Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Bài 24. Sơ lược về hợp chất có oxi của clo

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Đình Minh
Ngày gửi: 21h:52' 27-02-2022
Dung lượng: 7.9 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích: 0 người
BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO
TÁC PHẨM :
- NGUYỄN TRÃI -
????
I.TÌM HIỂU CHUNG VỀ
TÁC PHẨM
I. TÌM HIỂU CHUNG
HOÀN CẢNH SÁNG TÁC
Năm 1428, sau khi nghĩa quân Lam Sơn chiến thắng giặc Minh.
Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết Bình Ngô Đại Cáo.
THỂ “CÁO” là gì ?
THỂ LOẠI
NGUỒN GỐC
MỤC ĐÍCH
HÌNH THỨC
VĂN NGHỊ LUẬN
Viết theo lối văn biền ngẫu
Trình bày một chủ trương, một sự nghiệp, một tuyên ngôn
TRUNG QUỐC
TÌM HIỂU CHUNG
Ý NGHĨA NHAN ĐỀ TÁC PHẨM
ĐẠI CÁO :
Bài cáo mang tính chất quốc gia trọng đại
BÌNH NGÔ :
Dẹp yên giặc Ngô. Dùng từ Ngô để chỉ giặc Minh
 Sự khinh bỉ và lòng căm thù đối với giặc phương Bắc
BỐ CỤC TÁC PHẨM
Đoạn 1
Đoạn 2
Đoạn 3
Đoạn 4
Nêu luận đề chính nghĩa
Vạch rõ tội ác của kẻ thù
Kể lại quá trình chinh phạt gian khổ và tất thắng của cuộc khởi nghĩa
Tuyên bố chiến quả, khẳng định sự nghiệp chính nghĩa
II. ĐỌC HiỂU VĂN BẢN
Vạch ra tội ác kẻ thù
ĐOẠN 2
Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,
Để trong nước lòng dân oán hận.
Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ,
Bọn gian tà bán nước cầu vinh.
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế,
Gây binh kết oán trải hai mươi năm.
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng,
khốn nỗi rừng sâu, nước độc.

Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng
Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán ;
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa.
Nặng nề những núi phu phen,
Tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.
Lẽ nào trời đất dung tha,
Ai bảo thần nhân chịu được?

BỐI CẢNH LỊCH SỬ
TRẦN THIẾU ĐẾ
Ông ngoại
H? Qu Ly
Tự phong làm vua, lập ra nhà Hồ, làm chính sự rối loạn
Haha. Ta có cớ để xâm lược Đại Việt, mở rộng bờ cõi Đại Minh rồi
Slogan :
“PHÙ TRẦN DIỆT HỒ”
Đem 20 vạn quân sang xâm lược Đại Việt
V.S.
NGUYỄN TRÃI
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
[…] khốn nỗi rừng sâu nước độc











Trong số những tội ác vô nhân
đạo ấy, Nguyễn Trãi đã khái
quát lại thành hai hình tượng
Nguyễn Trãi đã liệt kê những tội ác vô nhân đạo (phi nhân tính) của giặc Minh
Tàn sát dã man người dân
Vơ vét, bóc lột của cải
Hủy hoại môi trường sống
Đó chính là hình tượng “nướng dân đen” và “vùi con đỏ”
Diễn tả rất thực tội ác man rợ kiểu trung cổ của giặc Minh
Có ý nghĩa khắc vào bia căm thù muôn đời nguyền rủa quân xâm lược.
Hình ảnh người dân đen khốn khổ điêu linh còn được làm rõ hơn qua giọng văn đau xót, đầy nước mắt của những kẻ góa bụa khốn cùng
Trái lại, hình ảnh lũ giặc tàn bạo chẳng khác loài quỷ sứ sa tăng khát máu càng hiện lên rõ mồn một
HÌNH ẢNH MANG TÍNH ĐỐI LẬP, TƯƠNG PHẢN
Nheo nhóc thay kẻ góa bụa, khốn cùng
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi
Lấy cái vô hạn (trúc Nam Sơn) để nói cái vô hạn (tội ác của giặc)
Dùng cái vô cùng (nước Đông Hải) để nói lên cái vô cùng (sự nhơ bẩn của kẻ thù)
Câu văn với giọng điệu đanh thép đã cho ta cảm nhận sâu sắc tội ác của kẻ thù  thương dân, yêu nước
Lẽ nào trời đất dung tha
Ai bảo thần nhân chịu được
“Gieo nhân nào ắt gặp quả ấy” – đó là quy luật tất yếu của cuộc đời. Những hành động tàn ác, cay nghiệt sẽ phải nhận lấy đau thương, mất mát mà thôi.
Tiểu kết
VỀ MẶT NỘI DUNG
VỀ MẶT NGHỆ THUẬT
Đoạn thơ thứ hai hiện lên như một bản cáo trạng chi tiết, cặn kẽ về những tội ác mà quân Minh đã gây ra đối với dân tộc Đại Việt. Bên cạnh đó, đoạn thơ còn là hồi chuông được gióng lên đòi quyền sống của người dân vô tội
Lời văn trong bản cáo trạng đanh thép, thống thiết, khi uất hận trào sôi, cảm thương tha thiết, lúc lại nghẹn ngào chua xót…
Kể lại quá trình chinh phạt gian khổ và tất thắng của nghĩa quân
ĐOẠN 3
a) Chặng đầu của cuộc khởi nghĩa :
- Địa bàn: hẻo lánh, xa xôi.
Tương quan lực lượng: địch mạnh > ta yếu
Nhân tài hiếm hoi “như lá mùa thu”
Lương thực thực phẩm: Thiếu thốn “Linh Sơn lương hết..”
=> Nhiều khó khăn, thách thức
Trong tác phẩm “Bình Ngô đại cáo”
Hình tượng nhân vật Lê Lợi có sự thống nhất giữa con người bình thường và lãnh tụ cuộc khởi nghĩa
Nguồn gốc xuất thân
Lòng căm thù giặc sâu sắc
Lý tưởng và hoài bão to lớn
Quyết tâm cao độ
Tài quân sự: chiến lược đúng đắn
Qua tác phẩm, Lê Lợi là người anh hùng áo vải xuất thân từ nông dân có phẩm chất tốt đẹp của người anh hùng, xứng đáng là linh hồn của cuộc khởi nghĩa, là lãnh tụ của nghĩa quân. Qua hình tượng nhân vật Lê Lợi, tác giả thể hiện được tính chất nông dân của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn : vượt qua gian khổ khó khăn và dùng sức mạnh để chiến thắng.
Lúc khởi sự ban đầu binh lực hãy còn yếu thế nhiều lần hơn so với kẻ thù, lại thiếu nhân tài, thiếu quân, thiếu lương thực.
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần
Khi Khôi Huyện quân không một đội
Nhưng nhờ ý chí quyết tâm khắc phục khó khăn, có chiến lược, chiến thuật đúng đắn và tinh thần đoàn kết đoàn kết tướng sĩ một lòng, Lê Lợi đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa thành công
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều
Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào
Tuấn kiệt như sao buổi sớm
Nhân tài như lá mùa thu
=> Đoàn kết, đồng lòng toàn quân toàn dân, vận dụng những mưu kế quân sự tài giỏi, dùng lối đánh bất ngờ, nhanh gọn => TÀI, TÂM
b) Chặng thứ hai của cuộc khởi nghĩa: Phản công, thắng lợi
* Đầu tiên, Nguyễn Trãi đã đề cập đến lập trường đúng đắn tập hợp sức mạnh để thành công
Đem
Lấy
đại
cường bạo
nghĩa
hung tàn
chí
nhân
để thay
để thắng
PHÉP ĐỐI TƯƠNG HỖ
Ý nghĩa : dùng tấm lòng nhân ái để thu phục quân giặc bạo tàn, đây chính là kế sách “Chẳng đánh mà người chịu khuất – ta đây mưu phạt tâm công” (đánh vào lòng người) mà Nguyễn Trãi đã đề ra.
*Quá trình chinh phạt: 3 giai đoạn
GĐ1: Mở màn với chiến thắng Bạch Đằng
. Diễn ra nhanh mạnh mẽ, bất ngờ
- GĐ2: Áp đảo: đánh ra Bắc “Tây Kinh” – sào huyêt của địch
Hình ảnh chiến trận khủng khiếp: máu chảy thành sông, thây chất đầy nội, bêu đầu, bỏ mạng => Thảm hại của quân thù
- GĐ3: Diệt viện.
Hình ảnh khoa trương, phóng đại.
Giọng điệu hả hê, sảng khoái
Những hình tượng phong phú, đa dạng, đo bằng sự rộng lớn và kì vĩ của thiên nhiên đã được khắc họa qua các trận đánh :
Sấm vang chớp dậy
Trúc chẻ tro bay
Sạch không kình ngạc
Tan tác chim muông
Trút sạch lá khô
Phá toang đê vỡ
Đá núi phải mòn
Nước sông phải cạn
Máu chảy thành sông
Máu trôi đỏ nước
Thây chất đầy nội
Thây chất đầy đường
Khung cảnh chiến trường hiện lên lúc đó : sắc phong vân phải đổi, ánh nhật nguyệt phải mờ
Lam Sơn
Tây Đô
Tõn Bỡnh
Thu?n Húa
Trà Lân
Diễn Châu
Khả Lưu
Lục Niên
Đa Căng
Nghệ An
12/10/1424
NHỮNG TRẬN ĐÁNH LỚN
Trận Tây Kinh (Tân Bình – Thuận Hóa)
+ Thượng thư, đô đốc, tổng binh : điên cuồng, nhút nhát, “lê gối”, “trói tay”, “tự vẫn”
+ Vua Minh : “thằng nhãi con”
+ Giặc : “máu trôi”, “thây chất”
+ Thế giặc : “tổ kiến…vỡ”
Kẻ thù hèn nhát, tham sống sợ chết
- Cảm hứng anh hùng ca được thể hiện:
+ Sự đối lập, tương phản giữa ta và địch bằng những so sánh kì vĩ với các hình ảnh với tính từ : “Sấm…”, “trúc chẻ…” “sạch…”, “tan tác…” “quét…” “sắc phong…mờ”

NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG TỪ

Các động từ mạnh liên kết với nhau tạo thành những rung chuyển dồn dập, dữ dội.
Câu văn khi dài, khi ngắn, biến hóa linh hoạt trên nền chung là nhạc điệu dồn dập, sảng khoái.
Âm thanh giòn giã, hào hùng như sóng trào, bão cuốn. Đó là nhịp điệu của sóng triều dâng, từ ngày này qua ngày khác :
Ngày mười tám…
Ngày hai mươi…
Ngày hăm lăm…
Ngày hăm tám…
Hình ảnh quân thù
“Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lí An, Phương chính nín thở cầu thoát thân.
… …vẫn tim đập chân run.”
- Kết cục bi thảm của những tướng giặc ham sống sợ chết, tất cả bọn chúng đều hèn nhát, đều thất bại thảm hại.
=> Hình ảnh quân thù được miêu tả bằng chi tiết cụ thể, kết hợp với những hình ảnh mang tính tượng trưng, đặc biệt với thủ pháp đối lập: Qua đó càng nêu bật khí thế hào hùng, thắng lợi vẻ vang và bản chất nhân đạo của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Càng nêu bật những thất bại thảm hại của kẻ thù.
tác giả dựng lên một bức tranh toàn cảnh cuộc khởi nghĩa Lam Sơn với bút pháp nghệ thuật đậm chất anh hùng ca
Tuyên bố chiến quả, khẳng định sự nghiệp chính nghĩa
ĐOẠN 4
Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Kiền khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ;

Than ôi!

Một cỗ nhung y chiến thắng,
Nên công oanh liệt ngàn năm
Bốn phương biển cả thanh bình,
Ban chiếu duy tân khắp chốn.

Xa gần bá cáo,
Ai nấy đều hay.
Với một giọng văn trịnh trọng và vui mừng trong đoạn kết, quan Thừa chỉ Nguyễn Trãi đã truyền đi lời tuyên bố nền độc lập của dân tộc đã được lập lại sau suốt 20 năm đằng đẵng
Tác giả còn nhắc đến sức mạnh của truyền thống, công lao của tổ tiên và quy luật Thịnh – Suy – Bĩ – Thái thể hiện niềm tin và quyết tâm xây dựng đất nước của toàn dân tộc.
 Bài học lịch sử rút ra được : sự thay đổi nhưng thực chất là sự phục hưng là điều kiện để thiết lập nên sự vững bền.
2 câu nói về sự vững bền
4 câu nói về sự thay đổi
Sự vững bền được xây dựng trên cơ sở của sự phục hưng dân tộc, cho nên viễn cảnh của đất nước thật sáng tươi huy hoàng
Bốn phương biển cả thanh bình,
Ban chiếu duy tân khắp chốn.
Đoạn thơ là một sự kết hợp giữa sức mạnh truyền thống và sức mạnh của thời đại : nhờ có tổ tông linh thiêng phò hộ, ngầm giúp đỡ, nhờ có chiến thắng trong quá khứ đã làm nên oanh liệt ngàn năm.
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ;
[…] Một cỗ nhung y chiến thắng,
Nên công oanh liệt ngàn năm
Trong lời tuyên bố kết thúc chiến tranh, cảm hứng về độc lập dân tộc đã hòa quyện với niềm tin về quy luật vận động của thế giới (bĩ – thái, hối – minh) để hướng tới sự sáng tươi, phát triển, khắc họa quyết tâm của dân tộc Đại Việt về một nền thái bình vững chắc.
Sơ đồ kết cấu của Đại cáo Bình Ngô
Nhận xét về kết cấu trên
Đây là kết cấu điển hình cho văn bản chính luận :

Trước tiên : nêu tiền đề có tính chân lí làm cơ sở chính luận
Thứ hai : soi sáng tiền đề vào thực tiễn, chỉ rõ đâu là phi nghĩa để tố cáo, lên án ; đâu là chính nghĩa để khẳng định, ngợi ca.
Cuối cùng : rút ra kết luận trên cơ sở tiền đề và thực tiễn
III.TỔNG KẾT
1. Giá trị nghệ thuật.
- Bố cục: Chặt chẽ, cân đối.
- Câu văn, giọng văn linh hoạt.
- Ngôn ngữ, hình tượng trong thơ phong phú, vừa cụ thể vừa khái quát.
2. Giá trị nội dung.
- Bài cáo đã khái quát quá trình kháng chiến gian lao nhưng vô cùng anh dũng của dân tộc trong quá trình kháng chiến chống giặc Minh xâm lược.
- Qua đó tác giả đã khẳng định, đề cao sức mạnh của lòng yêu nước và tư tưởng nhân nghĩa, ca ngợi cuộc kháng chiến anh hùng của dân tộc, thể hiện sâu sắc niềm tự hào dân tộc.
 
Gửi ý kiến