Violet
Baigiang
8tuoilaptrinh

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức thư viện

Khắc phục hiện tượng không xuất hiện menu Bộ công cụ Violet trên PowerPoint và Word

12099162 Kính chào các thầy, cô. Khi cài đặt phần mềm , trên PowerPoint và Word sẽ mặc định xuất hiện menu Bộ công cụ Violet để thầy, cô có thể sử dụng các tính năng đặc biệt của phần mềm ngay trên PowerPoint và Word. Tuy nhiên sau khi cài đặt phần mềm , với nhiều máy tính sẽ...
Xem tiếp

Quảng cáo

Hỗ trợ kĩ thuật

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Bài giảng

VH Ấn Độ

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: lại thị hồng vân
Ngày gửi: 13h:05' 02-07-2015
Dung lượng: 3.6 MB
Số lượt tải: 52
Số lượt thích: 0 người
ẤN ĐỘ
I. Khái quát về địa lí và dân cư
1. Điều kiện tự nhiên:
- Bán đảo Ấn Độ thuộc Nam Á gần như hinh tam giác. Ở phía bắc, bán đảo bị chắn bởi dãy núi Hymalaya. Từ bên ngoài vào Ấn Độ rất khó khăn, chỉ có thê qua các con đèo nhỏ ở tây-bắc Ấn. Đông nam và tây nam Ấn Độ giáp Ấn Độ dương.

- Hàng năm tới mùa tuyết tan, nước từ dãy Hymalaya theo hai con sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Ganges) lại đem phù sa tới bồi sắp cho những cánh đồng ở Bắc Ấn.
- Nền văn minh Ấn Độ thời cổ đại gồm cả vùng đất ở các nước Ấn Độ, Pakixtan, NêPan, Bănglađét ngày nay
Sông Hằng
Sông Ấn
2. Về dân cư
Người dân xây dựng nên nề văn minh cổ xưa nhất ở Ấn Độ ven bờ sông Ấn là những người Đraviđa.
Ngày nay những người Đravida chủ yếu cư trú ở miền nam bán đảo Ấn Độ.
Khoảng 2000 năm TCN đến 1500 năm TCN có nhiều tộc người Aria tràn vào xâm nhập và ở lại bán đảo Ấn. Sau này, trong quá trình lịch sử còn có nhiều tộc người khác như ngươi Hy Lạp, Hung Nô, Arập, Mông Cổ xâm nhập Ấn Độ do đó dân cư có sự pha trộn khá nhiều dòng máu.
Hung nô
Mông cổ
Hy lạp
II. Các giai đoạn lịch sử chính
1. Thời kì văn minh sông Ấn ( Khoảng 3000 năm đến 1500 năm TCN):
Đây là thời kì người Đradiva đã xây dựng nên những nền văn minh đầu tiên ở lưu vực sông Ấn. Trước kia ngươi ta cũng không biết nhiều về giai đoạn lịch sử này. Mãi đến năm 1920, nhờ phát hiện ra dấu tích hai thành phố cổ ở Harappa và Moohenjo Đaro người ta mới biết về nó.
Harappa
Mohenjo Đaro
Harappa
Ở đây, qua các di vật khỏa cổ người ta có thể suy ra phần nào sự phát triển kinh tế, văn hóa, và đây là thời kì đã xuất hiện bộ máy nhà nước. Còn về lịch sử tương đối cụ thể của nó thì chưa biết. Người ta tạm gọi đây là nền văn minh sông Ấn.
2. Thơi kì Vêđa ( Khoảng 1500 năm TCN đến thế kỉ VI TCN):
Đây là thời kì những bộ lạc du mục người Aria từ Trung Á tràn vào xâm nhập Bắc Ấn. Thời kì này được phản ánh trong bộ kinh Vêđa cho nên được gọi là thời kì Veda. Đây là thời kì có hai vấn đề đẳng cấp ( Vacna ) và đạo Balamôn.
Kinh veda
Chữ veda
Bản đồ thời veda
3. Giai đoạn từ thế kỉ VI TCN đến thế kỉ XII:
Từ thế kỉ VI TCN Ấn Độ mới có sử sách ghi chép. Lúc đó, ở miền Bắc Ấn có tới 16 nước trong đó vương quốc Madaga ở hạ lưu sông Hằng là nước hùng mạnh nhất. Năm 327 TCN, Ấn Độ bị đội quân của Alechxanđrơ xâm lược trong một thời gian ngắn.
Quân đội của alechxandro
4. Ấn Độ từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XIX:
Trong giai đoạn này, Ấn Độ bị người Apganixtan theo đạo Hồi xâm nhập, sau đó thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII lại bị người Mông Cổ xâm lược. Người Mông Cổ đã lặp ra ở đây vương triều Moogon. Đến giữa thế kỉ XIX, Ấn Độ bị Anh xâm lược tới năm 1950 mới giành độc lập
III. Những thành tựu chủ yếu của văn minh Ấn Độ
1. Chữ viết, Văn học
a./ Chữ viết

Thời đại Harappa-Moohenjo, ở miền Bắc Ấn đã xuất hiện một loại chữ cổ mà ngày nay người ta còn lưu giữ được khoảng 3000 con dấu có khắc những kí hiệu đồ họa.
Chữ Brami
Chữ Sanscrit
Thế kỉ VII TCN, ở đây đã xuất hiện chữ Brami, ngày nay còn khoảng 30 bảng đá có khắc loại chữ này. Trên cơ sở chữ Brami, thế kỉ V TCN ở Ấn Độ lại xuất hiện chữ Sanscrit, đây là cơ sở của nhiều loại chữ viết ở Ấn Độ và Đông Nam Á sau này.

b./ Văn học
- Kinh Veda: được hình thành trong giai đoạn người Aryan xâm nhập vào Ấn Độ (khoảng nửa sau thiên niên kỷ II tr.CN). Ban đầu là tác phẩm vô danh truyền miệng, về sau tăng lữ Balamon đã cải biến thành những bài thánh ca, kinh cầu nguyện, nghi lễ, ma thuật… và được ghi thành tác phẩm bằng tiếng Phạn cổ. Toàn bộ kinh Veda gồm có 4 tập là Rig Veda, Sama Veda, Yajur Veda và Atharva Veda.
Kinh Tam Tạng của Phật giáo, gồm 3 phần:
+ Kinh tạng-ghi lại những lời dạy của đức Phật Thích Ca
+ Luật tạng-các quy định của Phật giáo và
+ Luận tạng-gồm những bài luận về giáo lý.
-Tác phẩm được các đệ tử Phật giáo ghi chép lại những lời dạy của Đức Phật Thích Ca sau khi Ngài viên tịch.
- Các tác phẩm của Calidasa – nhà thơ và nhà soạn kịch lớn của Ấn Độ ở thế kỉ V-thời Gupta. Các tác phẩm của ông thể hiện tư tưởng tự do, chống lại sự khắt khe của lễ giáo, lên án bản chất giả dối, lừa gạt, không chung thủy của tầng lớp thống trị và phần nào chống lại quan niệm đẳng cấp trong xã hội đương thời. Tác phẩm tiêu biểu nhất của ông là vở kịch Sowcuntla.
Từ thế kỉ X trở đi, các tác phẩm được viết bằng phương ngữ ngày càng nhiều với sự xuất hiện của nhiều tác giả và tác phẩm có giá trị. Đây cũng là bộ phận góp phần tạo nên nền văn học Ấn Độ phát triển phong phú, đa dạng.
-Hai tác phẩm văn học nổi bật thời cổ đại là Mahabharata và Ramayana.
Mahabharata là bản trường ca gồm 220 000 câu thơ.
Bản trường ca này nói về một cuộc chiến tranh giữa các con cháu Bharata. Bản trường ca này có thể coi là một bộ “Bách khoa toàn thư” phản ánh mọi mặt về đời sống xã hội Ấn Độ thời đó.
Ramayana là một bộ sử thi dài 48 000 câu thơ, mô tả một cuộc tình giữa chàng hoàng tử Rama và công chúa Xita.
Thiên tình sử này ảnh hưởng tới văn học dân gian một số nước Đông Nam Á. Riemke ở Campuchia, Riemkhiem ở Thái Lan chắc chắn có ảnh hưởng từ Ramayana. Thời cổ đại ở Ấn Độ còn có tập ngụ ngôn Năm phương pháp chứa đựng rất nhiều tư tưởng được gặp lại trong ngụ ngôn của một số dân tộc Á-Âu.
Hinđu giáo
2. Nghệ thuật
Ấn Độ là nơi có nền nghệ thuật tạo hình phát triển rực rỡ, ảnh hưởng tới nhiều nước Đông Nam Á. Nghệ thuật Ấn Độ cổ đại hầu hết đều phục vụ một tôn giáo nhất định, do yêu cầu của tôn giáo đó mà thể hiện. Có thể chia ra ba dòng nghệ thuật: Hinđu giáo, Phật giáo, Hồi giáo.
Phật Giáo
Hồi Giáo
Có rất nhiều chùa tháp Phật giáo, nhưng đáng kể đầu tiên là dãy chùa hang Ajanta ở miền trung Ấn Độ. Đây là dãy chùa được đục vào vách núi, có tới 29 gian chùa, các gian chùa thường hình vuông và nhiêu gian mỗi cạnh tới 20m. Trên vách hang có những bức tượng Phật và nhiều bích họa rất đẹp.
Các công trình kiến trúc Hindu giáo được xây dựng nhiều nơi trên đất Ấn Độ và được xây dựng nhiều vào thế kỉ VII-XI. Tiêu biểu cho các công trình Hiudu giáo là cụm đền tháp Khajuraho ở Trung Ấn, gồm tất cả 85 đền xen giữa những hồ nước và những cánh đồng.
Những công trình kiến trúc Hồi giáo nổi bật ở Ấn Độ là tháp Mina, được xây dựng vào khoảng thế kỉ XVIII và lăng Taj Mahan được xây dựng vào khoảng thế kỉ XVII.
3.Khoa học tự nhiên
-Vê Thiên văn: ngươi Ấn Độ cổ đại đã làm ra lịch, họ chia năm ra làm 12 tháng, mỗi tháng có 30 ngày. ( Như vậy năm bình thường có 360 ngày). Cứ sau 5 năm thì họ lại thêm vào một tháng nhuận.
-Về Toán học: Người Ấn Độ thời cổ đại chính là chủ nhân của hệ thống chữ số mà ngày nay ta quen gọi là số Ảrập. Đóng góp lớn nhất của họ là đặt ra số không, nhờ vậy mọi biến đổi toán học trở thành đơn giản, ngắn gọn hẳn lên. ( Người Tây Âu vì vậy mà từ bỏ số LaMã mà sử dụng số ẢRập trong toán học).
. Họ đã tính được căn bậc 2 và căn bậc 3; đã có nhiều hiểu biết về cấp số, đã biết về quan hệ giữa 3 cạnh một tam giác. Pi =3,1416.
-Về Vật Lí học: Người Ấn Độ cổ đại đã có thuyến nguyên tử. Thế kỉ V TCN, có một nhà thông thái ở Ấn Độ đã viết “…trái đất, do trọng lực của bản thân đa hút tất cả các vật về phía nó”.

-Y học: cũng khá phát triển. Ngươi Ấn Độ cổ đại đã mô tả các dây gân, cách chắp ghép xương sọ, cắt màng mắt, theo dõi quá trình phát triển của thai nhi. Họ để lại hai quyển sách là “ Y học toát yếu” và “ Luận khỏa về trị liệu”.
4. Tư tưởng – Tôn giáo
Ấn Độ là nơi sản sinh ra nhiều tôn giáo như đạo Balamon, đạo Phật, đạo Jain và đạo Xích.
Đạo Balamon
Đạo phật
Đạo Jain
Đạo Xích
a./ Đạo Balamon
Ra đời vào khoảng thế kỉ XV TCN, trong hoàn cảnh đang có sự bình đẳng rất sâu sắc về đẳng cấp và đạo này chứng minh cho sự hợp lí của trình trạng bất bình đẳng đó.
Về mặt xã hội, đạo Balamon là công cụ để bảo vệ chế đôh đẳng cấp. Giáo lí quan trọng nhất của đạo Balamon là thuyết luân hồi mà sau này nhiều tôn giáo khác chịu ảnh hưởng. Trong quá trình phát triển, đạo Balamon có thể chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn Veda ( thế kỉ XV TCN – thế kỉ V TCN), giai đoạn Balamon( thế kỉ V TCN – đầu CN), giai đoạn Hindu ( đầu CN – nay).
Thần BRama
(Sáng tạo)
Thần Siva
(Hủy diệt)
Thần Visnu
(Bảo hộ)
Đạo Balamon thờ thần
b/ Đạo Phật ra đời vào khoảng giữa thiên niên kỉ I TCN do thái tử Xitdacta Gootama, hiệu là Sakya Muni ( Thích Ca Mậu Ni) khởi xướng. Các tín đồ Phật giáo lấy năm 544 TCN là năm thứ nhất theo lịch Phật, họ cho là đây là năm Đức Phật nhập niết bàn. ( Vì vậy, những người Châu Á theo đạo Phật trước kia vẫn để ý đến ngày qua đời hơn ngày ra đời, khác hẳn những người theo đạo Thiên Chúa).
*Giáo lí cơ bản của đạo Phật là Tứ diệu đế (bốn điều suy xét kì diệu):

- Khổ đế ( suy xét về sự khổ cực, luân hồi, nghiệp báo)
- Nhân đế - Tập đế ( nguyên nhân cảu sự đau khổ là dục vọng-lòng ham muốn)
- Diệt đế (con đường tiết dục, diệt dục để trừ nghiệp báo)
- Đạo đế ( con đường để giải thoát khỏi sự luân hồi, nghiệp báo
Chánh kiến: Phải có tín ngưỡng đúng đắn.

Chánh tư duy: Phải có suy nghĩ đúng đắn.

Chánh ngữ: Phỉa có lời nói đúng.

Chánh nghiệp: Phải có hành động đúng đắn.

Chánh mệnh: Phải có cuộc sống đúng đắn.

Chánh tinh tiến: Phải có những ước mơ đúng đắn.

Chánh niệm: Phải có những điều tưởng nhớ đúng đắn.

Chánh định: Phải tập trung tư tưởng mà suy nghĩ.
Đức Phật còn để ra tám con đường chính trực để tu hành - Bát chánh:
Đạo Phật còn đề ra Ngũ giới:

Bất sát sinh: Không giết hại các động vật.
Bất đạo tặc: Không trộm cắp.
Bất vọng ngữ: Không nói dối.
Bất ẩm tửu: Không uống rượu.
Bất tà dâm: Không tham vợ hay chồng của người khác
Do quan niệm duyên khởi sinh ra vạn vật nên đạo Phật chủ trương Vô ngã, Vô tạo giả, Vô thường.
Vô tạo giả:quan niệm thế giới này không do một đấng tối cao nào tạo ra, tự nhiên mà có vô cùng vô tận. Như vậy là đạo Phật không dựa vào một đấng tối cao nào để giải thích về sự xuất hiện thế giới như các tôn giáo khác.

Vô ngã: cho là không có những thực thể vật chất tồn tại một cách cố định. Con người cũng chỉ là tập hợp của Ngũ Uẩn( sắc, thụ, tưởng, hành, thức), chứ không phải là một thực thể tồn tại lâu dài.

Vô thường: cho la vạn vật trong thế giới này biến đổi không ngừng, không có gì là vĩnh cửu cả.
Qua những giáo lí ban đầu của Phật như vậy, ta thấy lúc đầu đạo Phật chỉ là một triết lí về nhân sinh quan. Đạo Phật sơ khai lúc đầu không thờ bất cứ một vị thần thánh nào. Ngay cả Phật tổ Sakya Muni cũng không tự coi mình là thần thánh. Tuy Phật tổ Sakya Muni có tổ chức tôn giáo ó hệ thống chùa tháp như ngày nay.
Trong hoàn cảnh xã hội đầy rẫy bất công do chế độ đẳng cấp gây ra, thì Phật giáo lại chủ trương không phân biệt đẳng cấp, kêu gọi lòng thương người ( từ bi hỷ xã), tránh điều ác, làm điều thiện.
Những lơi kêu gọi sự vông bằng, lòng nhân đức đó đã được đông đảo người dân hưởng ứng.
c./ Đạo Jain-Kỳ Na cũng xuất hiện vào khoảng thế kỉ VI TCN. Đạo này chủ trương bất sát sinh một cách cực đoan và nhấn mạnh sự tu hành khổ hạnh.
d./ Đạo Sikh- Xích xuất hiện ở Ấn Độ vào khoảng thế kỉ thứ XV. Giáo lí của đạo Xích có sự kết hợp giáo lí của đạo Hindu và giáo lí của đạo Islam. Tín đồ đạo Xích tập trung rất đông ở bang Punjap và ngôi đên thiêng liêng của họ là ngôi đền Vàng ở Punjap.
 
Gửi ý kiến