Bài 19. Quê hương

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Trung Hiếu
Ngày gửi: 21h:52' 26-02-2022
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 146
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Trung Hiếu
Ngày gửi: 21h:52' 26-02-2022
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 146
Số lượt thích:
0 người
Tiết 66, 67: Quê hương
Tế Hanh
QUÊ HƯƠNG
Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.
"Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe",
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!
Tế hanh
“Chim bay dọc bể đem tin cá"
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông.
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang.
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió...
Tiết 66, 67: Quê hương
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
Tên khai sinh: Trần Tế Hanh
Sinh ngày 20 tháng 06 năm 1921 tại làng Đông Yên, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Mất ngày 16 tháng 07 năm 2009 tại thủ đô Hà Nội, Việt Nam
Năm 1936, ông bắt đầu sáng tác thơ, ông viết nhiều về quê hương. → Tế Hanh là nhà thơ của quê hương
Năm 1996, ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
2. Tác phẩm
Bài thơ được sáng tác năm Tế Hanh 18 tuổi, khi ông đang học tại Huế.
3. Thể loại
Bài thơ có thể thơ 8 chữ
4. Phương thức biểu đạt
Bài thơ có PTBĐ chính: Miêu tả và Biểu cảm.
5. Bố cục: 04 phần
Phần 1 (2 câu đầu): Giới thiệu chung về làng tôi
Phần 2 (6 câu tiếp): Làng đón chài ra khơi đánh cá
Phần 3 (8 câu tiếp): Cảnh thuyền cá về bến
Phần 4 (4 câu cuối): Nỗi nhớ quê hương
Tiết 66, 67: Quê hương
II. Tìm hiểu văn bản
1. Giới thiệu chung về làng tôi
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông.
Nghề nghiệp của làng tôi là chài lưới
Vị trí: Cửa sông, gần biển
Giới thiệu ngắn gọn nhưng cụ thể. Làng quê như một hòn đảo với nghề chài lưới
2. Cảnh đón chài ra khơi đánh cá
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.
Thiên nhiên:
+ Trời trong
+ Gió nhẹ
+ Sớm mai hồng
Con người:
+ Trẻ tuổi
+ Khỏe mạnh
Báo hiệu chuyến đi đầy hứa hẹn
1. Giới thiệu chung về làng tôi
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang.
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió...
Chiếc thuyền:
+ Hăng như con tuấn mã
+ Phăng mái chèo
+ Mạnh mẽ vượt trường giang
Cánh buồm:
+ Giương to như mảnh hồn làng
+ Rướn thân trắng bao la thâu gớp gió
Miêu tả, so sánh, nhân hóa: Bức tranh thiên nhiên tươi sáng, sinh động. Hình ảnh khỏe khoắn, đầy sức sống của người dân chài trong lao động.
3. Cảnh đón thuyền cá trở về
Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.
"Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe",
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
Không khí: ồn ào, tấp nập
Thành quả: cá đầy ghe, cá tươi ngon
Người dân chài:
+ Làn da ngăm rám nắng
+ Thân hình nồng thở vị xa xăm
Chiếc thuyền:
+ Im bến mỏi trở về nằm
+ Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ
Miêu tả, nhân hóa, ẩn dụ: Gợi lên cảnh sinh hoạt, lao động của làng chài trong niềm vui hân hoan, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
4. Nỗi nhớ quê hương
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!
Nỗi nhớ quê hương khôn ngui
Tưởng nhớ:
+ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi
+ Con thuyền rẽ sống chạy ra khơi
+ Mùi nông mặn
Liệt kê, điệp ngữ: Tình yêu quê hương tha tiết, gắn bó của tác giả
Tiết 66, 67: Quê hương
III. Tổng kết: ghi nhớ (sgk/ 18)
Tế Hanh
QUÊ HƯƠNG
Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.
"Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe",
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!
Tế hanh
“Chim bay dọc bể đem tin cá"
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông.
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang.
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió...
Tiết 66, 67: Quê hương
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
Tên khai sinh: Trần Tế Hanh
Sinh ngày 20 tháng 06 năm 1921 tại làng Đông Yên, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Mất ngày 16 tháng 07 năm 2009 tại thủ đô Hà Nội, Việt Nam
Năm 1936, ông bắt đầu sáng tác thơ, ông viết nhiều về quê hương. → Tế Hanh là nhà thơ của quê hương
Năm 1996, ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
2. Tác phẩm
Bài thơ được sáng tác năm Tế Hanh 18 tuổi, khi ông đang học tại Huế.
3. Thể loại
Bài thơ có thể thơ 8 chữ
4. Phương thức biểu đạt
Bài thơ có PTBĐ chính: Miêu tả và Biểu cảm.
5. Bố cục: 04 phần
Phần 1 (2 câu đầu): Giới thiệu chung về làng tôi
Phần 2 (6 câu tiếp): Làng đón chài ra khơi đánh cá
Phần 3 (8 câu tiếp): Cảnh thuyền cá về bến
Phần 4 (4 câu cuối): Nỗi nhớ quê hương
Tiết 66, 67: Quê hương
II. Tìm hiểu văn bản
1. Giới thiệu chung về làng tôi
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông.
Nghề nghiệp của làng tôi là chài lưới
Vị trí: Cửa sông, gần biển
Giới thiệu ngắn gọn nhưng cụ thể. Làng quê như một hòn đảo với nghề chài lưới
2. Cảnh đón chài ra khơi đánh cá
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.
Thiên nhiên:
+ Trời trong
+ Gió nhẹ
+ Sớm mai hồng
Con người:
+ Trẻ tuổi
+ Khỏe mạnh
Báo hiệu chuyến đi đầy hứa hẹn
1. Giới thiệu chung về làng tôi
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang.
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió...
Chiếc thuyền:
+ Hăng như con tuấn mã
+ Phăng mái chèo
+ Mạnh mẽ vượt trường giang
Cánh buồm:
+ Giương to như mảnh hồn làng
+ Rướn thân trắng bao la thâu gớp gió
Miêu tả, so sánh, nhân hóa: Bức tranh thiên nhiên tươi sáng, sinh động. Hình ảnh khỏe khoắn, đầy sức sống của người dân chài trong lao động.
3. Cảnh đón thuyền cá trở về
Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.
"Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe",
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
Không khí: ồn ào, tấp nập
Thành quả: cá đầy ghe, cá tươi ngon
Người dân chài:
+ Làn da ngăm rám nắng
+ Thân hình nồng thở vị xa xăm
Chiếc thuyền:
+ Im bến mỏi trở về nằm
+ Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ
Miêu tả, nhân hóa, ẩn dụ: Gợi lên cảnh sinh hoạt, lao động của làng chài trong niềm vui hân hoan, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
4. Nỗi nhớ quê hương
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!
Nỗi nhớ quê hương khôn ngui
Tưởng nhớ:
+ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi
+ Con thuyền rẽ sống chạy ra khơi
+ Mùi nông mặn
Liệt kê, điệp ngữ: Tình yêu quê hương tha tiết, gắn bó của tác giả
Tiết 66, 67: Quê hương
III. Tổng kết: ghi nhớ (sgk/ 18)
 








Các ý kiến mới nhất