Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tuần 14. Nhàn

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn thị thanh minh
Ngày gửi: 10h:07' 05-08-2021
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 228
Số lượt thích: 0 người
Chào mừng quý thầy cô giáo về dự giờ thăm lớp!
Từ trái sang phải: Tôn Trung Sơn, Victor Hugo, Nguyễn Bỉnh Khiêm
Tiết 41: Đọc văn
Nhàn
Nguyễn Bỉnh khiêm
Nhàn
Nguyễn Bỉnh khiêm
Tiết 41: Đọc văn
Chân dung Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nhàn
Nguyễn Bỉnh khiêm
Tiết 41: Đọc văn
Bạch Vân am
Đền thờ
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Cuộc đời và con người:
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sống trọn vẹn thế kỉ XVI, chứng kiến cảnh vua Lê, chúa Trịnh, Trịnh – Nguyễn phân tranh; Đàng Trong – Đàng Ngoài nồi da nấu thịt
Là người có nhiều giai thoại, có nhiều lời “sấm kí”
Chuyện kể rằng, trước khi chết Nguyễn Bỉnh Kiêm để lại 1 phong thư, đặt trong một ống quyển gắn kín, dặn con cháu sau này làm ăn sa sút, mang thư ấy đến quan sở tại sẽ được cứu giúp. Đến đời thứ 7, người cháu bảy đời là Thời Đương nghèo khốn quá, mới nhớ lời truyền lại, đem phong thư đến quan sở tại. Quan lúc này đang nằm võng đọc sách, nghe báo có thư của cụ Trạng Trình thì lấy làm kì lạ, lật đật chạy ra đón thư. Vừa ra khỏi thi cái xà nhà rơi xuống đúng chỗ quan nằm. Quan lấy làm may quá. Kịp đến mở thư ra xem thì chỉ có mấy chữ:
“Ngã cửu nhĩ thượng lương chi ách
Nhĩ cứu ngã thất thế chi tôn”
(Ta cứu ngươi khỏi ách xà rơi
Ngươi nên cứu cháu 7 đời của ta)
Quan vừa kinh ngạc vừa kính phục đỡ cháu của Trạng Trình đứng dậy...
Tập sấm còn đề cập đến 1 bậc thánh nhân giúp đời:
“Một đời có một tôi ngoan
Giúp chưng nhà nước dân an thái bình
Ấy điềm sinh Thánh rành rành chẳng nghi”
Lời sấm ấy phù hợp với câu đồng dao có trước 1920
“Đụn sơn phân giới, Bờ Đái đất thanh, Nam Đàn sinh thánh”
Người ấy chính là Hồ Chí Minh (Theo Đào Duy Anh)
- Nguyễn Bỉnh Khiêm, xét về mặt loại hình nhân cách hoặc mẫu người văn hóa, là một nhà nho quân tử hoặc con người quân tử như Nguyễn Trãi, như Lê Thánh Tông.
- Với một nhà nho quân tử, vấn đề cốt yếu, mang tính lý tưởng vẫn là trung thành với nhà vua chính thống (trung thần bất sự nhị quân). Nhưng ở thời Nguyễn Bỉnh Khiêm, các khái niệm vua và nước không còn trùng khít nữa, quyền lợi của vua mâu thuẫn với quyền lợi của dân, nên việc trung thành với một ông vua ngu tối (hôn quân) sẽ trở thành ngu trung: vấn đề chọn chủ được đặt ra. Sự lựa chọn này trở thành một vấn đề trí thức bắt đầu từ Nguyễn Bỉnh Khiêm với Lê – Mạc, sẽ kéo dài với bao người khác trước sự phân tranh Trịnh – Nguyễn, Tây Sơn – Nguyễn Ánh… Đúng sai là một chuyện, nhưng chuyện khác là ứng xử của Nguyễn Bỉnh Khiêm về sau đã trở thành một trong những khuôn mẫu cho nhiều thế hệ nhà nho, trí thức
Sự nghiệp
Sự nghiệp:
Tác phẩm: Bạch Vân am thi tập (viết bằng chữ Hán, có khoảng 700 bài); Bạch Vân quốc ngữ thi (viết bằng chữ Nôm, có khoảng 170 bài)
Nội dung: Mang đậm chất triết lí, giáo huấn, ca ngợi chí của kẻ sĩ, thú thanh nhàn, đồng thời phê phán những điều xấu xa trong xã hội.
- “Nhàn” là bài thơ Nôm số 70, rút từ tập “Bạch Vân quốc ngữ thi”. Nhan đề do người đời sau đặt
蔑 埋 蔑 𨨠 蔑 芹 鉤
疎 引 油 埃 𣡝 趣 芾
些 曳 些 尋 尼 永 尾
𠊛 坤 𠊛 典 准 唠 哰
秋 咹 芒 竹 冬 咹 稼
春 沁 湖 蓮 夏 沁 
𨢇 旦 檜  些 仕 㕵
𥆾 䀡 富 貴 似 占 包
* Thể loại:
* Xuất xứ:
Tác phẩm:
- Thất ngôn bát cú Đường luật.
Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.
* Bố cục:

(Nhàn)
(1): nhàn rỗi vô sự. 
(2): an nhàn, yên ổn thư thái không có ý khoe khoang.
Hai câu đề:
Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
-Điệp từ: “một”
-Liệt kê danh từ: “mai, cuốc, cần câu”
-Lặp cấu trúc: “Số từ + Danh từ”
-Nhịp: 2/2/3
Gợi nhịp điệu đều đặn, thong thả của cuộc sống.
-Từ láy “thơ thẩn”:
Trạng thái thanh thản, an nhàn, vô sự trong lòng.
- Đối:
thơ thẩn >< vui thú
Khẳng định lối sống đã lựa chọn.
- “dầu ai”: mặc ai
Quan niệm nhàn của tác giả trong hai câu đề là gì?
Hai câu thực:
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.
-Hình ảnh hoán dụ biểu tượng:
+ Nơi vắng vẻ:
Nơi thiên nhiên tĩnh tại, xa lánh cuộc đời bon chen đố kị, tâm hồn thanh thản.
+ Chốn lao xao:
Chốn cửa quyển “ra luồn vào cúi”, đua chen danh lợi, nhiều ràng buộc.
Hai câu thực:
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.
- Nghệ thuật đối:
Ta - tìm nơi vắng vẻ
Người - đến chốn lao xao
><
(Tự do)
(Ràng buộc)
Dại
Khôn
“Khôn mà hiểm độc là khôn dại
Dại vốn hiền lành ấy dại khôn”
Hai câu thực:
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.
- Nghệ thuật đối:
Ta - tìm nơi vắng vẻ
Người - đến chốn lao xao
><
(Tự do)
(Ràng buộc)
Dại
Khôn
Dại
Khôn
Hai câu thực:
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.
Cách nói ngược, nói mỉa.
Khẳng định phương châm sống xa lánh nơi quyền quý, tìm nơi sống thoải mái, nhàn tản, gìn giữ nhân cách.
Thái độ mỉa mai cách sống tham lam danh vọng, phú quý.
Quan niệm nhàn của tác giả trong hai câu thực là gì?
Hai câu luận:
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Thu
Đông
Hạ
Xuân
- Nhịp thơ: 1/3/1/2
- Nghệ thuật đối
Gợi khung cảnh sinh hoạt đều đặn.
+ Sản vật:
Măng trúc
Giá đỗ
Đạm bạc, dân dã.
+ Sinh hoạt:
Tắm hồ sen
Tắm ao
Bình thường, giản dị.
+ Nhịp sống diễn ra theo 4 mùa Xuân -Hạ -Thu -Đông
→ vòng xoay tạo hóa - quy luật tự nhiên.
Quan niệm nhàn của tác giả trong hai câu luận là gì?
Hai câu kết:
- Dùng điển tích:
“phú quý tựa chiêm bao”
- Đời người là giấc mộng.
- Phú quý chỉ là phù du.
“Nhàn” là triết lí sống phủ nhận danh lợi.
Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao
Quan niệm nhàn của tác giả trong hai câu kết là gì?
* Nghệ thuật:
- Ngôn từ, hình ảnh mộc mạc, tự nhiên ý vị.
- Sử dụng nghệ thuật đối, phép điệp, phép lặp và dùng điển cố đạt hiệu quả cao.
- Giọng thơ nhẹ nhàng, hóm hỉnh.
Tổng kết:
Ý nghĩa văn bản:

Vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm: thái độ coi thường danh lợi, luôn giữ cốt cách thanh cao trong mọi cảnh ngộ đời sống.
Tổng kết:
Luyện tập
2
1
3
4
5
6
Câu 1: “Nhàn” nhằm mục đích để chỉ:
A. Một công cụ lao động.
B. Một hoạt động.
C. Một quan niệm, một cách xử thế.
D. Cả A, B, C đều đúng
Đáp án: C
Câu 2: Bài thơ “Nhàn” được làm theo thể thơ:
A. Song thất lục bát.
B. Thất ngôn bát cú.
C. Thất ngôn bát cú Đường luật.
D. Cả B và C.
Đáp án: C
Câu 3: Qua bài thơ “Nhàn” em nhận thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm là con người như thế nào?
A. Trí tuệ uyên thâm.
B. Tâm hồn thanh cao.
C. Có lối sống đạm bạc, thanh tao, vui thú điền viên.
D. Cả 3 đáp án trên.
Đáp án: D
Câu 4: Nhàn là một quan niệm xuất phát từ tư tưởng nào?
A. Phật giáo.
B. Nho giáo.
C. Lão giáo.
D. Lão – Trang.
Đáp án: B
Câu 5: Nghệ thuật chính của bài thơ là:
A. Sử dụng phép đối, điển cố.
B. Ngôn ngữ mộc mạc, tự nhiên mà ý vị, giàu chất triết lí.
C. Phóng đại, khoa trương.
D. Đáp án A và B.
Đáp án: D
Câu 6: Bài thơ “Nhàn” thuộc phong cách:
A. Ngôn chí (nói lên chí hướng)
B. Tự thuật (tự nói về mình)
C. Tự thán (tự than)
D. Cả A và B.
Đáp án: D
Có ý kiến cho rằng: giới trẻ hiện nay cần phải học tập quan niệm Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, tức có nghĩa là cũng nên ẩn dật, lánh đục khơi trong, vui thú điền viên, trở về với nông thôn thuần hậu, hưởng lạc thú thái bình... Vậy theo em, em có đồng ý với ý kiến trên hay không? Hãy phát biểu quan niệm của bản thân?
- Học thuộc lòng bài thơ, học bài.
- Soạn bài “Độc Tiểu Thanh kí” (Nguyễn Du):
+ Số phận người phụ nữ nói riêng và người tài hoa trong xã hội xưa nói chung?
+ Tấm lòng nhân đạo của nhà thơ Nguyễn Du qua bài thơ này?
+ Sưu tầm một số câu thơ của Nguyễn Du và một số tác giả khác nói về số phận người phụ nữ trong xã hội cũ.
DẶN DÒ:
Cảm ơn quý thầy cô giáo và các em.
Chúc các em học ngoan...
 
Gửi ý kiến