Tuần 3. Thương vợ.

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Huỳnh Lê Diễm Nga
Ngày gửi: 16h:09' 16-10-2021
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 81
Nguồn:
Người gửi: Huỳnh Lê Diễm Nga
Ngày gửi: 16h:09' 16-10-2021
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 81
Số lượt thích:
0 người
Chủ đề tích hợp:
THƯƠNG VỢ
TRẦN TẾ XƯƠNG
II. TÌM HIỂU CHUNG :
1. Tác giả:
- Tên thường gọi Tú Xương. Quê quán: Nam Định
- Là người thông minh, cá tính và có tài nhưng lận đận trong thi cử
- Cuộc đời ngắn ngủi, nhiều gian truân và một sự nghiệp thơ ca bất tử.
- Ông đã để lại khoảng hơn 100 bài thơ bằng chữ Nôm với 2 mảng thơ: Trào phúng và trữ tình.
- Nội dung: phơi bày bộ mặt của xã hội đương thời → tình cảm của tác giả
2. Tác phẩm :
a. Hoàn cảnh sáng tác:
Sáng tác vào khoảng năm 1897 , người vợ trong tác phẩm chính là vợ của nhà thơ: bà có tên Phạm Thị Mẫn, một người vợ đảm đang , chịu khó , tần tảo lo cho gia đình,....cảm thương cho số phận của bà nên Tú Xương viết bài thơ ca ngợi người vợ ông.
b. Thể loại:
Thất ngôn bát cú Đường luật
c . Bố cục:
Đề - Thực – Luận – Kết
THƯƠNG VỢ
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không.
I. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1. Hai câu đề: lời kể về công việc làm ăn và gánh nặng mà bà Tú phải đảm đương.
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
- Thời gian:
- Nghề nghiệp:
quanh năm – triền miên, bất kể mưa nắng, không có ngày nghỉ ngơi
buôn bán – công việc gợi sự bấp bênh, thu nhập không ổn định
- Không gian: mom sông – dải đất cheo leo nhô ra mặt nước chênh vênh, không thuận lợi, nguy hiểm
- Mục đích công việc: “Nuôi đủ năm con với một chồng”
- Liệt kê (cách đếm): năm con - một chồng. Ông ví mình như một đứa con ăn bám vợ “vô tích sự”
→ Hai câu thơ nói lên sự vất vả, đảm đang của bà Tú. Đồng thời nhà thơ tự trách mình như một đứa con ăn bám vợ.
2. Hai câu thực: đặc tả cảnh làm ăn vất vả để mưu sinh của bà Tú
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông
- Ẩn dụ: thân cò trong ca dao xưa - bà Tú gợi dáng vẻ nhỏ bé, bơ vơ đến tội nghiệp
- Đảo ngữ lặn lội: Nhấn mạnh sự cơ cực vất vả
- Khi quãng vắng: Khi vắng vẻ , không có người → Sáng tinh sương hoặc khi trời chợp tối ..
3. Hai câu luận: bình luận về cảnh đời oái oăm mà bà Tú gánh chịu.
Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công
- Thành ngữ “Một duyên 2 nợ” , “Năm nắng mười mưa” để nhấn mạnh sự gian nan, cực khổ của bà Tú gia tăng, như là số phận, là món nợ phải trả.
- “Âu đành phận”, “dám quản công” nợ phải trả, công phải đền, không than thở, hi sinh âm thầm vì chồng con.
→ Ông Tú đã đứng vị trí của bà Tú để suy nghĩ, thấu hiểu nỗi vất vả, đức hi sinh cao đẹp của bà: dù cuộc sống mưu sinh có vất vả đến đâu cũng không một lời kêu than
4. Hai câu kết:
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không”
- Cha mẹ :
Cha mẹ bà Tú
- Thói đời:
Thói hư tật xấu ở đời
- Ăn ở bạc :
Bạc bẽo , bạc ác
- Chồng hờ hững :
Chồng vô tích sự không lo gì được cho gia đình
Bà Tú thầm trách cha mẹ mình không biết trước đây có ăn ở bạc bẽo không để rồi bà phải nhận hậu quả : gặp được ông chồng vô tích sự , chẳng lo gì được cho gia đình. Ngoài ra ông Tú mượn lời bà Tú để thầm trách bản thân mình vô tích sự, chẳng lo gì được cho gia đình
4. Hai câu kết: tiếng chửi, tự chửi mình và chửi thói đời đen bạc.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không.
- Dùng từ khẩu ngữ - tiếng chửi để tự rủa, tự chửi cái vơ tích sự của bản thân
4. Hai câu kết:
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không”
- Cha mẹ :
Cha mẹ bà Tú
- Thói đời:
Thói hư tật xấu ở đời
- Ăn ở bạc :
Bạc bẽo , bạc ác
- Chồng hờ hững :
Chồng vô tích sự không lo gì được cho gia đình
Bà Tú thầm trách cha mẹ mình không biết trước đây có ăn ở bạc bẽo không để rồi bà phải nhận hậu quả : gặp được ông chồng vô tích sự , chẳng lo gì được cho gia đình. Ngoài ra ông Tú mượn lời bà Tú để thầm trách bản thân mình vô tích sự, chẳng lo gì được cho gia đình
- Đối tượng của tiếng chửi: “thói đời”
+ Quy tắc, lễ giáo bất công đã đẩy bất hạnh lên vai của người phụ nữ
+ Xã hội rối ren, bạc bẽo
+ Chính bản thân mình – một người chồng “vô tích sự”
→ Ông Tú hiện lên vừa có phần đáng trách, vừa đáng thương, đáng trọng. Ẩn sau đó là tình người sâu nặng, giàu lòng yêu thương của Tú Xương.
Dặn dò
III.TỔNG KẾT
1. Nghệ thuật
- Từ ngữ giản dị, giàu sức biểu cảm
- Vận dụng sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ văn học dân gian, ngôn ngữ đời sống
Tình thương yêu, quý trọng vợ của Tú Xương thể hiện qua sự thấu hiểu nỗi vất vả, gian truân và những đức tính cao đẹp của bà Tú. Qua bài thơ, người đọc không những thấy hình ảnh bà Tú mà còn thấy được những tâm sự và vẻ đẹp nhân cách Tú Xương
2. Ý nghĩa văn bản
Đề 1: Phân tích bài thơ "Thương vợ" của Trần Tế Xương
Đề 2: Trình bày cảm nhận của anh/chị về tiếng chửi của Tú Xương trong hai câu thơ cuối
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không”.
THƯƠNG VỢ
TRẦN TẾ XƯƠNG
II. TÌM HIỂU CHUNG :
1. Tác giả:
- Tên thường gọi Tú Xương. Quê quán: Nam Định
- Là người thông minh, cá tính và có tài nhưng lận đận trong thi cử
- Cuộc đời ngắn ngủi, nhiều gian truân và một sự nghiệp thơ ca bất tử.
- Ông đã để lại khoảng hơn 100 bài thơ bằng chữ Nôm với 2 mảng thơ: Trào phúng và trữ tình.
- Nội dung: phơi bày bộ mặt của xã hội đương thời → tình cảm của tác giả
2. Tác phẩm :
a. Hoàn cảnh sáng tác:
Sáng tác vào khoảng năm 1897 , người vợ trong tác phẩm chính là vợ của nhà thơ: bà có tên Phạm Thị Mẫn, một người vợ đảm đang , chịu khó , tần tảo lo cho gia đình,....cảm thương cho số phận của bà nên Tú Xương viết bài thơ ca ngợi người vợ ông.
b. Thể loại:
Thất ngôn bát cú Đường luật
c . Bố cục:
Đề - Thực – Luận – Kết
THƯƠNG VỢ
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không.
I. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1. Hai câu đề: lời kể về công việc làm ăn và gánh nặng mà bà Tú phải đảm đương.
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
- Thời gian:
- Nghề nghiệp:
quanh năm – triền miên, bất kể mưa nắng, không có ngày nghỉ ngơi
buôn bán – công việc gợi sự bấp bênh, thu nhập không ổn định
- Không gian: mom sông – dải đất cheo leo nhô ra mặt nước chênh vênh, không thuận lợi, nguy hiểm
- Mục đích công việc: “Nuôi đủ năm con với một chồng”
- Liệt kê (cách đếm): năm con - một chồng. Ông ví mình như một đứa con ăn bám vợ “vô tích sự”
→ Hai câu thơ nói lên sự vất vả, đảm đang của bà Tú. Đồng thời nhà thơ tự trách mình như một đứa con ăn bám vợ.
2. Hai câu thực: đặc tả cảnh làm ăn vất vả để mưu sinh của bà Tú
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông
- Ẩn dụ: thân cò trong ca dao xưa - bà Tú gợi dáng vẻ nhỏ bé, bơ vơ đến tội nghiệp
- Đảo ngữ lặn lội: Nhấn mạnh sự cơ cực vất vả
- Khi quãng vắng: Khi vắng vẻ , không có người → Sáng tinh sương hoặc khi trời chợp tối ..
3. Hai câu luận: bình luận về cảnh đời oái oăm mà bà Tú gánh chịu.
Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công
- Thành ngữ “Một duyên 2 nợ” , “Năm nắng mười mưa” để nhấn mạnh sự gian nan, cực khổ của bà Tú gia tăng, như là số phận, là món nợ phải trả.
- “Âu đành phận”, “dám quản công” nợ phải trả, công phải đền, không than thở, hi sinh âm thầm vì chồng con.
→ Ông Tú đã đứng vị trí của bà Tú để suy nghĩ, thấu hiểu nỗi vất vả, đức hi sinh cao đẹp của bà: dù cuộc sống mưu sinh có vất vả đến đâu cũng không một lời kêu than
4. Hai câu kết:
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không”
- Cha mẹ :
Cha mẹ bà Tú
- Thói đời:
Thói hư tật xấu ở đời
- Ăn ở bạc :
Bạc bẽo , bạc ác
- Chồng hờ hững :
Chồng vô tích sự không lo gì được cho gia đình
Bà Tú thầm trách cha mẹ mình không biết trước đây có ăn ở bạc bẽo không để rồi bà phải nhận hậu quả : gặp được ông chồng vô tích sự , chẳng lo gì được cho gia đình. Ngoài ra ông Tú mượn lời bà Tú để thầm trách bản thân mình vô tích sự, chẳng lo gì được cho gia đình
4. Hai câu kết: tiếng chửi, tự chửi mình và chửi thói đời đen bạc.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không.
- Dùng từ khẩu ngữ - tiếng chửi để tự rủa, tự chửi cái vơ tích sự của bản thân
4. Hai câu kết:
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không”
- Cha mẹ :
Cha mẹ bà Tú
- Thói đời:
Thói hư tật xấu ở đời
- Ăn ở bạc :
Bạc bẽo , bạc ác
- Chồng hờ hững :
Chồng vô tích sự không lo gì được cho gia đình
Bà Tú thầm trách cha mẹ mình không biết trước đây có ăn ở bạc bẽo không để rồi bà phải nhận hậu quả : gặp được ông chồng vô tích sự , chẳng lo gì được cho gia đình. Ngoài ra ông Tú mượn lời bà Tú để thầm trách bản thân mình vô tích sự, chẳng lo gì được cho gia đình
- Đối tượng của tiếng chửi: “thói đời”
+ Quy tắc, lễ giáo bất công đã đẩy bất hạnh lên vai của người phụ nữ
+ Xã hội rối ren, bạc bẽo
+ Chính bản thân mình – một người chồng “vô tích sự”
→ Ông Tú hiện lên vừa có phần đáng trách, vừa đáng thương, đáng trọng. Ẩn sau đó là tình người sâu nặng, giàu lòng yêu thương của Tú Xương.
Dặn dò
III.TỔNG KẾT
1. Nghệ thuật
- Từ ngữ giản dị, giàu sức biểu cảm
- Vận dụng sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ văn học dân gian, ngôn ngữ đời sống
Tình thương yêu, quý trọng vợ của Tú Xương thể hiện qua sự thấu hiểu nỗi vất vả, gian truân và những đức tính cao đẹp của bà Tú. Qua bài thơ, người đọc không những thấy hình ảnh bà Tú mà còn thấy được những tâm sự và vẻ đẹp nhân cách Tú Xương
2. Ý nghĩa văn bản
Đề 1: Phân tích bài thơ "Thương vợ" của Trần Tế Xương
Đề 2: Trình bày cảm nhận của anh/chị về tiếng chửi của Tú Xương trong hai câu thơ cuối
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không”.
 







Các ý kiến mới nhất