đã học thuộc cần dạy cho trẻ thể hiện diễn cảm để trẻ
có thể biểu diễn dễ dàng hấp dẫn. Trong khi củng cố luyện tập
chủ yếu sử dụng biện pháp nhắc lại cho trẻ hát cùng nhạc cụ,
giáo viên đàm thoại giải thích, gợi ý để trẻ hiểu được ý nghĩa
giáo dục của lời ca.
Cho trẻ vừa hát vừa vỗ tay theo nhịp, phách với âm hình
tiết tấu của bài hát để tăng thêm cảm xúc về nhịp điệu tiết tấu.
Để tạo cho buổi học không khí vui vẻ hào hứng bằng
cách động viên khuyến khích để trẻ bộc lộ cảm xúc một cách tự
nhiên tránh dùng mệnh lệnh khô khan.
2.1.6. Chuẩn bị dạy hát:
Để chuẩn bị dạy hát, giáo viên phải tự phân tích bài hát và trên
cơ sở đó luyện hát trôi chảy, chính xác, diễn cảm theo tính chất, đặc
điểm của bài hát, những công việc này bao gồm:
- Nắm được ý nghĩa và tính chất chung của bài hát trong sự
thống nhất giữa âm nhạc và lời ca, từ đó chuẩn bị các câu hỏi để kiểm
tra việc cảm thụ âm nhạc của trẻ.
- Xác định đặc điểm âm nhạc như sắc thái ,tình cảm, âm vực,
cấu trúc câu, đoạn của bài hát.
- Tìm hiểu âm vực giọng hát, xác định âm để bắt giọng của bài
hát phù hợp với giọng của trẻ.
- Dự kiến chỗ khó về âm điệu, nhịp điệu, lời, dễ nhầm lẫn, khó
phát âm, những chỗ giai điệu tiến hành trái với dấu giọng của lời ca,
chỗ ngân nghỉ giữa hai câu hát.
2.1.6. Chuẩn bị dạy hát:
- Luyện tập đàn, hát chuẩn xác và diễn cảm.
- Xác định yêu cầu cụ thể của từng bài, từng tiết học. Mỗi
bài hát có những yêu cầu riêng được nâng cao qua từng tiết học
về các mặt như tạo âm, phát âm... cần xác định trọng tâm và mức
độ cần đạt của từng tiết học.
- Nêu cụ thể biện pháp, thủ pháp, tiến hành theo tuần tự
trong soạn giáo án (trực quan, chỉ dẫn, đàm thoại, thực hành nghệ
thuật, các dụng cụ âm nhạc ...) theo các độ tuổi, đội hình ca hát.
Muốn chuẩn bị tốt, phù hợp yêu cầu giáo dục, giáo viên cần
nắm vững chương trình, khả năng ca hát của trẻ trong lớp mình
phụ trách để khuyến khích các cháu khá làm mẫu, đồng thời giúp
các cháu còn yếu hòa nhập với tập thể.
Nghiên cứu và trình bày:
- Nhóm 1: 2.2.1. Vai trò, ý nghĩa của việc nghe
2.2.2. Nội dung nghe
- Nhóm 2: 2.2.3. Hướng dẫn lựa chọn bài hát,
bản nhạc cho trẻ nghe
- Nhóm 3: 2.2.4.Phương pháp hướng dẫn trẻ
nghe
- Nhóm 4: .2.5. Các hình thức tổ chức nghe
2.2.6. Chuẩn bị cho trẻ nghe 2.2.7. Các bước tổ
chức cho trẻ nghe
2.2.1. Vai trò, ý
nghĩa của việc nghe
nhạc.
Nghe nhạc góp
phần phát triển cảm xúc
của trẻ đối với âm nhạc,
hình thành ở trẻ thói
quen nghe nhạc có kiến
thức. Từ đó biết ghi nhớ
tác phẩm, phân biệt nội
dung, hình thành mối
liên hệ giữa âm nhạc và
cuộc sống.
2.2.1. Vai trò, ý nghĩa
của việc nghe nhạc.
Nghe nhạc là cơ sở để
trẻ học hát, vận động, chơi
theo nhạc. Do đặc điểm của
âm nhạc là phản ánh và kích
thích sự vận động cùng với tính
ham vận động của trẻ. Việc
nghe nhạc trong trường MN là
một hoạt động tích cực, có mối
quan hệ chặt chẽ với vận động,
hoàn thiện những đặc trưng
tâm lí của trẻ, đặc biệt là sự
nhạy cảm với ÂN, tạo dấu ấn
điều chỉnh nhịp sinh lí của trẻ.
2.2.2. Nội dung nghe
Nghe nhạc dưới dạng chung nhất là nhạc hát và nhạc đàn
(thanh nhạc và khí nhạc). Nhạc hát có lời ca dễ hiểu, gần gũi với
trẻ và tác dụng giáo dục mọi mặt. Nhạc đàn sử dụng nhiều
phương pháp diễn cảm phong phú để để thể hiện tính chất đa
dạng của các hình tượng âm nhạc mà giọng người khó diễn tả.
Cần cho trẻ nghe các làn điệu của âm nhạc dân gian Việt
Nam, phổ biến phù hợp vớ trẻ.
Một số loại hình cho trẻ nghe bao gồm: từ ca khúc dân ca
đến chuyên nghiệp, có dội dung đa dạng như:
- Các bài hát vui vẻ nhộn nhịp, dí dỏm
- Các bài hát trữ tình êm dịu.
- Các bài hát ru
2.2.3. Hướng dẫn lựa chọn bài hát, bản nhạc cho trẻ nghe.
- Cần lựa chọn các tác phẩm có tính nhân đạo, đi sâu vào thế giới tình
cảm, có hình ảnh vừa sức với trẻ, có nội dung phản ánh những vấn đề mà
trẻ quan tâm, phải có nghệ thuật cao, phong phú về nội dung và đa dạng về
thể loại như: Những bài hát về lãnh tụ, quân đội, Tổ Quốc... để giáo dục
lòng yêu nước như: “Bác Hồ một tình yêu bao la”, “Quê hương”… Căn cứ
vào lứa tuổi để chọn các bài hát cho trẻ nghe phù hợp.
- Cần lựa chọn các bài hát cho trẻ nghe dựa theo các chủ đề giáo dục,
phong phú, đa dạng.
- Các tác phẩm âm nhạc cổ điển trong và ngoài nước điển hình, có tác dụng
giáo dục tốt. Các bản nhạc không lời ngắn gọn điển hình trong, ngoài nước,
có tiêu đề dành cho trẻ.
Các tác phẩm cho trẻ nghe phải phong phú, không bó hẹp trong
chương trình, tính chất chung là vui vẻ, sinh động, mang sức sống riêng và
phù hợp với độ tuổi của trẻ.
2.2.4.
Phương pháp
hướng dẫn trẻ nghe
* Nghe trực tiếp:
Nghe cô đàn, hát trực
tiếp sẽ gây ấn tượng mạnh
mẽ nhất, lôi cuốn nhất. Nghe
trực tiếp trẻ được quan sát
cách thể hiện sinh động của
cô. GV cần phải hát thật
chính xác, diễn cảm kết hợp
với phong cách biểu diễn
phong phú sẽ hấp dẫn, lôi
cuốn trẻ.
2.2.4.
Phương pháp
hướng dẫn trẻ nghe
* Nghe qua phương tiện:
Nghe giai điệu bài hát,
nghe qua băng, đĩa. Nghe
qua phương tiện sẽ mở rộng
phạm vi trực quan cho trẻ, trẻ
được làm quen với cách trình
diễn, dàn dựng công phu, hài
hòa giữa hát và nhạc, âm sắc
các loại nhạc cụ và cách hòa
tấu. Nghe + xem sẽ giúp trẻ
tích lũy các ấn tượng AN, dễ
dàng ghi nhớ tác phẩm.
2.2.5. Các hình thức tổ chức nghe.
- Nghe ở mọi lúc, mọi nơi như: đón trẻ, giờ chơi, giờ học,
giờ nghỉ, giờ trả trẻ với các nội dung nghe phù hợp.
- Nghe trong giờ âm nhạc: Nghe là tiết trọng tâm đòi hỏi
tính tích cực của trẻ về sự chú ý thính giác và tri giác, suy nghĩ
và tưởng tượng, gợi lên ở trẻ sự đồng cảm với hình tượng nghệ
thuật.
Khả năng nghe của trẻ theo nhóm tuổi khác nhau đối với
trẻ nhà trẻ cần tạo cho trẻ hứng thú nghe nhạc, có thể hướng
dẫn bằng động tác để trẻ bộc lộ cảm xúc với lời ca của bài hát.
Đối với các lớp mẫu giáo, cần tổ chức hình thức nghe phong
phú, giúp trẻ khắc sâu hình tượng, nội dung phong cách âm nhạc
bằng diễn xuất trực tiếp.
2.2.6. Chuẩn bị cho trẻ nghe.
- GV giới thiệu ngắn gọn, phù hợp nhằm thu hút trẻ.
- Nắm được tính chất, phong cách chung của BH, từ đó xác
định sắc thái tình cảm, đặc điểm lời ca, giai điệu.
- Học thuộc bài hát, xác định âm vực hát cho phù hợp ở mỗi
bài cần kết hợp nét mặt, điệu bộ phù hợp.
- Nếu sử dụng được nhạc cụ cần phối hợp với phần nhạc,
thu vào bộ nhớ.
- Xác định yêu cầu đối với tiết học và đặc điểm của từng đối
tượng trẻ: Nghe là nội dung chính hay kết hợp, đối tượng nghe
thuộc nhóm độ tuổi nào…
- Cần chuẩn bị hóa trang, trang phục, đạo cụ của cô và trẻ
cho phù hợp với nội dung từng bài.
2.2.7. Các bước tiến hành cho trẻ nghe nhạc.
2.2.7.1. Giới thiệu tác phẩm.
Dẫn dắt trẻ nghe nhạc bằng cách dùng lời lẽ hấp dẫn
sinh động để giới thiệu qua về hình tượng âm nhạc, tên tác
giả, tác phẩm dựa vào lời ca khơi gợi sự tưởng tưởng của trẻ,
có thể dùng câu đố, đoạn thơ, bức tranh...
Phần giới thiệu cần ngắn gọn, lựa chọn sắc thái lời nói
dễ thu hút trẻ, gợi nhu cầu muốn nghe ở trẻ.
Giáo viên không nên giới thiệu quá dài bởi vì nghe hát
cần cảm thụ hình tượng âm nhạc, biết ứng xử nghệ thuật, hình
thành ở trẻ những ấn tượng âm nhạc một cách đúng đắn.
2.2.7. Các bước tiến hành cho trẻ nghe nhạc.
2.2.7.2. Hát cho trẻ nghe.
Cô hát, trẻ nghe là hai hoạt động ứng đối trực tiếp
qua lại lẫn nhau, giáo viên cần hát diễn cảm và những gì
liên quan đến trình diễn trước trẻ như diễn đạt cảm xúc, sự
trang trọng, âu yếm bằng hoạt động trực tiếp sáng tạo có
biểu hiện một cách sống động nội dung bài hát, có thể
thêm hóa trang, động tác phù hợp với hình tượng âm nhạc
để tác động mạnh mẽ đến cảm xúc và nhận thức thẩm mỹ
của trẻ, đây là phương pháp trình diễn nghệ thuật vì vậy
phụ thuộc rất nhiều vào khả năng của giáo viên.
2.2.7. Các bước tiến hành cho trẻ nghe nhạc.
2.2.7.2. Hát cho trẻ nghe.
- Cần tập cho trẻ bộc lộ cảm xúc khi nghe như:
+ Hào hứng chăm chú lắng nghe.
+ Bộc lộ cảm xúc qua động tác, nét mặt.
+ Vỗ tay cảm ơn sau khi nghe.
+ Nếu sử dụng được nhạc cụ thì GV vừa đàn, vừa hát cần
phải hát nhiều lần với sắc thái diễn tả khác nhau.
+ Có thể cho trẻ nghe nhiều tác phẩm qua băng nhạc và diễn
tấu bằng nhạc cụ.
+ Khi cho trẻ nghe nhạc GV không nên nhắc nhở, ra lệnh làm
gián đoạn quá trình cảm thụ âm nhạc, làm giảm sự chú ý tự giác của
trẻ tới tác phẩm.
2.2.7. Các bước tiến hành cho trẻ nghe nhạc.
2.2.7.3. Củng cố ấn tượng ghi nhớ tác phẩm.
Để khắc sâu cảm xúc với tác phẩm âm nhạc sự thay đổi hình
thức biểu diễn GV cần trò chuyện với trẻ về tác phẩm như trò chơi
giai điệu, tiết tấu, lời ca...có thể dùng biện pháp so sánh, đặt câu hỏi
để tự nhớ lại BH nhận ra nét đặc trưng của bài cô đã hát. (VD: nghe
giai điệu đoán tên bài hát)
Sau khi cho trẻ nghe hát, GV hỏi trẻ tên bài hát, tên tác giả
cũng có thể cho trẻ tự đặt tên bài hát hỏi trẻ tính chất âm nhạc sôi
động hay êm dịu, vui vẻ hay êm ái...
Như vậy với từng tác phẩm khác nhau nội dung hình thức nghe
nhạc trong từng tiết học khác nhau cần sử dụng linh hoạt sáng tạo
các biện pháp cho phù hợp với từng đối tượng trẻ và yêu cầu đặt ra.
2.3.1. Ý nghĩa của VĐ theo nhạc
- VĐ theo nhạc GD nhịp điệu cho trẻ
thông qua sự VĐ của cơ thể phù hợp
tính năng động của trẻ.
- VĐ theo nhạc giúp trẻ phát triển cảm
giác nhịp điệu, khéo léo, khả năng
phản ứng nhanh và đúng các ấn tượng
khi nghe được trong AN.
- VĐ còn làm thỏa mãn nhu cầu tình
cảm của trẻ. Các động tác múa giúp
trẻ thể hiện, hiểu biết về kĩ năng, từ đó
biết so sánh, lựa chọn vẻ đẹp của
múa.
2.3.2. Các hình thức vận
động theo nhạc.
Có hai hình thức tổ
chức vận động theo nhạc.
- Là những động tác
đơn giản biểu hiện cảm xúc
theo tính chất, nhịp điệu âm
nhạc như vỗ tay, nhún
nhảy... trẻ nghe và phân
biệt cao độ, sắc thái, trọng
âm các âm hình tiết tấu.
2.3.2. Các hình thức VĐ theo
nhạc.
- Múa là dạng VĐ có tác dụng
phát triển thẩm mĩ cho trẻ, hình
thành tư thế, dáng điệu, động tác
đẹp.
- Các động tác VĐ nhạc như: gõ
nhịp, gõ phách, gõ theo âm hình
tiết tấu, bài tập, trò chơi,
múa ....đều thực hiện nhiệm vụ
chung là cảm nhận tiết tấu âm
nhạc, nhưng mỗi loại VĐ nhịp
điệu có chức năng riêng, do đó
khác nhau về yêu cầu.
2.3.3. Chuẩn bị dạy trẻ vận động.
- Phân tích, tìm hiểu nội dung tác phẩm, để hình dung cách thể
hiện tác phẩm bằng động tác, điệu bộ.
- Dựa vào khả năng VĐ của trẻ, độ tuổi để lựa chọn thể hiện động
tác nhịp điệu hay múa.
- GV tập luyện cách VĐ nhịp điệu hoặc tập luyện bài múa và phối
hợp với nhạc đệm, đạo cụ...
- Xác định mục tiêu của bài dạy: kĩ năng, cảm thụ, thể hiện diễn
cảm.
- Chuẩn bị đồ dùng cho trẻ và cô cho phù hợp với nội dung: mũ
múa, khăn, nơ, trang phục….
- Soạn trình tự cách hướng dẫn VĐ theo nhạc, nêu cụ thể BPvà
PP, các bước hướng dẫn trẻ VĐ.
2.3.4. Phương pháp HD trẻ vận động theo nhạc.
2.3.4.1. Làm mẫu.
Nhằm mục đích cho trẻ tri giác toàn vẹn: giáo viên cần phải
sử dụng biện pháp trình bày kết hợp dùng lời giải thích động tác
cho trẻ, chỉ dẫn ngắn gọn, dễ hiểu, dùng hình ảnh và khi nào trẻ
hiểu được âm nhạc vang lên thì trẻ mới bắt đầu vận động, lời của
bài hát với các động tác tương ứng.
Do tự học thông qua bắt chước nên giáo viên phải làm mẫu
nhiều lần, những động tác múa cần rõ ràng, đúng tính chất âm
nhạc, có đường nét đẹp, có diễn cảm sẽ giúp trẻ khắc sâu ấn
tượng nhận biết một cách xúc cảm các động tác bài múa góp phần
phát triển thẩm mĩ cho trẻ.
2.3.4. Phương pháp HD trẻ vận động theo nhạc.
2.3.4.2. Dùng lời.
Là biện pháp cần thiết để giải thích chi tiết đặc điểm động
tác, đồng thời kích thích trẻ hoạt động độc lập. Trước khi làm
mẫu giáo viên dẫn dắt giới thiệu, hướng trẻ theo dõi tác phẩm,
sau khi nghe tác phẩm lần đầu tiên, giáo viên gợi cho trẻ kể lại
nội dung, hình ảnh của tác phẩm nói lên giả định những động
tác nào đó có thể thực hiện theo âm nhạc vừa nghe.
Đàm thoại về âm nhạc là một trong những biện pháp
quan trọng cho trẻ làm quen với tác phẩm âm nhạc. Biện pháp
dùng lời còn để động viên khuyến khích trẻ, giúp trẻ tưởng
tượng khi làm động tác.
2.3.4. Phương pháp HD trẻ vận động theo nhạc.
2.3.4.3. Phương pháp học thuộc.
Trẻ bắt chước và luyện tập động tác nhiều lần một cách
chính xác và chi tiết đến khi thuộc. GV cần:
- Làm mẫu lại các động tác có sự kết hợp của âm nhạc giúp
trẻ nhớ lại trình tự các động tác.
- Chỉ dẫn trẻ thực hiện động tác cùng với âm nhạc.
- Tập
cùng trẻ, chú ý sửa sai cho trẻ
- Tổ chức đa dạng cách học thuộc động tác, nhịp điệu âm
nhạc.
- Củng cố và hoàn thiện kĩ năng, giúp trẻ thể hiện độc lập,
sáng tạo truyền cảm, đồng cảm với hình tượng nghệ thuật.
2.4.1. Ý nghĩa giáo dục
của trò chơi âm nhạc
AN quyết định nội dung và
tính chất các hoạt động nhằm
phát triển cảm giác nghe nhạy
bén. Trẻ được tự do tìm cách thể
hiện nhân vật, thể hiện bản thân,
hoạt động tích cực, sáng tạo.
Tham gia chơi với nhau
giúp các cháu có sự tưởng tượng
phong phú, có tinh thần tập thể,
rèn luyện phản xạ nhanh nhẹn.
2.4.2. Các dạng trò chơi âm nhạc.
Trò chơi dựa trên nội dung và cấu trúc âm nhạc: Trẻ
vừa hát vừa diễn vai các nhân vật.
Trò chơi rèn luyện thuộc tính âm nhạc: dựa vào âm
sắc, cao độ, cường độ, tiết tấu, nhịp độ, các trò chơi khác
nhau: nghe tiếng hát tìm đồ vật, ai hát, bao nhiêu bạn hát...
giúp trẻ nhận biết các phương tiện diễn tả cơ bản của âm
nhạc.
Trò chơi rèn luyện trí nhớ âm nhạc: Trẻ nhắc lại giai
điệu khi nghe giáo viên đàn, nhìn tranh đoán tên bài hát,
nghe giai điệu nhận ra tên bài hát...
2.4.3. Các bước tổ chức hoạt
động vui chơi.
Khi hướng dẫn trò chơi AN là cấu
trúc riêng, giáo viên thực hiện theo
các bước sau:
- Nêu tên trò chơi
- Giải thích cách chơi, luật chơi
- Cho trẻ chơi
- Nhận xét sau khi chơi
- Trong khi tổ chức cho trẻ chơi cần
khuyến khích động viên các trẻ tham
gia,cổ vũ, nâng cao dần yêu cầu
chơi.
2.4.4. Giới thiệu một số trò chơi âm nhạc.
- Trò chơi Nghe tiết tấu
tìm đồ vật
- Trò chơi Điều khiển
phương tiện giao thông
- Trò chơi Tiếng hạt gì
- Trò chơi Cá bơi về đâu?
- Trò chơi Giọng hát các Hoặc cá ơi từ đâu tới
con vật
- Trò chơi Hát về người thân
- Trò chơi Hát chuyền
sỏi
- Trò chơi Tai ai tinh
- Trò chơi Âm thanh nhạc ca
Câu 1: Theo em để tổ chức tốt các hoạt
động âm nhạc trong trường mầm non, giáo
viên cần phải làm gì?
Câu 2: Hãy lựa chọn một bài hát và tiến
hành dạy trẻ 4-5 tuổi hát bài hát đó?
1. Nêu ý nghĩa; Yêu cầu cần đạt khi dạy hát; Cách lựa
chọn bài hát để dạy trẻ hát; Phương pháp dạy trẻ hát và các
bước chuẩn bị để dạy trẻ hát, cho trẻ nghe nhạc, cho trẻ vận
động theo nhạc, trò chơi âm nhạc?
2. Thực hành: Tập hát, vận động theo nhạc các bài dạy
trẻ hát, hát cho trẻ nghe?
3. Tổ chức các hoạt động: Dạy hát cho trẻ; tổ chức cho
trẻ nghe nhạc; Dạy trẻ vận động theo nhạc; tổ chức cho trẻ
chơi trò chơi âm nhạc?
 







Các ý kiến mới nhất