Bài 6- Văn bản 1- Ba chàng sinh viên

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trang Quang An
Ngày gửi: 15h:45' 16-01-2026
Dung lượng: 137.9 MB
Số lượt tải: 25
Nguồn:
Người gửi: Trang Quang An
Ngày gửi: 15h:45' 16-01-2026
Dung lượng: 137.9 MB
Số lượt tải: 25
Số lượt thích:
0 người
Thám tử lớp em
Cách chơi:
- GV đưa mật thư cho một bạn trong lớp
- Thám tử quan sát hành động, biểu hiện, trạng thái để phán đoán người giữ mật thư.
- Thám tử được đặt 5 câu hỏi liên quan đến đặc điểm và hành động để tìm ra ai là người
giữ mật thư dạng "Có/Không".
VD: Người giữ mật thư là người đeo kính phải không?
- Các học sinh khác sẽ trả lời "Đúng" hoặc "Sai" dựa trên đặc điểm hoặc hành động mà
câu hỏi đề cập tới.
Kết thúc trò chơi:
- Trò chơi kết thúc khi thám tử đoán đúng người giữ mật thư hoặc sau khi đặt hết 5 câu
hỏi.
- Thám tử sẽ được thưởng nếu chỉ ra đúng hoặc bị phạt nếu chỉ sai người giữ mật thư.
Bài 6:
GIẢI
Mã
NHỮNG
BÍ
MẬT
Cuộc số
ng là một
câu đố và giải mã
những bí mật của
nó là cuộc phiêu
lưu đầ
y thú vị.
-Đan Bờ - rao (Dan
Brown)-
Giới thiệu
bài học
1. Chủ đề
Giải mã những bí mật
Thế giới tự nhiên và đời sống xã hội luôn
ẩn chứa bao điều bí mật, thách thức sự
khám phá của con người. Việc khám phá,
giải mã những bí ẩn không chỉ để thỏa
mãn trí tò mò, khả năng phán đoán, mà
còn góp phần giúp chúng ta giải quyết
nhiều vấn đề hệ trọng của cuộc sống
2. Thể loại
Ba chàng sinh viên,
A-thơ Cô-nan Đoilơ (Athur Conan
Doyle)
Truyện trinh
thám
Bài hát đồng sáu xu,
A-ga-thơ Crít-xti
(Agatha Christie)
Truyện
thám
trinh
Phạm Xuân Ẩn – tên
người như cuộc đời
(trích), Nguyễn Thị
Ngọc Hải
Văn bản kí
Bài 6:
Giải Mã những bí mật
Tiết 73,74,75 Văn bảnBa chàng sinh viên
(A-Thơ Cô-nan Đoi-lơ)
I.
Đọc – tìm hiểu chung
- Đọc to, rõ ràng, diễn cảm.
- Đọc phân vai
- Chú ý sử dụng chiến lược đọc trong các thẻ chỉ dẫn:
theo dõi, dự đoán, suy luận, đối chiếu.
Chú thích
- Inch: đơn vị đo chiều dài, được sử dụng
phổ biến ở một số nước nói tiếng Anh như:
Anh, Mỹ, Ca-na-da (Canada),…; 1 inch
tương đương 2,54 cm.
- Foot: đơn vị đo chiều dài, được sử dụng phổ biến ở một số nước
nói tiếng Anh như: Anh, Mỹ, Ca-na-đa,…1 foot tương đương
30,48 cm
- Khánh kiệt: bị mất hết tài sản
a. Tác giả
- Là nhà văn người Xcốt-len (Scotland)
- Sáng tác ở nhiều thể loại như: tiểu thuyết lịch
sử, truyện khoa học viễn tưởng, truyện ngắn,
kịch,…
- Nổi tiếng trên toàn thế giới với truyện trinh
thám, trong đó nhân vật chính là Sơ-lốc Hôm.
A-thơ Cô-nan Đoi-lơ
(1859-1930)
b. Tác phẩm
Xuất xứ
PTBĐ
chính
Tự sự
In trong tập truyện “Sự trở về
của Sơ-lốc Hôm (1905)
Thể loại
Truyện trinh thám
Báo cáo sản phẩm
ìm hiểu về truyện trinh
thám
* TRi thức Ngữ văn: Truyện trinh thám
- Là loại tác phẩm truyện
- Viết về quá trình điều tra vụ án
- Thường có những sự việc bí ẩn, bất
ngờ
- Quá trình phá án của người điều tra
dựa trên yếu tố quan trọng là sự suy
luận logic.
- Vụ án thường được làm sáng tỏ ở
phần kết thúc truyện.
*. Truyện trinh thám
- Hiện nay, thể loại truyện trinh
thám có vị trí quan trọng trong
đời sống văn học, nhiều tác phẩm
trinh thám đã gây được sức hấp
dẫn lớn với bạn đọc.
*. Một số yếu tố của truyện trinh thám
a. Không gian
- Là không gian hiện trường – nơi xảy ra
vụ án, cũng là nơi người điều tra nghiên
cứu để tìm thủ phạm
- Gồm:
+ Không gian rộng (khu rừng, hang
động, góc phố,…)
+ Không gian nhỏ hẹp (căn phòng, bàn
ăn,…)
- Được khắc họa chi tiết, cụ thể và gắn
liền với dấu hiệu bằng chứng phạm tội
Ví dụ, trong truyện “Ba
chàng sinh viên”, không
gian vụ án là văn phòng
của thầy Hin-tơn Xôm. Sơlốc Hôm đã quan sát rất kĩ
không gian đó, phát hiện
ra những dấu vết phạm tội
quan trọng và đặc ra các
giả thuyết.
*. Một số yếu tố của truyện trinh thám
b. Thời gian
- Thường được giới
thiệu ở phần đầu tác
phẩm. Gồm thông tin
cụ thể về tháng, năm
hay tình huống mà
người điều tra tiếp nhận
vụ án.
tạo tính chân thực
cho câu chuyện
- Thường xây dựng tình
huống người điều tra chịu áp
lực chạy đua với thời gian để
tìm ra kẻ phạm tội.
tạo ra sự căng thẳng, hấp
dẫn cho người đọc, đồng
thời cho thấy tài năng của
người điều tra.
Ví dụ, trong truyện “Ba chàng sinh viên”, thời
gian được mở đầu bằng câu: “Vào năm 1895, một
loạt sự kiện mà tôi không muốn đi sâu ở đây đã
khiến Sơ-lốc Hôm và tôi phải lưu lại vài tuần tại
một thành phố đại học của Anh.”.
Tình huống thám tử Sơ-lốc Hôm tiếp nhận vụ án là
“Hồi ấy, chúng tôi ngụ tại một nhà trọ tiện nghi
gần thư viện mà Sơ-lốc Hôm năng lui tới để làm
một vài nghiên cứu về hiến chương Anh thời đầu
(chúng đã đưa đến các thành quả nổi bật, có thể là
đề tài cho những câu chuyện tôi kể sau này).”
Tạo nên tính xác thực cho câu chuyện.
c. Cốt truyện
- Gồm một chuỗi sự kiện mà sự kiện trung
tâm là vụ án và hành trình phá án của người
điều tra.
Một bí ẩn được đặt
ra – thực chất là một
vụ án phức tạp, có
nhiều
tình
tiết
dường như không
thể giải thích được.
Hành
trình
giải mã
của
người
điều tra
Bí
ẩn
được
làm
sáng
tỏ.
d. Hệ thống nhân vật
- Thường gồm người điều tra, nạn nhân, nghi phạm, thủ phạm.
+ Người điều tra là nhân vật chính, có thể là nhà điều
tra chuyên nghiệp như thám tử, cảnh sát, thanh tra,…
hoặc nhà điều tra nghiệp dư.
+ Có tố chất đặc biệt: dũng cảm, ưa mạo hiểm, vốn
kiến thức phong phú, trí thông minh vượt trội, tài
quan sát và suy luận,... Đặc biệt là phẩm chất trung
thực, luôn đặt sự thật lên trên hết nhằm bảo vệ lẽ
phải và công lí.
e. Chi tiết
- Có những chi tiết thể hiện sự bí ẩn, li kì
của vụ án và những bất ngờ của cuộc điều
tra.
- Những chi tiết về khung cảnh, không gian,
thời gian xảy ra sự việc; chân dung, cử chỉ,
hành động, lời nói,...của nhân vật thường có
dấu hiệu của bằng chứng hoặc manh mối
quan trọng trong quá trình điều tra.
g. Ngôi kể
- Kể theo ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba.
+ Ngôi thứ nhất: kể lại qua lời của người điều
tra hoặc lời một người bạn của người điều tra –
nhân vật chứng kiến toàn bộ quá trình giải mã
vụ án.
Giúp câu chuyện trở nên chân thực, đáng tin,
bất ngờ và kịch tính hơn.
Ví dụ, trong truyện “Ba chàng sinh viên”, câu
chuyện được kể lại qua lời nhân vật Oát-xơn,
người bạn thân thiết của Sơ-lốc Hôm. Trong
quá trình điều tra, Oát-xơn nghi ngờ hai sinh
viên đã chép trộm đề thi là Mai Mắc Le-rờn –
sinh viên có tiếng lười học, ăn chơi, vô kỉ luật
và sinh viên người Ấn Độ Đao-lát Rát do cậu ta
“cứ đi lại trong phòng suốt”. Nhưng thực tế,
thủ phạm chép trộm đề thi lại là Ghi-crít – một
sinh viên chăm chỉ và tử tế.
II.
Tìm hiểu văn
bản
1.
Cốt truyện
của tác
phẩm
Hoạt động nhóm (3
nhóm)
Tìm hiểu về
cốt truyện củ
tác phẩm
- Vụ việc gây lo lắng,
hoảng hốt được kể lại
qua lời thầy Hin-tơn
Xôm: có kẻ đã vào văn
phòng của thầy để chép
trộm đề thi trước ngày
diễn ra cuộc thi giành
học bổng có giá trị cao.
Đề thi bị lộ khiến thầy
Xôm vô cùng lo lắng.
Ông không biết là nên
hoãn thi và công bố sự
việc hay để mặc cho kẻ
gian tranh học bổng đáng
giá.
- Hành trình phá án:
Sơ-lốc Hôm tới văn
phòng của thầy Xôm
để xem xét, nghiên
cứu hiện trường nhằm
tìm ra thủ phạm. Cuộc
điều tra tuy nhanh
nhưng đã xác định rõ
được nghi phạm là ba
sinh viên ở cùng tòa
nhà với thầy Xôm. Sơlốc Hôm dã tìm cách
gặp cả ba sinh viên.
- Công bố sự thật:
Sự việc được công bố
chỉ vài giờ trước khi
cuộc thi bắt đầu. Sơlốc Hôm đã tới gặp
thầy Xôm và khuyên
ông vẫn tổ chức cuộc
thi. Sau đó, thám tử
đã lập ra một “tòa án
nho nhỏ” để chỉ ra
thủ phạm là Ghi- crít
và người đã che giấu
tội lỗi cho anh ta là
người hầu Ben-nixtơ.
2.
Không gian,
thời gian
của truyện
a. Không gian
- Không gian hiện trường: văn phòng
của thầy Xôm. Phòng làm việc có một
cửa gắn lưới sắt và nhìn ra khoảng sân
rêu phong của ngôi trường cổ kính. Thầy
Xôm ở tầng một. Ở các tầng trên là ba
sinh viên, mỗi người một tầng
- Những dấu vết ở hiện trường:
- Không gian hiện trường: văn phòng
của thầy Xôm. Phòng làm việc có một
cửa gắn lưới sắt và nhìn ra khoảng sân
rêu phong của ngôi trường cổ kính. Thầy
Xôm ở tầng một. Ở các tầng trên là ba
sinh viên, mỗi người một tầng
- Những dấu vết ở hiện trường: vỏ
bút chì, đầu chì gãy, vết rách trên mặt
bàn, một mẩu bột đen nhỏ, lấm tấm như
mùn cưa, trong phòng ngủ cũng có mẩu
nhỏ màu đen giống hệt mẩu trên bàn
ngoài phòng làm việc.
b. Thời gian
Hoạt động nhóm bàn
Chỉ ra các chi tiết cho thấy áp lực về thời gian
của cuộc điều tra. Việc tạo áp lực về thời gian
điều tra như vậy có tác dụng gì?
b. Thời gian
- Một số chi tiết cho thấy giới hạn thời gian của cuộc điều tra
+ Ngày mai, cuộc thi lấy kết quả để cấp học bổng sẽ được tổ chức.
+ Ông gám học nói: “Mai là thi rồi. Tối nay tôi buộc phải đưa ra
quyết định dứt khoát. Tôi không thể để kì thi diễn ra khi đề thi bị
lộ”.
+ Sơ-lốc Hôm nói: “Ông cứ để nguyên vậy đi. Sớm mai tôi sẽ ghét
rồi bàn về việc này, có thể lúc đó tôi đã nắm được những tình tiết
mới giúp ông thoát khỏi tình cảnh này. Còn từ giờ tới đó, ông đừng
thay đổi gì cả.”
+ “Ông thầy khốn khổ đang đứng ngồi không yên. Chỉ vài giờ nữa
là kì thi bắt đầu, ấy vậy mà ông ta chưa biết nên công bố sự việc
hay mặc thây cho kẻ gian trá tranh học bổng đáng giá”.
b. Thời gian
- Thời gian điều tra chỉ giới hạn trong một đêm.
Ngắn ngủi, gấp gáp
Tạo độ căng, kịch tính cho câu chuyện và gây
sự tò mò, căng thẳng, lôi cuốn người đọc.
Làm cho sự tự tin và tài năng của Sơ-lốc Hôm
có điều kiện được bộc lộ.
3.
Một số
chi tiết quan trọng
Hồ sơ vụ án
Nhằm tạo nên sự hấp dẫn của truyện trinh
thám, nhà văn thường đánh lạc hướng suy
luận của người đọc để cuối cùng, chân
tướng sự việc lộ diện bất ngờ. Đặc điểm
này được thể hiện như thế nào trong truyện
“Ba chàng sinh viên”?
* Một số chi tiết có vai trò đánh lạc hướng suy luận của người đọc:
- Đặc điểm của các sinh viên ở cùng tòa nhà với thầy Xôm:
+ Ghi- crít – một sinh viên chăm chỉ, tử tế và là vận động viên giỏi – sống ở
tầng hai.
+ Đao-lát Rát sống ở tầng ba. Cậu học tốt nhưng môn tiếng Hy Lạp yếu.
+ Sống ở tầng trên cùng là Mai Mắc Le-rờn. Cậu ta được xem
là sáng dạ nhất trường, nhưng lại lười học, ương ngạnh, ăn
chơi và vô kỉ luật. Cậu ta suýt bị đuổi học ngay trong năm thứ
nhất vì dính vào một vụ bài bạc. Cả học kì này, cậu ta toàn
rong chơi.
- Trong ba sinh viên, thầy Xôm nghi ngờ Mai Mắc Le-rờn vì thái độ bất lịch
sự khi ông gõ cửa phòng
- Oát-xơn nghi ngờ Mai Mắc Le-rờn vì ăn nói lỗ mãng và nổi tiếng vô kỉ luật.
Ngoài ra, theo Oát-xơn, anh chàng Ấn Độ Đao-lát Rát cũng đáng nghi vì
trông “ranh ma” và hành động khó hiểu (đi lại liên tục trong phòng).
- Thầy Xôm, Sơ-lốc Hôm và Oát-xơn đều thấy người hầu Ben-ni-xtơ là người
trung hậu, có lẽ không liên quan đến vụ việc.
Tuy nhiên, những người có liên quan đến hành động gian dối trước khi kì
thi diễn ra là Ghi-crít và Ben-ni-xtơ (người bao che lỗi lầm cho Ghi-crít )
4.
Nhân vật Sơ-lốc
Hôm
Em
là
thá
m
tử
- Suy luận ban đầu về thủ phạm bằng phương pháp loại trừ giả thiết:
+ Người thợ in không liên
quan vì nếu muốn, anh ta có
thể chép lại đề thi ngay tại
nhà mình.
+ Sinh viên Đao-lát Rát cũng không
liên quan vì khi anh ta vào phòng
thầy Xôm, bản in thử vẫn cuộn lại,
anh ta không thể biết đó là gì?
- Xem xét hiện trường:
+ Quan sát khung cửa sổ
+ Hướng sự chú ý vào cậu sinh
viên có thân hình rất cao.
+ Mẩu đất trên bàn ngoài phòng
làm việc chứng tỏ kẻ chép trộm
đề thi đặt đôi giày ở đó, vết rách
do đinh giày để lại trên mặt bàn
hằn rõ theo hướng phòng ngủ cho
thấy chiếc giày bị kéo về hướng
đó và thủ pháp đã trốn trong
phòng ngủ.
- Tìm kiếm bằng chứng:
Vị thám tử đã đến sân nhảy xa và
nhận thấy loại đất sét đen cứng được đổ
trong hố nhảy cùng một ít mùn cưa rải lên bề
mặt chính là loại đất bám quanh đinh giày
vương ở bàn và mẩu đất thứ hai rã ra, rơi
xuống sàn phòng ngủ.
Sơ-lốc Hôm đã xâu chuỗi được các thông tin từ lời khai của nạn nhân (thầy
Xôm) kết hợp chặt chẽ với việc xem xét hiện trường phạm tội và tìm kiếm
bằng chứng bổ sung để đưa ra kết luận thuyết phục…
Sơ-lốc Hôm là một thám tử thông minh, có
khả năng phán đoán nhanh nhạy, quan sát
tinh tường, phân tích sắc sảo, suy luận logic…
5.
Người kể chuyện
trong tác phẩm
- Ngôi kể: ngôi thứ nhất qua lời kể của nhân vật
Oát-xơn – người bạn thân thiết đồng thời là cộng sự
đắc lực của Sơ-lốc Hôm. Oát-xơn đã theo sát vụ án
cùng vị thám tử và thường xuyên được Sơ-lốc Hôm
trao đổi ý kiến chuyên môn. Vì thế, Oát-xơn biết
tường tận từng chi tiết của vụ án.
- Tác dụng: Câu chuyện trở nên chân thực, đáng tin
cậy hơn vì nó được người trong cuộc chứng kiến kể
lại.
6. Bài học
Cách chơi:
- GV đưa mật thư cho một bạn trong lớp
- Thám tử quan sát hành động, biểu hiện, trạng thái để phán đoán người giữ mật thư.
- Thám tử được đặt 5 câu hỏi liên quan đến đặc điểm và hành động để tìm ra ai là người
giữ mật thư dạng "Có/Không".
VD: Người giữ mật thư là người đeo kính phải không?
- Các học sinh khác sẽ trả lời "Đúng" hoặc "Sai" dựa trên đặc điểm hoặc hành động mà
câu hỏi đề cập tới.
Kết thúc trò chơi:
- Trò chơi kết thúc khi thám tử đoán đúng người giữ mật thư hoặc sau khi đặt hết 5 câu
hỏi.
- Thám tử sẽ được thưởng nếu chỉ ra đúng hoặc bị phạt nếu chỉ sai người giữ mật thư.
Bài 6:
GIẢI
Mã
NHỮNG
BÍ
MẬT
Cuộc số
ng là một
câu đố và giải mã
những bí mật của
nó là cuộc phiêu
lưu đầ
y thú vị.
-Đan Bờ - rao (Dan
Brown)-
Giới thiệu
bài học
1. Chủ đề
Giải mã những bí mật
Thế giới tự nhiên và đời sống xã hội luôn
ẩn chứa bao điều bí mật, thách thức sự
khám phá của con người. Việc khám phá,
giải mã những bí ẩn không chỉ để thỏa
mãn trí tò mò, khả năng phán đoán, mà
còn góp phần giúp chúng ta giải quyết
nhiều vấn đề hệ trọng của cuộc sống
2. Thể loại
Ba chàng sinh viên,
A-thơ Cô-nan Đoilơ (Athur Conan
Doyle)
Truyện trinh
thám
Bài hát đồng sáu xu,
A-ga-thơ Crít-xti
(Agatha Christie)
Truyện
thám
trinh
Phạm Xuân Ẩn – tên
người như cuộc đời
(trích), Nguyễn Thị
Ngọc Hải
Văn bản kí
Bài 6:
Giải Mã những bí mật
Tiết 73,74,75 Văn bảnBa chàng sinh viên
(A-Thơ Cô-nan Đoi-lơ)
I.
Đọc – tìm hiểu chung
- Đọc to, rõ ràng, diễn cảm.
- Đọc phân vai
- Chú ý sử dụng chiến lược đọc trong các thẻ chỉ dẫn:
theo dõi, dự đoán, suy luận, đối chiếu.
Chú thích
- Inch: đơn vị đo chiều dài, được sử dụng
phổ biến ở một số nước nói tiếng Anh như:
Anh, Mỹ, Ca-na-da (Canada),…; 1 inch
tương đương 2,54 cm.
- Foot: đơn vị đo chiều dài, được sử dụng phổ biến ở một số nước
nói tiếng Anh như: Anh, Mỹ, Ca-na-đa,…1 foot tương đương
30,48 cm
- Khánh kiệt: bị mất hết tài sản
a. Tác giả
- Là nhà văn người Xcốt-len (Scotland)
- Sáng tác ở nhiều thể loại như: tiểu thuyết lịch
sử, truyện khoa học viễn tưởng, truyện ngắn,
kịch,…
- Nổi tiếng trên toàn thế giới với truyện trinh
thám, trong đó nhân vật chính là Sơ-lốc Hôm.
A-thơ Cô-nan Đoi-lơ
(1859-1930)
b. Tác phẩm
Xuất xứ
PTBĐ
chính
Tự sự
In trong tập truyện “Sự trở về
của Sơ-lốc Hôm (1905)
Thể loại
Truyện trinh thám
Báo cáo sản phẩm
ìm hiểu về truyện trinh
thám
* TRi thức Ngữ văn: Truyện trinh thám
- Là loại tác phẩm truyện
- Viết về quá trình điều tra vụ án
- Thường có những sự việc bí ẩn, bất
ngờ
- Quá trình phá án của người điều tra
dựa trên yếu tố quan trọng là sự suy
luận logic.
- Vụ án thường được làm sáng tỏ ở
phần kết thúc truyện.
*. Truyện trinh thám
- Hiện nay, thể loại truyện trinh
thám có vị trí quan trọng trong
đời sống văn học, nhiều tác phẩm
trinh thám đã gây được sức hấp
dẫn lớn với bạn đọc.
*. Một số yếu tố của truyện trinh thám
a. Không gian
- Là không gian hiện trường – nơi xảy ra
vụ án, cũng là nơi người điều tra nghiên
cứu để tìm thủ phạm
- Gồm:
+ Không gian rộng (khu rừng, hang
động, góc phố,…)
+ Không gian nhỏ hẹp (căn phòng, bàn
ăn,…)
- Được khắc họa chi tiết, cụ thể và gắn
liền với dấu hiệu bằng chứng phạm tội
Ví dụ, trong truyện “Ba
chàng sinh viên”, không
gian vụ án là văn phòng
của thầy Hin-tơn Xôm. Sơlốc Hôm đã quan sát rất kĩ
không gian đó, phát hiện
ra những dấu vết phạm tội
quan trọng và đặc ra các
giả thuyết.
*. Một số yếu tố của truyện trinh thám
b. Thời gian
- Thường được giới
thiệu ở phần đầu tác
phẩm. Gồm thông tin
cụ thể về tháng, năm
hay tình huống mà
người điều tra tiếp nhận
vụ án.
tạo tính chân thực
cho câu chuyện
- Thường xây dựng tình
huống người điều tra chịu áp
lực chạy đua với thời gian để
tìm ra kẻ phạm tội.
tạo ra sự căng thẳng, hấp
dẫn cho người đọc, đồng
thời cho thấy tài năng của
người điều tra.
Ví dụ, trong truyện “Ba chàng sinh viên”, thời
gian được mở đầu bằng câu: “Vào năm 1895, một
loạt sự kiện mà tôi không muốn đi sâu ở đây đã
khiến Sơ-lốc Hôm và tôi phải lưu lại vài tuần tại
một thành phố đại học của Anh.”.
Tình huống thám tử Sơ-lốc Hôm tiếp nhận vụ án là
“Hồi ấy, chúng tôi ngụ tại một nhà trọ tiện nghi
gần thư viện mà Sơ-lốc Hôm năng lui tới để làm
một vài nghiên cứu về hiến chương Anh thời đầu
(chúng đã đưa đến các thành quả nổi bật, có thể là
đề tài cho những câu chuyện tôi kể sau này).”
Tạo nên tính xác thực cho câu chuyện.
c. Cốt truyện
- Gồm một chuỗi sự kiện mà sự kiện trung
tâm là vụ án và hành trình phá án của người
điều tra.
Một bí ẩn được đặt
ra – thực chất là một
vụ án phức tạp, có
nhiều
tình
tiết
dường như không
thể giải thích được.
Hành
trình
giải mã
của
người
điều tra
Bí
ẩn
được
làm
sáng
tỏ.
d. Hệ thống nhân vật
- Thường gồm người điều tra, nạn nhân, nghi phạm, thủ phạm.
+ Người điều tra là nhân vật chính, có thể là nhà điều
tra chuyên nghiệp như thám tử, cảnh sát, thanh tra,…
hoặc nhà điều tra nghiệp dư.
+ Có tố chất đặc biệt: dũng cảm, ưa mạo hiểm, vốn
kiến thức phong phú, trí thông minh vượt trội, tài
quan sát và suy luận,... Đặc biệt là phẩm chất trung
thực, luôn đặt sự thật lên trên hết nhằm bảo vệ lẽ
phải và công lí.
e. Chi tiết
- Có những chi tiết thể hiện sự bí ẩn, li kì
của vụ án và những bất ngờ của cuộc điều
tra.
- Những chi tiết về khung cảnh, không gian,
thời gian xảy ra sự việc; chân dung, cử chỉ,
hành động, lời nói,...của nhân vật thường có
dấu hiệu của bằng chứng hoặc manh mối
quan trọng trong quá trình điều tra.
g. Ngôi kể
- Kể theo ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba.
+ Ngôi thứ nhất: kể lại qua lời của người điều
tra hoặc lời một người bạn của người điều tra –
nhân vật chứng kiến toàn bộ quá trình giải mã
vụ án.
Giúp câu chuyện trở nên chân thực, đáng tin,
bất ngờ và kịch tính hơn.
Ví dụ, trong truyện “Ba chàng sinh viên”, câu
chuyện được kể lại qua lời nhân vật Oát-xơn,
người bạn thân thiết của Sơ-lốc Hôm. Trong
quá trình điều tra, Oát-xơn nghi ngờ hai sinh
viên đã chép trộm đề thi là Mai Mắc Le-rờn –
sinh viên có tiếng lười học, ăn chơi, vô kỉ luật
và sinh viên người Ấn Độ Đao-lát Rát do cậu ta
“cứ đi lại trong phòng suốt”. Nhưng thực tế,
thủ phạm chép trộm đề thi lại là Ghi-crít – một
sinh viên chăm chỉ và tử tế.
II.
Tìm hiểu văn
bản
1.
Cốt truyện
của tác
phẩm
Hoạt động nhóm (3
nhóm)
Tìm hiểu về
cốt truyện củ
tác phẩm
- Vụ việc gây lo lắng,
hoảng hốt được kể lại
qua lời thầy Hin-tơn
Xôm: có kẻ đã vào văn
phòng của thầy để chép
trộm đề thi trước ngày
diễn ra cuộc thi giành
học bổng có giá trị cao.
Đề thi bị lộ khiến thầy
Xôm vô cùng lo lắng.
Ông không biết là nên
hoãn thi và công bố sự
việc hay để mặc cho kẻ
gian tranh học bổng đáng
giá.
- Hành trình phá án:
Sơ-lốc Hôm tới văn
phòng của thầy Xôm
để xem xét, nghiên
cứu hiện trường nhằm
tìm ra thủ phạm. Cuộc
điều tra tuy nhanh
nhưng đã xác định rõ
được nghi phạm là ba
sinh viên ở cùng tòa
nhà với thầy Xôm. Sơlốc Hôm dã tìm cách
gặp cả ba sinh viên.
- Công bố sự thật:
Sự việc được công bố
chỉ vài giờ trước khi
cuộc thi bắt đầu. Sơlốc Hôm đã tới gặp
thầy Xôm và khuyên
ông vẫn tổ chức cuộc
thi. Sau đó, thám tử
đã lập ra một “tòa án
nho nhỏ” để chỉ ra
thủ phạm là Ghi- crít
và người đã che giấu
tội lỗi cho anh ta là
người hầu Ben-nixtơ.
2.
Không gian,
thời gian
của truyện
a. Không gian
- Không gian hiện trường: văn phòng
của thầy Xôm. Phòng làm việc có một
cửa gắn lưới sắt và nhìn ra khoảng sân
rêu phong của ngôi trường cổ kính. Thầy
Xôm ở tầng một. Ở các tầng trên là ba
sinh viên, mỗi người một tầng
- Những dấu vết ở hiện trường:
- Không gian hiện trường: văn phòng
của thầy Xôm. Phòng làm việc có một
cửa gắn lưới sắt và nhìn ra khoảng sân
rêu phong của ngôi trường cổ kính. Thầy
Xôm ở tầng một. Ở các tầng trên là ba
sinh viên, mỗi người một tầng
- Những dấu vết ở hiện trường: vỏ
bút chì, đầu chì gãy, vết rách trên mặt
bàn, một mẩu bột đen nhỏ, lấm tấm như
mùn cưa, trong phòng ngủ cũng có mẩu
nhỏ màu đen giống hệt mẩu trên bàn
ngoài phòng làm việc.
b. Thời gian
Hoạt động nhóm bàn
Chỉ ra các chi tiết cho thấy áp lực về thời gian
của cuộc điều tra. Việc tạo áp lực về thời gian
điều tra như vậy có tác dụng gì?
b. Thời gian
- Một số chi tiết cho thấy giới hạn thời gian của cuộc điều tra
+ Ngày mai, cuộc thi lấy kết quả để cấp học bổng sẽ được tổ chức.
+ Ông gám học nói: “Mai là thi rồi. Tối nay tôi buộc phải đưa ra
quyết định dứt khoát. Tôi không thể để kì thi diễn ra khi đề thi bị
lộ”.
+ Sơ-lốc Hôm nói: “Ông cứ để nguyên vậy đi. Sớm mai tôi sẽ ghét
rồi bàn về việc này, có thể lúc đó tôi đã nắm được những tình tiết
mới giúp ông thoát khỏi tình cảnh này. Còn từ giờ tới đó, ông đừng
thay đổi gì cả.”
+ “Ông thầy khốn khổ đang đứng ngồi không yên. Chỉ vài giờ nữa
là kì thi bắt đầu, ấy vậy mà ông ta chưa biết nên công bố sự việc
hay mặc thây cho kẻ gian trá tranh học bổng đáng giá”.
b. Thời gian
- Thời gian điều tra chỉ giới hạn trong một đêm.
Ngắn ngủi, gấp gáp
Tạo độ căng, kịch tính cho câu chuyện và gây
sự tò mò, căng thẳng, lôi cuốn người đọc.
Làm cho sự tự tin và tài năng của Sơ-lốc Hôm
có điều kiện được bộc lộ.
3.
Một số
chi tiết quan trọng
Hồ sơ vụ án
Nhằm tạo nên sự hấp dẫn của truyện trinh
thám, nhà văn thường đánh lạc hướng suy
luận của người đọc để cuối cùng, chân
tướng sự việc lộ diện bất ngờ. Đặc điểm
này được thể hiện như thế nào trong truyện
“Ba chàng sinh viên”?
* Một số chi tiết có vai trò đánh lạc hướng suy luận của người đọc:
- Đặc điểm của các sinh viên ở cùng tòa nhà với thầy Xôm:
+ Ghi- crít – một sinh viên chăm chỉ, tử tế và là vận động viên giỏi – sống ở
tầng hai.
+ Đao-lát Rát sống ở tầng ba. Cậu học tốt nhưng môn tiếng Hy Lạp yếu.
+ Sống ở tầng trên cùng là Mai Mắc Le-rờn. Cậu ta được xem
là sáng dạ nhất trường, nhưng lại lười học, ương ngạnh, ăn
chơi và vô kỉ luật. Cậu ta suýt bị đuổi học ngay trong năm thứ
nhất vì dính vào một vụ bài bạc. Cả học kì này, cậu ta toàn
rong chơi.
- Trong ba sinh viên, thầy Xôm nghi ngờ Mai Mắc Le-rờn vì thái độ bất lịch
sự khi ông gõ cửa phòng
- Oát-xơn nghi ngờ Mai Mắc Le-rờn vì ăn nói lỗ mãng và nổi tiếng vô kỉ luật.
Ngoài ra, theo Oát-xơn, anh chàng Ấn Độ Đao-lát Rát cũng đáng nghi vì
trông “ranh ma” và hành động khó hiểu (đi lại liên tục trong phòng).
- Thầy Xôm, Sơ-lốc Hôm và Oát-xơn đều thấy người hầu Ben-ni-xtơ là người
trung hậu, có lẽ không liên quan đến vụ việc.
Tuy nhiên, những người có liên quan đến hành động gian dối trước khi kì
thi diễn ra là Ghi-crít và Ben-ni-xtơ (người bao che lỗi lầm cho Ghi-crít )
4.
Nhân vật Sơ-lốc
Hôm
Em
là
thá
m
tử
- Suy luận ban đầu về thủ phạm bằng phương pháp loại trừ giả thiết:
+ Người thợ in không liên
quan vì nếu muốn, anh ta có
thể chép lại đề thi ngay tại
nhà mình.
+ Sinh viên Đao-lát Rát cũng không
liên quan vì khi anh ta vào phòng
thầy Xôm, bản in thử vẫn cuộn lại,
anh ta không thể biết đó là gì?
- Xem xét hiện trường:
+ Quan sát khung cửa sổ
+ Hướng sự chú ý vào cậu sinh
viên có thân hình rất cao.
+ Mẩu đất trên bàn ngoài phòng
làm việc chứng tỏ kẻ chép trộm
đề thi đặt đôi giày ở đó, vết rách
do đinh giày để lại trên mặt bàn
hằn rõ theo hướng phòng ngủ cho
thấy chiếc giày bị kéo về hướng
đó và thủ pháp đã trốn trong
phòng ngủ.
- Tìm kiếm bằng chứng:
Vị thám tử đã đến sân nhảy xa và
nhận thấy loại đất sét đen cứng được đổ
trong hố nhảy cùng một ít mùn cưa rải lên bề
mặt chính là loại đất bám quanh đinh giày
vương ở bàn và mẩu đất thứ hai rã ra, rơi
xuống sàn phòng ngủ.
Sơ-lốc Hôm đã xâu chuỗi được các thông tin từ lời khai của nạn nhân (thầy
Xôm) kết hợp chặt chẽ với việc xem xét hiện trường phạm tội và tìm kiếm
bằng chứng bổ sung để đưa ra kết luận thuyết phục…
Sơ-lốc Hôm là một thám tử thông minh, có
khả năng phán đoán nhanh nhạy, quan sát
tinh tường, phân tích sắc sảo, suy luận logic…
5.
Người kể chuyện
trong tác phẩm
- Ngôi kể: ngôi thứ nhất qua lời kể của nhân vật
Oát-xơn – người bạn thân thiết đồng thời là cộng sự
đắc lực của Sơ-lốc Hôm. Oát-xơn đã theo sát vụ án
cùng vị thám tử và thường xuyên được Sơ-lốc Hôm
trao đổi ý kiến chuyên môn. Vì thế, Oát-xơn biết
tường tận từng chi tiết của vụ án.
- Tác dụng: Câu chuyện trở nên chân thực, đáng tin
cậy hơn vì nó được người trong cuộc chứng kiến kể
lại.
6. Bài học
 








Các ý kiến mới nhất