Violet
Baigiang

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Bài giảng

Tuần 22. Tràng giang

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hồ Tường Vĩ
Ngày gửi: 10h:09' 09-04-2022
Dung lượng: 7.8 MB
Số lượt tải: 368
Số lượt thích: 2 người (Đào Văn Thái, Hồ Tường Vĩ)
Tràng giang
Huy Cận
Thành viên
Hồ Tường Vĩ
Làm slide,
phân tích 2 khổ đầu
Trần Thanh Hiền Duy
Tổng kết
Nguyễn Công Quốc Bảo (nhóm trưởng)
Làm slide
02
05
04
Trần Thái Nguyên
Tìm Hiểu Chung
Trần An Khang
Phân tích 2 khổ sau
01
03
A. Tìm hiểu chung
Trần Thái Nguyên
I. Tác giả
Huy Cận (Cù Huy Cận) (1919-2005) quê ở làng Ân Phú, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

Thuở nhỏ ông học ở quê rồi vào Huế học hết trung học.

Năm 1939 ra Hà Nội học ở Trường Cao đẳng Canh nông.

Từ năm 1942, Huy Cận tích cực hoạt động trong mặt trận Việt Minh sau đó được bầu vào uỷ ban dân tộc giải phóng toàn quốc.

Sau cách mạng tháng 8, giữ nhiều trọng trách quan trọng trong chính quyền cách mạng.
1. Tiểu sử
I. Tác giả
Sau này ông làm Thứ trưởng Bộ Văn hóa, rồi Bộ trưởng đặc trách Văn hóa Thông tin trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng trong chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Từ 1984, ông là Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam. Ngoài ra, ông còn là Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I, II và VII.
1. Tiểu sử
I. Tác giả
Huy Cận đã được Nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
(đợt I - năm 1996).

Tháng 6 năm 2001, Huy Cận được bầu là viện sĩ Viện Hàn lâm Thơ Thế giới.

Ngày 23 tháng 2 năm 2005, ông được Nhà nước truy tặng Huân chương Sao Vàng.
2. Vị trí và tầm ảnh hưởng
I. Tác giả
Huy Cận là nhà thơ lớn, một đại biểu xuất sắc của phong trào Thơ Mới với hồn thơ ảo não.

Thơ Huy Cận hàm súc, giàu chất suy tưởng triết lí.
3. Sự nghiệp văn học
a. Phong cách nghệ thuật

I. Tác giả
3. Sự nghiệp văn học
b. Di sản văn học
-Một số sáng tác trước Cách mạng tháng Tám 1945.
Lửa thiêng (1940): tập thơ.
I. Tác giả
3. Sự nghiệp văn học
b. Di sản văn học
-Một số sáng tác trước Cách mạng tháng Tám 1945.
Kinh cầu tự (1942): tập văn xuôi.
I. Tác giả
3. Sự nghiệp văn học
b. Di sản văn học
-Một số sáng tác sau Cách mạng tháng Tám 1945.
Đoàn thuyền đánh cá: thơ.
I. Tác giả
3. Sự nghiệp văn học
b. Di sản văn học
-Một số sáng tác sau Cách mạng tháng Tám 1945.
Cô gái Mèo (1972): thơ.
I. Tác giả
3. Sự nghiệp văn học
b. Di sản văn học
-Một số sáng tác sau Cách mạng tháng Tám 1945.
Hạt lại gieo (1984): tập thơ.
II. Tác phẩm
Xuất xứ:
Bài thơ "Tràng giang" được trích trong tập
"Lửa thiêng" (1940).
1. Xuất xứ và hoàn cảnh ra đời
II. Tác phẩm
Hoàn cảnh sáng tác:

+ Bài thơ được viết vào mùa thu năm 1939.

+ Cảm hứng sáng tác được khơi gợi từ hình ảnh
sông Hồng mênh mông sóng nước, bốn bề bao la, vắng lặng.
1. Xuất xứ và hoàn cảnh ra đời
II. Tác phẩm
Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên "trời rộng sông dài".

Đồng thời, cảm giác về cái bé nhỏ, bơ vơ hữu hạn của kiếp người.

Qua đó nhà thơ đã bộc lộ lòng yêu nước thầm kín mà sâu sắc của mình.

2. Chủ đề
II. Tác phẩm
Thất ngôn trường thiên
(thơ đậm phong vị Đường thi).
3. Thể loại
II. Tác phẩm
Ba khổ thơ đầu: Bức tranh thiên nhiên và tâm trạng của nhà thơ.

Khổ thơ cuối : Tình yêu quê hương, đất nước thầm kín, sâu sắc. 
4. Bố cục
II. Tác phẩm
5. Nhan đề
“Tràng Giang”

Một từ Hán Việt mang sắc thái cổ kính, với nghĩa là sông dài, rộng.

Hai âm “ang”, âm mở tạo nên dư âm vang xa, trầm lắng, mênh mang.

→ Gợi không khí cổ kính, khái quát.

→ Nỗi buồn mênh mang, rợn ngợp.
II. Tác phẩm
6. Câu đề từ
“Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”
-H.C
Thâu tóm cả tình: “bâng khuâng”, “nhớ” và cảnh: “trời rộng”, “sông dài”.

Thể hiện nội dung tư tưởng và ý đồ nghệ thuật của tác giả:

+ Nỗi buồn trước cảnh vũ trụ bao la bát ngát.

+ Hình ảnh thiên nhiên rộng lớn, tâm sự của cái tôi cô đơn mang nhiều nỗi niềm.
B. Đọc hiểu văn bản

Khang
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Câu thơ mở đầu khổ thơ thứ nhất đã mở ra một hình ảnh sông nước mênh mang.

→ Từ “điệp điệp” gợi lên hình ảnh những đợt sóng cứ nối đuôi nhau vỗ vào bờ không ngừng nghỉ, không dứt, tô đậm thêm không gian rộng lớn, bao la.
I. Ba khổ thơ đầu
1. Khổ 1
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Hình ảnh: con thuyền xuôi mái nước gợi lên sự nhỏ nhoi.

→ Hình ảnh đối lập giữa không gian sông nước mênh mông với hình ảnh con thuyền nhỏ bé càng gợi lên trong chúng ta sự cô đơn, le loi.
I. Ba khổ thơ đầu
1. Khổ 1
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Thuyền và nước như có một nỗi buồn chia lìa đang đón đợi, cho lòng “sầu trăm ngả”. Đặc biệt, giữa cảnh sông nước mênh mông ấy.
Thuyền và nước như có một nỗi buồn chia lìa đang đón đợi, cho lòng “sầu trăm ngả”. Đặc biệt, giữa cảnh sông nước mênh mông ấy.
I. Ba khổ thơ đầu
1. Khổ 1
I. Ba khổ thơ đầu
→ Trong khổ thơ thứ nhất, nếu ví dòng tràng giang là dòng đời vô tận thì hình ảnh con thuyền, cành củi khô chính là hình ảnh tượng trưng cho kiếp người nhỏ nhoi, vô định, đồng thời gợi lên nỗi buồn không nguôi, không dứt của tác giả.
1. Khổ 1
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
Nghệ thuật đảo ngữ cùng từ láy “lơ thơ”, “đìu hiu” đặc biệt gợi cảm đã gợi lên sự thưa thớt, hoang vắng, lạnh lẽo.

Câu thơ “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều” là câu thơ có nhiều cách hiểu nhưng dẫu hiểu theo cách nào thì câu thơ vẫn gợi lên trong lòng người đọc nỗi buồn, sự hoang vắng, tàn tạ, thiếu vắng đi sự sống của con người.

→ Hai câu thơ đầu đã vẽ nên một không gian hoang vắng, hiu quạnh.
I. Ba khổ thơ đầu
2. Khổ 2
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
Hai câu sau, không gian như được mở rộng cả về bốn phía làm cho cảnh vật vốn đã vắng vẻ lại càng thêm cô liêu và tĩnh mịch hơn, từ đó gợi lên cả nỗi buồn, sự cô đơn đến tột cùng của lòng người.
I. Ba khổ thơ đầu
2. Khổ 2
Hình ảnh “bèo”: Sự vật nhỏ bé, tầm thường thay cho lời diễn tả đến những kiếp người bấp bênh, trôi nổi, vô định.

Hình ảnh “bèo dạt về đâu hàng nối hàng”: gợi lên hình ảnh về kiếp người, cõi nhân sinh trôi nổi, không biết rồi sẽ đi đâu, về đâu.
I. Ba khổ thơ đầu
3. Khổ 3
Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

→ Cái hiện hữu trước mắt là những hình ảnh gợi sự lênh đênh vô định (bèo dạt về đâu) và tĩnh lặng, cô liêu (bờ xanh tiếp bãi vàng).
I. Ba khổ thơ đầu
3. Khổ 3
Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
Bèo giạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
Cấu trúc phủ định “không một chuyến đò ngang” – “không cầu gợi chút niềm thân mật”: Xóa sạch sự kết nối của con người.

Hình ảnh mà thi sĩ khao khát tìm kiếm là chuyến đò ngang, là cây cầu như sự phủ định đã nằm ngay trong từ điệp từ không.

I. Ba khổ thơ đầu
3. Khổ 3
Bèo giạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

→ Cảm thức cô đơn về sự lạc loài trước cảnh sông dài trời rộng đã khiến nhà thơ mong được đón nhận tiếng nói con người, mong được nhìn thấy sự giao lưu gần gũi giữa con người với con người nhưng tất cả vẫn bị ngăn cách.
I. Ba khổ thơ đầu
3. Khổ 3
I. Ba khổ thơ đầu
→ Ở nơi đây không có bất cứ thứ gì gắn kết đôi bờ với nhau, nó thiếu đi dấu vết của sự sống, của bóng hình con người và hơn hết là tình người, mối giao hòa, thân mật giữa con người với nhau.
→ Nỗi buồn về cuộc đời, về nhân thế.
Bèo giạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
3. Khổ 3
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Hình ảnh những đám mây trắng cứ hết lớp này đến lớp khác nối tiếp nhau “đùn” lên dưới ánh nắng chiều như tạo nên những quả núi dát bạc.

Hình ảnh cánh chim xuất hiện như ánh lên một tia ấm áp cho cảnh vật song nó vẫn không làm vơi đi nỗi buồn trong sâu thẳm tâm hồn của nhà thơ.



II. Khổ thơ cuối
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

→ Vẽ nên một bức tranh thiên nhiên chiều tà với vẻ đẹp hùng vĩ, nên thơ.

II. Khổ thơ cuối
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Hình ảnh “dờn dợn vời con nước” không chỉ tả những đợt sóng lan xa mà hơn thế nó còn gợi lên cảm giác buồn nhớ đến vô tận của nhà thơ - nỗi buồn của người xa xứ đang nhớ quê hương da diết.

Câu thơ cuối đậm chất cổ điển khép lại bài thơ đã diễn tả một cách chân thực và rõ nét niềm thương nhớ quê hương đất nước của nhà thơ.


II. Khổ thơ cuối
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

→ Hai câu thơ cuối đã thể hiện nỗi nhớ quê hương da diết, cháy bỏng , là nỗi khao khát tìm đến chỗ dựa cho tâm hồn cô đơn, trống vắng của tác giả.
II. Khổ thơ cuối
→ Hình thức ngôn ngữ mang màu sắc cổ điển nhưng cảm xúc lại mang tính hiện đại: cái tôi cô đơn, bơ vơ, rợn ngợp trước cuộc đời
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
II. Khổ thơ cuối
C. Tổng kết
Trần Thanh Hiền Duy
I. Nghệ thuật
Sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố cổ điển và hiện đại.

Nghệ thuật đối, bút pháp tả giàu tính tạo hình, hệ thống từ láy giàu giá trị biểu cảm.
II. Nội dung
Nỗi sầu của cái tôi cô đơn trước thiên nhiên mênh mông ,hiu quạnh.

Niềm khát khao hòa nhập với cuộc đời và một tình cảm yêu nước thiết tha.
Thanks!
Cảm ơn các bạn đã lắng nghe!

Xin mời các bạn đặt câu hỏi!
468x90
 
Gửi ý kiến