
Kính chào các thầy, cô!
Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp
I.Sự đông máu
<Slide3> là một quá trình phức tạp qua đó tạo ra các cục máu đông. Đông máu là một cơ chế quan trọng trong quá trình cầm máu. Khi thành mạch máu bị tổn thương,máu được cầm nhờ chỗ tổn thương được che phủ bởi cục máu đông chứa tiểu cầu và sợi huyết. Rối loạn đông máu có thể làm tăng nguy cơ chảy máu và/hoặc tạo cục máu đông và huyết tắc.
<silde4>phản ứng đông máu được kích hoạt ngay sau chấn thương làm tổn hại đến nội mạc mạch máu. Tiểu cầu lập tức tạo nút chặn cầm máu tại vết thương; đây chính là quá trìnhcầm máu ban đầu. Quá trình cầm máu thứ phát diễn ra đồng thời; các yếu tố đông máu trong huyết tương đáp ứng trong một chuỗi phản ứng để tạo các sợi huyết có vai trò củng cố nút chặn tiểu cầu.[1]
Lời dẫn video: máu đi theo thành phần bình thường hồng cầu, bạch cầu và tiểu huyết cầu trong máu thể pla - xma là : prô - tê - in, muối, ion, chất béo, v.v.
yếu tố của đông máu : yếu tố fibrinogen của đông máu ; yếu tố nội tại yếu tố của đông máu ; yếu tố bên ngoài yếu tố của đông máu : yếu tố yếu tố lối đi chung của đông máu : plasmin
tiểu huyết cầu tổn thương có mạch - chất tạo keo kết dính tổn thương có mạch induces:platelets thu thập quá trình sự cầm máu : tiểu cầu gắn vào fibrinogen fibrinogen chặn đứng thu hút yếu tố của đông máu yếu tố của đông máu thay đổi fibrinogen trong nhựa của chất fibrin sau 24-48 giờ quá trình đông máu ; các phân tử của plamins thích thuần chất fibrin sản phẩm suy thoái tan huyết khối là phagocyted bằng đại thực bào và bạch cầu ưa ê - ô - sin dòng máu bình thường được khôi phục.
=> Đông máu Giúp cơ thể tự bảo vệ, chống mất máu khi bị thương.Có liên quan tới hoạt động của tiểu cầu là chủ yếu.
Tiểu cầu đóng vai trò:Bám vào vết rách và bám vào nhau để tạo thành nút tiểu cầu bịt tạm vết rách.- Giải phóng enzim giúp hình thành búi tơ máu để tạo thành khối máu đông.
Nếu người bị vết thương sâu, rộng, khu cầm máu cần được cấp cứu bằng biện pháp đặc biệt: sơ cứu, tiêm thuốc cầm máu làm máu nhanh đông.
II.
Silde8>Trong lịch sử phát triển y học, con người đã biết truyền máu để cứu chữa người mất máu nhiều do bị thương. Trong suốt thế kỉ XVIII đã có nhiều thử nghiệm nhưng thường gặp tai biến chết người.Đầu thế kỉ XX (1901), Các Lanstâynơ - Nhà khoa học người Áo gốc Do Thái mới tìm ra nguyên nhân đúng của các tai biến là sự kết dính các hồng cầu khi được truyền vào máu của nhóm không phù hợp. Ông đã được giải thưởng Nôben.
Silde9>kháng nguyên là "bất kỳ chất nào mà hệ thống miễn dịch có thể đáp ứng"
Kháng thể là các phân tử quan trọng mà hệ thống miễn dịch của chúng ta sản sinh ra để giúp bảo vệ cơ thể chống lại những tác nhân xâm nhập bên ngoài như vi khuẩn và virus
Hồng cầu máu người cho có hai loại kháng nguyên là A và B
Huyết tương máu của người nhận có hai loại kháng thể là a (gây kết dính A) và b (gây kết dính B). Chúng có gây kết dính hồng cầu máu người cho.
Silde10>Nhóm máu A:Nhóm máu A được đặc trưng bởi sự hiện diện của kháng nguyên A trên các tế bào hồng cầu, và kháng thể B trong huyết tương.
Nhóm máu B:Nhóm máu này tương đối hiếm (chỉ đứng sau AB). Nó chứa các kháng nguyên B trên tế bào hồng cầu, và kháng thể A (để tấn công kháng nguyên A) trong huyết tương.
Nhóm máu AB:Nhóm máu này không phổ biến. Nhóm máu AB được đặc trưng bởi có cả kháng nguyên A và B trên tế bào hồng cầu, và không có kháng thể trong huyết tương.
Nhóm máu O:Nhóm máu O là nhóm máu phổ biến nhất. Nhóm máu O không có kháng nguyên A cũng không có kháng nguyên B trên tế bào hồng cầu, nhưng lại có cả hai kháng thể A và B trong huyết tương.
Silde17> Nguyên tắc truyền máu
Để đảm bảo an toàn trong truyền máu, phải tuân thủ nguyên tắc truyền máu sau:
· Phải truyền cùng nhóm máu để tránh kháng nguyên và kháng thể tương ứng gặp nhau gây ra hiện tượng các hồng cầu kết dính với nhau (ngưng kết).
· Ngoài việc xác định nhóm máu của người cho và người nhận, cần làm phản ứng chéo: Trộn hồng cầu của người cho với huyết thanh của người nhận và ngược lại, trộn hồng cầu của người nhận với huyết thanh của người cho. Nếu không có hiện tượng ngưng kết hồng cầu thì máu đó mới được truyền cho người nhận.
· Nếu truyền máu không hòa hợp thì có thể gây ra những tai biến nghiêm trọng cho người nhận máu, thậm chí gây ra tử vong sau vài ngày.
Tuy nhiên, trong những trường hợp cấp cứu cần truyền máu mà không có máu cùng nhóm, khi đó phải bắt buộc truyền khác nhóm thì bắt buộc phải tuân theo nguyên tắc tối thiểu: "Hồng cầu người cho không bị ngưng kết với huyết thanh người nhận", chỉ được truyền lượng máu ít (250ml) và truyền với tốc độ rất chậm.