Violet
Baigiang

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Bài giảng

Tứ thư

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: lại thị hồng vân
Ngày gửi: 11h:00' 02-07-2015
Dung lượng: 3.3 MB
Số lượt tải: 20
Số lượt thích: 0 người


TỨ
THƯ
- Bộ sách Tứ Thư của Nho giáo ra đời cách nay khoảng hơn 2.000 năm, đã trải qua bao sóng gió theo những giai đoạn thăng trầm của lịch sử Trung Hoa. Lần thì bị Tần Thủy Hoàng đốt, lần thì bị tiêu tan trong các cuộc nội chiến triền miên của Trung Hoa. Do vậy khó tránh được nạn "tam sao thất bản". Đến đời nhà Tống, bộ sách này mới được các danh Nho tu chỉnh.
- Đầu tiên là hai anh em họ Trình: Trình Hạo (1032-1085) và Trình Di (1033-1107) hiệu là Y Xuyên, nghiên cứu, soạn tập và chú giải Tứ Thư và Ngũ Kinh. Sau đó Chu Hy (1130-1200) hiệu là Hối Am, bổ cứu và sắp đặt thành chương cú cho có thứ tự phân minh.
- Ngày nay, có những bản sách Tứ Thư và Ngũ Kinh là do công lao của hai anh em Trình Hạo, Trình Di và của Chu Hy thời nhà Tống.

Trung Dung
Đại Học
Đại học nguyên là một chương trong Kinh Lễ (Lễ ký) được viết thành sách trong khoảng thời gian từ thời Chiến Quốc đến thời Tần Hán, được xem là một trong những sách chủ yếu của Nho gia.
Tác giả của đại học là ai hiện nay vẫn chưa xác định rõ, có người cho là của Tử Tư viết, nhưng Chu Hy đời Tống lại cho là của Tăng Tử viết. Bởi Chu Hy cho rằng Tăng Tử là học trò của Khổng Tử nên Tăng Tử ghi chép lại lời của Khổng Tử là hợp đạo lí. Và đa số người ta tin vào giả thiết này hơn. Đại học cùng với Trung Dung, Luận Ngữ và Mạnh Tử hợp thành bộ Tứ Thư được Khổng Tử khởi xướng và Mạnh Tử kế thừa.

Chu Hy cho rằng Đại học là đạo lớn, cương lĩnh, không có cái gì không bao hàm, dung nạp trong đó. Ông còn cho rằng, có thể dùng những thuyết giáo trong sách Đại học để bù đắp lại những lỗ hổng trong tư tưởng của giai cấp thống trị phong kiến.
Hai chữ Đại học ở đây có nghĩa là học vấn uyên bác, tinh sâu. Đời Chu con cháu quý tộc sau khi học qua lớp tiểu học đến 15 tuổi sẽ vào đại học, còn gọi là Thái học, học lí luận quản lí chính sự qua các kinh thư (truyền thuyết cho rằng Đông Phương Sóc là người đặt tên cho bậc đại học này là thái học).
đời Hán xem các kinh ở thời Xuân Thu là Đại kinh, xem Tứ Thư trong đó có Đại học là tiểu kinh. Vào đời Đường xem Đại học, Mạnh Tử và Kinh Dịch như nhau, đều gọi là Kinh thư. Đời Tống, hai anh em Trình Hạo và Trình Di nói “sách Đại học là sách nhập môn cho người mới đi vào học Đạo”. Điều đó nói lên địa vị của Đại học trong các loại kinh thư.
I. Đại học có 11 chương. Chương đầu tiên là Thánh Kinh là ý của Khổng Tử doTăng Tử truyền lại bằng miệng. Còn 10 chương sau giải thích chương đầu tiên do học trò của Tăng Tử ghi chép lại bài giảng của Tăng Tử.
11 chương bao gồm::
Thánh Kinh
Khang cáo
Bàn minh
Bang kì
Thính tụng
Tri bản
7. Thành ý
8. Chính tâm tu nhân
9. Tề gia
10. Trị quốc
11. Hiệt Củ: Trong đạo trị quốc, người trên cần phải làm gương tốt trước, để người dưới noi theo. Không nên xem tài sản là lợi ích mà nên xem nhân nghĩa là lợi ích vậy.
Chương I – Thánh kinh
1. Đại đạo cốt để biết phát huy đức sáng đức tốt đẹp của con người, đổi mới khiến lòng dân bỏ cũ theo mới, bỏ ác làm thiện, ai cũng đạt đến đạo đức hoàn thiện. Phải kiên định chí hướng. Tâm yên tĩnh. Lòng ổn định, suy nghĩ mới chu toàn. Từ đó xử lý giải quyết công việc được thỏa đáng.
Vạn vật đều có đầu có đuôi, có gốc có ngọn.
Vạn sự đều có bắt đầu và có kết thúc. Biết làm cái gì trước cái gì sau là đúng nguyên tắc của Đạo rồi.

2. Thời cổ đại phàm là thánh nhân muốn phát huy tính thiện của con người đều khắp thiên hạ thì trước hết phải lãnh đạo tốt xứ mình, nước mình.
Muốn lãnh đạo tốt xứ mình, nước mình trước hết chỉnh đốn tốt gia tộc gia đình mình.
Muốn chỉnh đốn gia tộc gia đình phải tu dưỡng phẩm chất bản thân mình.
Muốn tu dưỡng phẩm đức bản thân trước hết phải làm cho tâm tư mình ngay thẳng, đoan chính… Muốn ngay thẳng thì ý nghĩ phải thành thật…. Muốn thành thật phải có nhận thức đúng đắn. Mà con đường nhận thức đúng đắn chính là nghiên cứu đến nơi đến chốn nguyên lý của sự vật.
3. Có lĩnh hội được nguyên lý sự vật thì nhận thức mới đúng đắn, ý nghĩ mới thành thật. Ý nghĩ thành thật thì tâm tư ngay thẳng. Tâm tư ngay thẳng mới tu dưỡng phẩm đức tốt. Phẩm đức bản thân tốt thì mới chỉnh đốn tốt gia đình gia tộc. Chỉnh đốn tốt gia đình gia tộc thì mới lãnh đạo xứ mình, nước mình, thiên hạ mới được thái bình.…
4. Từ vua tới người bình dân ai ai cũng phải tu dưỡng đạo đức làm gốc.
Một cái cây, gốc đã mục nát mà ngọn cành còn tươi là điều không thể có.
(Đó là các nguyên tăc và lời bàn rộng của Khổng Tử mà học trò Tăng Tử truyền lại).

Mười chương sau là bài giảng của Tăng Tử nhằm phân tích rõ Thánh kinh, do học trò của Tăng Tử ghi chép lại. Có thể phân thành hai chủ điểm (tam cương và bát mục (*Cương : lớn, khái quát, mục: nhỏ, cụ thể hơn. Cương mục là cấu trúc, tiêu chí).


II. Đại học đưa ra ba cương lĩnh (gọi là tam cương lĩnh), bao gồm:
1. Minh minh đức (phát huy cái đức sáng/ làm sáng/ dùng đức trị)
2. Tân dân (đổi mới dân chúng theo hướng đạo đức Nho gia)
3. Chỉ ư chí thiện (chỉ làm việc thiện).
III.Bát mục (8 bước thực hiện 3 cương lĩnh trên):
1. Cách vật (nghiên cứu thấu đáo sự vật)
2.Trí tri (có kiến thức rõ rệt, hiểu biết sâu sắc, đến cùng)
3.Thành ý (lòng chân thành), thành thật ngay với mình, không giả dối, tạm bợ
4.Chính tâm (giữ lòng dạ ngay thẳng khi tu dưỡng) gần với “thiền”.
5.Tu thân (học làm quân tử: sửa mình làm người tốt.)
6.Tề gia (xây dựng gia đình tốt, hài hòa cân đối)
7.Trị quốc (làm quan chức tốt)
8.Bình thiên hạ (lãnh đạo thiên hạ thái bình / làm thế nào chinh phục thiên hạ / hội nhập quốc tế).
1. Minh minh đức ứng với
Cách vật (nghiên cứu thấu đáo sự vật)
Trí tri (có kiến thức rõ rệt, hiểu biết sâu sắc, đến cùng)
Thành ý (lòng chân thành), thành thật ngay với mình, không giả dối, tạm bợ
Chính tâm (giữ lòng dạ ngay thẳng khi tu dưỡng) gần với “thiền”.
Tu thân (học làm quân tử: sửa mình làm người tốt.
2. Tân dân ứng với :
Tề gia (xây dựng gia đình tốt, hài hòa cân đối)
Trị quốc (làm quan chức tốt)
3. Chỉ ư chí thiện tương ứng với:
Bình thiên hạ (lãnh đạo thiên hạ thái bình / làm thế nào chinh phục thiên hạ / hội nhập quốc tế).


Trung Dung
-Trung Dung là một trong 4 cuốn của bộ Tứ Thư.(Ba quyển còn lại là Đại Học, Luận Ngữ, Mạnh Tử).
-Sách Trung Dung do Tử Tư làm ra cũng trên cơ sở một thiên trong Kinh Lễ (Tử Tư là cháu nội của Khổng Tử, học trò của Tăng Sâm/ Tăng Tử), tiếp thụ được cái học tâm truyền của thầy.
-Mục đích của sách Trung Dung là theo Đạo có thể giúp chúng ta đạt được một trình độ cao của đạo đức.
-Trong sách Trung Dung, Ngũ Tử Tư dẫn những lời của Khổng Tử nói về “đạo trung dung”, tức là nói về cách giữ cho ý nghĩ và việc làm luôn luôn ở mức trung hòa, không thái quá, không bất cập và phải cố gắng ở đời theo nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cho thành người quân tử, để cuối cùng thành thánh nhân.
Sách Trung Dung chia làm hai phần:
Phần 1: từ chương 1 đến chương 20, là phần chính, gồm những lời của Khổng Tử dạy học trò về đạo lý trung dung, phải làm sao cho tâm được: tồn, dưỡng, tĩnh, sát; gồm đủ: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín cho hòa với muôn vật, hợp với lòng Trời để thành người tài giỏi.
1. Thiên mệnh
2. Thời trung
3. Tiển năng
4. Hành minh
5. Bất hành
6. Đại trí
7. Dư trí
8. Phục ưng
9. Khả quân
10. Vấn cường
11. Tố ẩn
12.Phí ẩn
13.Bất viễn
14.Tố vị
15.Hành viễn
16.Quỷ thần
17.Đại hiếu
18. Vô ưu
19.Đạt hiếu
20.Vấn chính

Phần 2: từ chương 21 đến chương 33, là phần phụ, gồm những ý kiến của Tử Tư giảng giải thêm cho rõ nghĩa và giá trị của hai chữ “trung dung”.
21.Thành minh
2 2.Tận tính
23.Trí khúc
24.Tiền tri
25.Tự thành
26.Vô tức
27.Đại tai
28.Tự dụng
29.Tam trọng
30.Thuật tổ
31.Chí thành
32.Kinh luân
33.Thượng cách
Luận Ngữ
- Luận ngữ là một trong những giá trị quí báu độc đáo, tài sản chung của các nền văn hóa khu vực đồng văn (Trung Quốc, Đài Loan, Triều Tiên, Hàn quốc, Nhật Bản và Việt Nam).
- Luận ngữ là sách do học trò ghi chép lại những lời nói, hành vi của Khổng tử, học trò ông và người đương thời.
- Luận ngữ là sự tóm lược những bài giảng, các buổi học và thuật lại nhiều sự việc, nét sinh hoạt của thầy trò Khổng tử.
Sách gồm 20 thiên (tương đương với 20 chương), mỗi thiên gồm nhiều bài. Cách đặt tên thiên: lấy hai chữ xuất hiện đầu thiên làm tựa đề. Có lẽ thật khó đặt một cái tên bao quát nội dung phong phú của thiên. Mỗi thiên có nhiều bài (mỗi bài chỉ là một câu nói, một đối thoại hoặc một câu chuyện rất ngắn).
Toàn bộ Luận ngữ có 511 bài, chỉ là 511 câu nói, đối thoại, mẩu chuyện cực ngắn. Nội dung bao trùm hầu hết những quan niệm về lễ, nhân, đức, trung, nghĩa, trí, tín, dũng, liêm, âm nhạc, văn chương. hội họa, những tình huống đối nhân xử thế đa dạng trong cuộc sống cho đến việc giải trí, nghỉ ngơi, ăn uống. Qua những bài học ngắn gọn, hình ảnh người quân tử và tiểu nhân hiện lên tương phản rõ nét, trong đó tấm gương vua hiền, quan chức mẫu mực và kẻ sĩ chân chính nổi bật ở vị trí trung tâm của cuốn sách.
Đọc qua Luận ngữ, ta thấy nội dung các thiên dường như rời rạc, không có liên hệ với nhau. Thực ra, người quân tử chính là sợi chỉ đỏ kết nối, xuyên suốt tập sách. Chữ nhân là phẩm chất của quân tử, khái niệm mở ra từ hẹp tới rộng, đến vô cùng.
Nội dung chính của Luận ngữ là Quân tử. Chữ Hiếu là điều kiện tiên quyết của quân tử.
Khổng tử coi chữ Hiếu là điều kiện tiên quyết thì các vua chúa đời sau như Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh đẩy nó xuống hàng thứ 2 và đặt chữ Trung (trung quân: trung thành với nhà vua) lên hàng đầu.
Luận Ngữ trình bày đạo quân tử qua lời nói và những câu chuyện sinh động, không giảng lý thuyết dài dòng nhưng rất ấn tượng, dễ hiểu. Nhân vật chính là thầy Khổng tử với bao buồn, vui, lo âu, lạc quan, thất vọng. Thầy Khổng đôi khi cũng mắc khuyết điểm nhưng không giấu diếm.
Về phương pháp giáo dục, Khổng tử thấu hiểu tâm lý của từng học trò, khéo đem lời giảng dạy thích hợp với từng trình độ, từng hoàn cảnh của mỗi người. Có khi cùng một câu hỏi mà ông trả lời cho mỗi người một cách khác nhau.
Luận ngữ có 5 mục tiêu giáo dục rõ rệt: Học làm người. Học làm công dân. Học làm quan. Học làm vua. Học làm thầy giáo.
Luận ngữ là cuốn sách với lời văn giản dị, bề ngoài tưởng như đọc để giải trí. Đây là cuốn sách giáo khoa mở đầu cho truyền thống biên soạn sách học ở Trung Quốc về sau như Tam tự kinh, Ngũ tự kinh, Ấu học ngũ ngôn thi. v.v…
Danh mục 20 thiên của Luận ngữ:

1. Học nhi (việc học) 16 bài
2. Vi chính (làm đúng) 24 bài
3. Bát dật (về Lễ, Nghĩa) 26 bài
4. Lý nhân (về chữ Nhân) 26 bài
5. Công Dã Tràng (con rể Khổng tử) 28 bài
6. Ung dã (Nhiễm Ung trò giỏi của Khổng tử) 30 bài
7. Thuật nhi (thuật lại) 38 bài
8. Thái Bá (chú ruột vua Chu Văn vương) 21 bài
9. Tử hãn (Khổng tử ít khi…) 31 bài
10. Hương đảng (quê nhà) 27 bài

11. Tiên tiến (trước đây) 26 bài
12. Nhan Uyên (học trò giỏi nhất của Khổng tử) 24 bài
13. Tử Lộ (học trò của Khổng tử) 30 bài
14. Hiến vấn  (Nguyên Hiến hỏi) 44 bài
15. Vệ Linh công (vua nước Vệ)  42 bài
16. Quí thị (dòng họ Quý, đại thần nước Lỗ) 14 bài
17. Dương Hóa (quan nước Lỗ) 26 bài
18. Vi Tử (quan chức nhà Ân xưa) 11 bài
19. Tử Trương (học trò của Khổng tử)  25 bài
20. Nghiêu viết (vua Nghiêu thời tiền sử nói)  03 bài.
Mạnh Tử
Mạnh Tử, tên là Mạnh Kha, tự là Tử Dư, sinh vào đời vua Liệt Vương, nhà Chu, quê gốc ở đất Trâu, thuộc nước Lỗ, nay là thành phố Trâu Thành, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Ông mồ côi cha, chịu sự nuôi dạy nghiêm túc của mẹ là Chương thị (người đàn bà họ Chương). Chương thị sau này còn được gọi với tên Mạnh mẫu (mẹ của Mạnh Tử). Mạnh mẫu đã ba lần chuyển nhà để Mạnh Tử được ở trong môi trường sống tốt nhất cho việc học tập, tu dưỡng. Thời niên thiếu, Mạnh Tử làm môn sinh của Tử Tư, tức là Khổng Cấp, cháu nội của Khổng Tử. Vì vậy, ông chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các tư tưởng Khổng giáo. Mạnh Tử là đại biểu xuất sắc của Nho giáo thời Chiến quốc, thời kỳ nở rộ các nhà tư tưởng lớn với các trường phái như Pháp gia, Du thuyết, Nho gia, Mặc gia…Đây là thời kỳ bách gia tranh minh (trăm nhà đua tiếng), cũng là thời kỳ mà các tập đoàn phong kiến tranh giành, xâu xé lẫn nhau gây ra các cuộc chiến tranh liên miên, dân tình vô cùng khổ sở. Tư tưởng của Mạnh tử phát triển thêm tư tưởng của Khổng Tử nhưng ông không tuyệt đối hóa vai trò của vua chúa như Khổng Tử. Ông chủ trương dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh, ông cũng là người đưa ra thuyết tính thiện của con người rằng con người sinh ra đã là thiện rồi (nhân chi sơ bản tính thiện), tư tưởng này đối lập với thuyết tính ác của Tuân Tử rằng nhân chi sơ bản tính ác.

Ông cho rằng “kẻ lao tâm trị người còn người lao lực thì bị người trị”. Học thuyết của ông gói gọi trong các chữ “Nghĩa”, “Trí”, “Lễ”, “Tín”. Ông đem học thuyết của mình đi truyền bá đến vua chúa các nước chư hầu như Tề Tuyên Vương (nước Tề), Đằng Văn Công (nước Đằng), Lương Huệ Vương (nước Nguỵ)…nhưng không được áp dụng. Về cuối đời ông dạy học và viết sách, sách Mạnh Tử của ông là một trong những cuốn sách quan trọng của Nho giáo. Ông được xem là ông tổ thứ hai của nho giáo và được hậu thế tôn làm “Á thánh Mạnh Tử” (chỉ đứng sau Khổng Tử).

Sách do Mạnh Tử và các môn đệ của ông như: Nhạc Chính Khắc, Công Tôn Sửu, Vạn Chương v.v. ghi chép lại những điều đối đáp của Mạnh Tử với các vua chư hầu, giữa Mạnh Tử và các học trò cùng với những lời phê bình của Mạnh Tử về các học thuyết khác như: học thuyết của Mặc Tử, Dương Chu.
Sách Mạnh Tử gồm 2 chủ đề Tâm học và Chính trị học.

(hoặc 3 chủ đề chính: Tính thiện /Vương đạo nhân chính / Nhân nghĩa)

1. Tâm học (khoa học của tâm hồn)

Mạnh Tử cho rằng mỗi người đều có tính thiện do Trời phú cho. Sự giáo dục phải lấy tính thiện đó làm cơ bản, giữ cho nó không mờ tối, trau dồi nó để phát triển thành người lương thiện. Tâm là cái thần minh của Trời ban cho người. Như vậy, tâm của ta với tâm của Trời đều cùng một thể. Học là để giữ cái Tâm, nuôi cái Tính, biết rõ lẽ Trời mà theo chính mệnh.

Nhân và nghĩa vốn có sẵn trong lương tâm của người. Chỉ vì ta đắm đuối vào vòng vật dục nên lương tâm bị mờ tối, thành ra bỏ mất nhân nghĩa. Mạnh Tử đề cập đến khí Hạo nhiên, cho rằng nó là cái tinh thần của người đã hợp nhất với Trời.

Phần Tâm học của Mạnh Tử rất sâu xa, khiến người học dù ở địa vị, cảnh ngộ nào cũng giữ được phẩm giá tôn quí.

2. Chính trị học

Mạnh Tử chủ trương: Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh (Dân là quí, xã tắc thứ hai, nhẹ nhất là vua). Đây là một tư tưởng rất mới và táo bạo trong thời quân chủ chuyên chế đang thịnh hành.

Mạnh Tử chấp nhận chế độ quân chủ, nhưng vua không có quyền lấy dân làm của riêng cho mình. Phải duy dân và vì dân. Muốn vậy, phải có luật pháp công bằng, dẫu vua quan cũng không được vượt ra ngoài pháp luật đó. Người trị dân, trị nước phải chăm lo việc dân việc nước, làm cho đời sống của dân được sung túc, phải lo giáo dục dân chúng hiểu rõ luật pháp mà tuân theo, lấy nhân nghĩa làm cơ bản để thi hành.

Chủ trương về chính trị của Mạnh Tử thật vô cùng mới mẻ và táo bạo, nhưng rất hợp lý, làm cho những người chủ trương quân chủ thời đó không thể nào bắt bẻ được. Có thể đây là lý thuyết khởi đầu để hình thành chế độ quân chủ lập hiến sau này.

Tóm lại, bộ sách Mạnh Tử rất có giá trị với Nho giáo. Phần Tâm học trong sách là đỉnh cao nhất trong học thuyết Nho giáo.
Mạnh tử thư có 14 thiên:

Thiên 1. Lương Huệ vương chương cú thượng

Thiên 2. Lương Huệ vương chương cú hạ

Thiên 3. Công Tôn Sửu thượng

Thiên 4. Công Tôn Sửu hạ

Thiên 5. Đằng Văn Công thượng

Thiên 6. Đằng Văn Công hạ

Thiên 7. Ly Lâu thượng

Thiên 8. Ly Lâu hạ

Thiên 9. Vạn Chương thượng

Thiên 10. Vạn Lâu hạ

Thiên 11. Cáo Tử thượng

Thiên 12. Cáo Tử hạ

Thiên 13. Tận tâm thượng

Thiên 14. Tận tâm hạ

(chú thích: thượng: phần I, hạ: phần II)

Ngũ Kinh

Ngũ kinh là 5 quyển kinh điển dùng làm nền tảng trong Nho giáo. Theo truyền thuyết, 5 quyển này đều được Khổng Tử soạn thảo hay hiệu đính.
Năm quyển gồm có:
1.Kinh Thi (詩經 Shī Jīng): sưu tập các bài thơ dân gian ở 15 nước ven sông Hoàng Hà có từ trước Khổng Tử, nói nhiều về tình yêu nam nữ và các mối quan hệ xã hội khác. Khổng Tử san định thành 300 thiên (bài) nhằm giáo dục mọi người tình cảm trong sáng lành mạnh và cách thức diễn đạt rõ ràng và trong sáng. Một lần, Khổng Tử hỏi con trai tê Lý “Học Kinh Thi chưa?”, người con trả lời “chưa”. Khổng Tử nói “Không học Kinh Thi thì không biết nói năng ra sao” (sách Luận ngữ).
2.Kinh Thư (書經 Shū Jīng): ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ có trước Khổng Tử. Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau nên theo gương các minh quân như Nghiêu, Thuấn chứ đừng tàn bạo như Kiệt, Trụ.
3.Kinh Lễ (禮經 Lǐ Jīng)
Ghi chép các lễ nghi thời trước. Khổng Tử hiệu đính lại mong dùng làm phương tiện để duy trì và ổn định trật tự. Khổng Tử nói: “Không học Kinh Lễ thì không biết đi đứng ở đời” (sách Luận Ngữ).

4.Kinh Dịch (易經 Yì Jīng)
Ghi chép các tư tưởng triết học của người Trung Hoa cổ đại dựa trên các khái niệm âm dương, bát quái,… Đời Chu, Chu Văn Vương đặt tên và giải thích các quẻ của bát quái gọi là Thoán từ. Chu Công Đán giải thích nghĩa của từng hào trong mỗi quẻ, gọi là Hào từ. Khổng Tử giảng giải rộng thêm Thoán từ và Hào từ cho dễ hiểu hơn và gọi là Thoán truyện và Hào truyện. Kinh Dịch thời Chu gọi là Chu Dịch.

5.Kinh Xuân Thu (春秋 Chūn Qiū)
Ghi lại các biến cố xảy ra ở nước Lỗ, quê của Khổng Tử. Khổng Tử không chỉ ghi chép như một sử gia mà theo đuổi mục đích trị nước nên ông chọn lọc các sự kiện, ghi kèm các lời bình, sáng tác thêm lời thoại để giáo dục các bậc vua chúa. Ông nói: “Thiên hạ biết đến ta bởi kinh Xuân Thu, thiên hạ trách ta cũng sẽ ở kinh Xuân Thu này”. Đây là cuốn kinh Khổng Tử tâm đắc nhất, “xuân thu” có nghĩa là mùa xuân và mùa thu, viết về một giai đoạn lịch sử mang tên “Xuân thu” (Xuân Thu: 778 – 455, chế độ phong kiến sơ kỳ. Dồn thành 100 chư hầu, 14 nước lớn, 5 nước xưng bá vương (ngũ bá: Trịnh, Tấn, Tần, Tề, Triệu) ngày càng lấn át hoàng đế nhà Chu. Kế tiếp là thời Chiến quốc: 455-221 tr.CN, bảy nước bá vương nổi lên gọi là thất bá tranh hùng: gồm Tề Sở Hàn Triệu Ngụy Tần Yên), cuối cùng nhà Tần bình định thiên hạ, lên ngôi hoàng đế (Tần Thủy Hoàng đế).

Ngoài ra còn có Kinh Nhạc do Khổng Tử hiệu đính nhưng về sau bị thất lạc, chỉ còn lại một ít ghép làm một thiên vào Kinh Lễ gọi là Nhạc ký.

468x90
 
Gửi ý kiến