Bài 24. Vấn đề phát triển ngành thủy sản và lâm nghiệp

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Hoàng
Ngày gửi: 19h:15' 07-02-2010
Dung lượng: 41.3 MB
Số lượt tải: 418
Nguồn:
Người gửi: Lê Hoàng
Ngày gửi: 19h:15' 07-02-2010
Dung lượng: 41.3 MB
Số lượt tải: 418
Số lượt thích:
0 người
Vấn đề phát triển ngành
Thủy sản và lâm nghiệp
Bài 24:
Học sinh thực hiện: Lê Minh Hiếu – 12A3
I. Ngành thủy sản:
1. Những điều kiện thuận lợi và khó khăn để phát triển ngành thủy sản:
Các nhóm hãy nghiên cứu SGK và hoàn thành bảng sau:
Về điều kiện tự nhiên
Có đường bờ biển dài 3260km, vùng đặc quyền kinh tế rộng.
Nguồn lợi hải sản khá phong phú (tổng trữ lượng khoảng 3,9 đến 4,0 triệu tấn)
Nhiều ngư trường trong đó có 4 ngư trường trọng điểm: Hải Phòng-Quảng Ninh, Ninh Thuận-Bình Thuận-Bà Rịa Vũng Tàu, Hoàng Sa-Trường Sa, Cà Mau-Kiên Giang.
Nhiều thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản nước ngọt, nước lợ.
Về điều kiện kinh tế - xã hội
Nhân dân có nhiều kinh nghiệm và truyền thống đánh bắt và nuôi trồng thủy sản.
Phương tiện tàu thuyền, ngư cụ được trang bị ngày càng tốt hơn.
Dịch vụ và chế biến thủy sản ngày càng được mở rộng.
Thị trường tiêu thụ rộng lớn.
Chính sách khuyến ngư của nhà nước.
Thiên tai, chủ yếu là bão.
Một số vùng ven biển, môi trường bị suy thoái.
Phương tiện đánh bắt còn chậm đổi mới.
Hệ thống các cảng cá còn chưa đáp ứng được yêu cầu.
Công nghệ chế biến còn nhiều hạn chế.
2. Sự phát triển và phân bố của ngành thủy sản:
Phát triển mạnh trong những năm gần đây
Sản lượng (2005) hơn 3,4 triệu tấn, lớn hơn sản lượng thịt cộng lại từ chăn nuôi gia súc, gia cầm.
Sản lượng thủy sản bình quân khoảng 42kg/người/năm.
Nuôi trồng thủy sản chiếm tỉ trọng ngày càng cao.
Khai thác thủy sản
Sản lượng khai thác thủy sản năm 2005 đạt 1791 nghìn tấn (gấp 2,7 lần năm 1990), trong đó riệng cá biển là 1367 nghìn tấn. Sản lượng khai thác nội địa đạt khoảng 200 nghìn tấn.
Các tỉnh giáp biển đều đẩy mạnh đánh bắt hải sản, nhưng nghề cá có vai trò lớn hơn ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ và Nam Bộ.
Các tỉnh dẫn đầu về sản lượng đánh bắt là Kiên Giang, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Thuận và Cà Mau. (riêng 4 tỉnh chiếm 38% sản lượng thủy sản khai thác cả nước).
2. Sự phát triển và phân bố của ngành thủy sản
Nuôi trồng thủy sản
Nuôi tôm: nước lợ (tôm sú, tôm he, tôm rảo…) và tôm càng xanh phát triển mạnh.
Kỹ thuật nuôi tôm từ quảng canh sang quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh công nghiệp.
Vùng nuôi tôm lớn nhất: đồng bằng sông Cửu Long (Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre, Trà Vinh và Kiên Giang), các tỉnh duyên hải.
Nuôi cá nước ngọt: đồng bằng sông Cửu Long (An Giang) và đồng bằng sông Hồng
Nhờ các điều kiện nào mà ngành nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh trong thời gian qua?
!
Tiềm năng thủy sản vẫn còn nhiều.
Các sản phẩm nuôi trồng có giá trị cao và nhu cầu trên thị trường lớn.
Đẩy mạnh nuôi trồng sẽ đảm bào tốt nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến (nhất là chế biến để xuất khẩu).
Điều chỉnh đáng kể sự phát triển của ngành khai thác thủy sản.
Sản lượng tôm nuôi, cá nuôi năm 1995 và năm 2005 phân theo vùng
Hoạt động nuôi cá, nuôi tôm ở đồng bằng sông Cửu Long
Hoạt động nuôi cá, nuôi tôm ở đồng bằng sông Cửu Long
Hoạt động nuôi cá bè ở đồng bằng sông Cửu Long
II. Ngành lâm nghiệp:
1. Ngành lâm nghiệp ở nước ta có vai trò về mặt kinh tế và sinh thái
Nước ta ¾ diện tích là đồi núi, lại có vùng rừng ngập mặn ven biển.
Ngành lâm nghiệp có vị trí đặc biệt trong cơ cấu kinh tế của hầu hết các vùng lãnh thổ.
Hãy nêu ý nghĩa kinh tế và sinh thái to lớn của rừng và vai trò của lâm nghiệp?
!
Ý nghĩa về kinh tế và sinh thái của rừng
Cung cấp lâm sản (gỗ, củi…) và dược liệu.
Điều hòa dòng nước và khí hậu.
Rừng là nguồn gen quý giá để bảo tồn các loại cây quý hiếm.
Rừng còn là nơi trú ngụ của nhiều loại sinh vật, nhiều loài động vật quý hiếm.
Vai trò của ngành lâm nghiệp
Khai thác, chế biến gỗ và lâm sản mang giá trị kinh tế cao.
Trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng.
2. Tài nguyên rừng nước ta vốn giàu có, nhưng đã bị suy thoái nhiều
Tổng quan chung
Tổng diện tích của rừng năm 1943 là 14,3 triệu ha, độ che phủ 4,0%.
Đến năm 1983, diện tích rừng còn 7,2 triệu ha, độ che phủ 22,0%.
Đến 2006, đạt 12,9 triệu ha, độ che phủ 39,0%, rừng vẫn bị suy thoái vì chất lượng rừng giảm.
Rừng được chia thành 3 loại:
Rừng phòng hộ (gần 7 triệu ha), có ý nghĩa rất quan trọng đối với môi sinh, bao gồm: rừng đầu nguồn (điều hòa mực nước sông, chống lũ, xói mòn), rừng chắn cát bay, các dải rừng chắn sóng.
Rừng đặc dụng: các vườn quốc gia, các khu dự trữ thiên nhiên, các khu bảo tồn văn hóa – lich sử – môi trường.
Rừng sản xuất (khoảng 5,4 triệu ha): rừng tre nứa, rừng lấy gỗ, củi…
Các loại rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất
Các loại rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất
Hành vi chặt phá rừng, cháy rừng
Hành vi chặt phá rừng, cháy rừng
Hành vi chặt phá rừng, cháy rừng
3. Sự phát triển và phân bố ngành lâm nghiệp
Trồng rừng: khoảng 2 triệu ha rừng trồng tập trung, chủ yếu là rừng làm nguyên liệu giấy, rừng gỗ trụ mỏ, thông nhựa…, rừng phòng hộ. Cả nước trồng trên dưới 200 nghìn ha rừng tập trung/năm.
Khai thác, chế biến gỗ và lâm sản:
Khai thác khoảng 2,5 triệu m3 gỗ/năm, khoảng 120 triệu cây tre luồng và gần 100 triệu cây nứa.
Các sản phẩm gỗ quan trọng nhất là: gỗ tròn, gỗ xẻ, ván sàn, đồ gỗ, gỗ lạng và gỗ dán. Cả nước có hơn 400 nghìn nhà máy cưa xẻ và vài nghìn xưởng gỗ thủ công.
Công nghiệp bột giấy và giấy được phát triển. Lớn nhất là nhà máy giấy Bãi Bằng (Phú Thọ), Liên hiệp giấy Tân Mai (Đồng Nai).
Rừng còn được khai thác để cung cấp nguồn gỗ củi và than củi.
Các hoạt động lâm nghiệp bao gồm: lâm sinh (trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng) và khai thác, chế biến gỗ lâm sản.
Vấn đề phát triển ngành
Thủy sản và lâm nghiệp
Thanks for listening!!!
Thủy sản và lâm nghiệp
Bài 24:
Học sinh thực hiện: Lê Minh Hiếu – 12A3
I. Ngành thủy sản:
1. Những điều kiện thuận lợi và khó khăn để phát triển ngành thủy sản:
Các nhóm hãy nghiên cứu SGK và hoàn thành bảng sau:
Về điều kiện tự nhiên
Có đường bờ biển dài 3260km, vùng đặc quyền kinh tế rộng.
Nguồn lợi hải sản khá phong phú (tổng trữ lượng khoảng 3,9 đến 4,0 triệu tấn)
Nhiều ngư trường trong đó có 4 ngư trường trọng điểm: Hải Phòng-Quảng Ninh, Ninh Thuận-Bình Thuận-Bà Rịa Vũng Tàu, Hoàng Sa-Trường Sa, Cà Mau-Kiên Giang.
Nhiều thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản nước ngọt, nước lợ.
Về điều kiện kinh tế - xã hội
Nhân dân có nhiều kinh nghiệm và truyền thống đánh bắt và nuôi trồng thủy sản.
Phương tiện tàu thuyền, ngư cụ được trang bị ngày càng tốt hơn.
Dịch vụ và chế biến thủy sản ngày càng được mở rộng.
Thị trường tiêu thụ rộng lớn.
Chính sách khuyến ngư của nhà nước.
Thiên tai, chủ yếu là bão.
Một số vùng ven biển, môi trường bị suy thoái.
Phương tiện đánh bắt còn chậm đổi mới.
Hệ thống các cảng cá còn chưa đáp ứng được yêu cầu.
Công nghệ chế biến còn nhiều hạn chế.
2. Sự phát triển và phân bố của ngành thủy sản:
Phát triển mạnh trong những năm gần đây
Sản lượng (2005) hơn 3,4 triệu tấn, lớn hơn sản lượng thịt cộng lại từ chăn nuôi gia súc, gia cầm.
Sản lượng thủy sản bình quân khoảng 42kg/người/năm.
Nuôi trồng thủy sản chiếm tỉ trọng ngày càng cao.
Khai thác thủy sản
Sản lượng khai thác thủy sản năm 2005 đạt 1791 nghìn tấn (gấp 2,7 lần năm 1990), trong đó riệng cá biển là 1367 nghìn tấn. Sản lượng khai thác nội địa đạt khoảng 200 nghìn tấn.
Các tỉnh giáp biển đều đẩy mạnh đánh bắt hải sản, nhưng nghề cá có vai trò lớn hơn ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ và Nam Bộ.
Các tỉnh dẫn đầu về sản lượng đánh bắt là Kiên Giang, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Thuận và Cà Mau. (riêng 4 tỉnh chiếm 38% sản lượng thủy sản khai thác cả nước).
2. Sự phát triển và phân bố của ngành thủy sản
Nuôi trồng thủy sản
Nuôi tôm: nước lợ (tôm sú, tôm he, tôm rảo…) và tôm càng xanh phát triển mạnh.
Kỹ thuật nuôi tôm từ quảng canh sang quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh công nghiệp.
Vùng nuôi tôm lớn nhất: đồng bằng sông Cửu Long (Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre, Trà Vinh và Kiên Giang), các tỉnh duyên hải.
Nuôi cá nước ngọt: đồng bằng sông Cửu Long (An Giang) và đồng bằng sông Hồng
Nhờ các điều kiện nào mà ngành nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh trong thời gian qua?
!
Tiềm năng thủy sản vẫn còn nhiều.
Các sản phẩm nuôi trồng có giá trị cao và nhu cầu trên thị trường lớn.
Đẩy mạnh nuôi trồng sẽ đảm bào tốt nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến (nhất là chế biến để xuất khẩu).
Điều chỉnh đáng kể sự phát triển của ngành khai thác thủy sản.
Sản lượng tôm nuôi, cá nuôi năm 1995 và năm 2005 phân theo vùng
Hoạt động nuôi cá, nuôi tôm ở đồng bằng sông Cửu Long
Hoạt động nuôi cá, nuôi tôm ở đồng bằng sông Cửu Long
Hoạt động nuôi cá bè ở đồng bằng sông Cửu Long
II. Ngành lâm nghiệp:
1. Ngành lâm nghiệp ở nước ta có vai trò về mặt kinh tế và sinh thái
Nước ta ¾ diện tích là đồi núi, lại có vùng rừng ngập mặn ven biển.
Ngành lâm nghiệp có vị trí đặc biệt trong cơ cấu kinh tế của hầu hết các vùng lãnh thổ.
Hãy nêu ý nghĩa kinh tế và sinh thái to lớn của rừng và vai trò của lâm nghiệp?
!
Ý nghĩa về kinh tế và sinh thái của rừng
Cung cấp lâm sản (gỗ, củi…) và dược liệu.
Điều hòa dòng nước và khí hậu.
Rừng là nguồn gen quý giá để bảo tồn các loại cây quý hiếm.
Rừng còn là nơi trú ngụ của nhiều loại sinh vật, nhiều loài động vật quý hiếm.
Vai trò của ngành lâm nghiệp
Khai thác, chế biến gỗ và lâm sản mang giá trị kinh tế cao.
Trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng.
2. Tài nguyên rừng nước ta vốn giàu có, nhưng đã bị suy thoái nhiều
Tổng quan chung
Tổng diện tích của rừng năm 1943 là 14,3 triệu ha, độ che phủ 4,0%.
Đến năm 1983, diện tích rừng còn 7,2 triệu ha, độ che phủ 22,0%.
Đến 2006, đạt 12,9 triệu ha, độ che phủ 39,0%, rừng vẫn bị suy thoái vì chất lượng rừng giảm.
Rừng được chia thành 3 loại:
Rừng phòng hộ (gần 7 triệu ha), có ý nghĩa rất quan trọng đối với môi sinh, bao gồm: rừng đầu nguồn (điều hòa mực nước sông, chống lũ, xói mòn), rừng chắn cát bay, các dải rừng chắn sóng.
Rừng đặc dụng: các vườn quốc gia, các khu dự trữ thiên nhiên, các khu bảo tồn văn hóa – lich sử – môi trường.
Rừng sản xuất (khoảng 5,4 triệu ha): rừng tre nứa, rừng lấy gỗ, củi…
Các loại rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất
Các loại rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất
Hành vi chặt phá rừng, cháy rừng
Hành vi chặt phá rừng, cháy rừng
Hành vi chặt phá rừng, cháy rừng
3. Sự phát triển và phân bố ngành lâm nghiệp
Trồng rừng: khoảng 2 triệu ha rừng trồng tập trung, chủ yếu là rừng làm nguyên liệu giấy, rừng gỗ trụ mỏ, thông nhựa…, rừng phòng hộ. Cả nước trồng trên dưới 200 nghìn ha rừng tập trung/năm.
Khai thác, chế biến gỗ và lâm sản:
Khai thác khoảng 2,5 triệu m3 gỗ/năm, khoảng 120 triệu cây tre luồng và gần 100 triệu cây nứa.
Các sản phẩm gỗ quan trọng nhất là: gỗ tròn, gỗ xẻ, ván sàn, đồ gỗ, gỗ lạng và gỗ dán. Cả nước có hơn 400 nghìn nhà máy cưa xẻ và vài nghìn xưởng gỗ thủ công.
Công nghiệp bột giấy và giấy được phát triển. Lớn nhất là nhà máy giấy Bãi Bằng (Phú Thọ), Liên hiệp giấy Tân Mai (Đồng Nai).
Rừng còn được khai thác để cung cấp nguồn gỗ củi và than củi.
Các hoạt động lâm nghiệp bao gồm: lâm sinh (trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng) và khai thác, chế biến gỗ lâm sản.
Vấn đề phát triển ngành
Thủy sản và lâm nghiệp
Thanks for listening!!!
 







Các ý kiến mới nhất