Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Ôn TÌnh cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Bùi Thị Huyền
Ngày gửi: 21h:34' 23-03-2022
Dung lượng: 5.4 MB
Số lượt tải: 56
Số lượt thích: 0 người
TÌNH CẢNH LẺ LOI CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ
(Trích“Chinh phụ ngâm”)
Nguyên tác chữ Hán: Đặng Trần Côn
Diễn Nôm                 : Đoàn Thị Điểm
I. KIẾN THỨC CHUNG
2
1. Tác giả, dịch giả
Dịch giả:
Có 2 quan điểm:
Phan Huy Ích
- Đoàn Thị Điểm

2. Tác phẩm “Chinh phụ ngâm”
b, Thể loại: Ngâm khúc
a, Hoàn cảnh sáng tác:
“Chinh phụ ngâm” được viết vào đầu những năm 40 của thế kỉ XVIII
Khi nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra, triều đình cất quân đi đánh dẹp, nhiều trai tráng phải ra tr
c, Thể thơ:
Nguyên tác: Trường đoản cú (dài ngắn khác nhau:
Bản diễn Nôm: Song thất lục bát
3. đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”
Từ câu 193 đến 216 (ứng với câu 228 đến câu 252 trong nguyên tác)
Bố cục: 2 phần
16 câu đầu: Nỗi cô đơn buồn tủi của người chinh phụ.
8 câu cuối: Nỗi nhớ thương chồng của người chinh phụ.
VỊ TRÍ
NỘI DUNG
BỐ CỤC
+ Mang đậm tính tượng trưng ước lệ.
+ Tả cảnh ngụ tình.
+ Bút pháp trữ tình đặc sắc và nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật.
+ Tiếng nói oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa.
I. TÌM HIỂU CHUNG
2. Tác phẩm “Chinh phụ ngâm
+ Diễn tả tâm tình sâu kín và thể hiện khát vọng hạnh phúc lứa đôi.
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?
Đèn có biết dường bằng chẳng biết
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi
Buồn rầu nói chẳng nên lời
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.

II. Đề văn
1. Đề 1: Cảm nhận về 8 câu thơ
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích và 8 câu đầu của Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.
VD: Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”( Trích “Chinh phụ ngâm” (nguyên tác chữ Hán: Đặng Trần Côn, Diễn Nôm: Đoàn Thị Điểm?) đã thể hiện tinh tế và cảm động nỗi thương nhớ người chồng của người chinh phụ bằng bút pháp trữ tình đặc sắc. Trong đó, đoạn thơ:
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
…………………………..
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.
là nỗi niềm cô đơn, sầu muộn của người chinh phụ khi người chồng đi chinh chiến không có tin tức, không rõ ngày trở về.
2. Thân bài:
Khái quát về tác giả, tác phẩm, đoạn trích
Đầu thế kỉ XVIII, nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra quanh kinh thành Thăng Long, triều đình cất quân đi đánh dẹp, nhiều trai tráng phải ra trận, cảm thương trước tình cảnh những người vợ có chồng đi chinh chiến, Đặng Trần Côn đã viết Chinh phụ ngâm bằng chữ Hán. Bản diễn Nôm hiện hành được coi là của Đoàn Thị Điểm, ngoài ra cũng có ý kiến cho rằng bản diễn Nôm của Phan Huy Ích. Chinh Phụ ngâm được viết theo thể ngâm khúc, một thể trữ tình phù hợp với việc thể hiện nội tâm con người. Ở bản nguyên tác, tp dùng thể thơ trường đoản cú, ở bản diễn Nôm là thể thơ song thất lục bát. Chinh phụ ngâm có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, đồng thời thể hiện bút pháp trữ tình đặc sắc trong việc miêu tả thế giới nội tâm của con người.
- Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” diễn tả Tình cảnh, tâm trạng cô đơn, buồn khổ, nỗi nhớ thương của người chinh phụ trong thời gian chồng đi đánh trận không có tin tức và 8 câu thơ đầu đã thể hiện tinh tế những cung bậc cảm xúc đó.


b. Phân tích
* Mở đầu đoạn trích là tâm trạng rối bời của người chinh phụ được thể hiện qua những hành động vô thức:
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen
Tác giả đã sử dụng bút pháp miêu tả nội tâm thông qua ngoại cảnh: hành động lặp đi lặp lại trong vô thức, không có mục đích của người chinh phụ giúp ta hình dung được dáng vẻ buồn rầu, không nói nên lời của người chinh phụ nơi hiên vắng thẫn thờ đợi chồng về từ phương xa.

* Người chinh phụ vừa đi vừa đếm bước chân mình, như đang đếm từng ngày xa chồng. Những bước chân lặng lẽ,chậm rãi chất chứa nỗi ưu phiền, lo lắng cho người chồng ở nơi chiến trường.
* Hết đi đi lại lại, nàng lại ngồi bên cửa sổ, hết buông lại cuốn rèm trong vô thức và cứ lặp đi lặp lại. Dường như, nàng không ý thức được mình đang làm gì, vì đã dồn hết tâm tư, sự lo lắng, nhớ nhung cho người chồng nơi biên ải chẳng biết khi nào mới trở về.
* Tính từ “vắng”, “thưa” tạo nên sự trống trải cho không gian, tô đậm sự buồn tủi, cô đơn của người chinh phụ. Các từ “từng”, “đòi” càng nhấn mạnh sự lặp lại vô thức những hành động vô nghĩa của người chinh phụ.

Người chinh phụ ngóng trông tin chồng nhưng: Ngoài rèm thước chẳng mách tin. Chim thước là chim khách, loài chim báo tin người đi xa trở về, thước chẳng mách tin là không có tin tức gì của người chồng. Như vậy, thực tại với những nỗi nhớ, sự trông ngóng, ước muốn sum vầy đều xa vời, không được hồi âm khiến người chinh phụ càng thêm vô vọng.
Nàng tìm sự sẻ chia khi đối diện với ngọn đèn, câu hỏi tu từ Đèn có biết dường bằng chẳng biết? là một lời than thở, bày tỏ sự chán chường, cô đơn đan xen với tuyệt vọng. Ngọn đèn là một hình ảnh quen thuộc, xuất hiện nhiều trong các tác phẩm văn học dân gian và trung đại. Trong đoạn trích, ngọn đèn được sử dụng để ẩn dụ cho thời gian trôi nhanh, ẩn dụ cho sự lụi tàn, héo hon của một kiếp người: cuộc đời như một kiếp hoa đèn mong manh dang dở.
- Người chinh phụ thức trắng đêm cùng ngọn đèn. Nhưng thời gian trôi qua, ngọn đèn vô tri vô giác cũng chẳng thể sẻ chia cuối cùng nàng lại trở về với nỗi cô đơn của chính mình: Đèn có biết dường bằng chẳng biết. Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi. Bi thiết là bi thương, thảm thiết, là nỗi đau không thể nói thành lời, là khát khao được thấu hiểu, được sẻ chia nhưng lại chẳng có ai để cùng tâm sự.
.
Ngọn đèn là hình ảnh thường gợi nên sự sum họp, ấm áp của gia đình, nhưng với người chinh phụ, nó lại càng khắc sâu vào tim nàng nỗi cô đơn, khắc khoải, rối bời.
"Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương”
Từ thuần việt “buồn rầu” đã diễn tả chân thật và sinh động nỗi buồn của người chinh phụ trong giây phút này. “Nói chẳng nên lời” vì nỗi buồn miên man không thể diễn tả được hay vì nói ra cũng chẳng ai sẽ chia.
Hoa đèn là đầu bấc đèn dầu đã cháy như than, nhưng nó được nung đỏ lên nên trông như hoa, hay chính lòng nàng đang cháy đến tàn đỏ như hoa đèn kia. “Bóng người” ở đây chính là bóng người cp héo hon, tàn tạ chờ chồng. Trong bóng đêm im lặng, hoa đèn và bóng người càng trở nên nhỏ bé, đáng thương và tội nghiệp.
c. Nghệ thuật, giá trị đoạn trích
Bút pháp nghệ thuật ước lệ kết hợp thể thơ song thất lục bát cùng nhịp thơ chậm rãi đã thể hiện những mạch cảm xúc mang cung bậc khác nhau của người chinh phụ.
Đoạn trích sử dụng nghệ thuật miêu tả tâm cảnh bằng ngoại cảnh cùng nhiều tính từ chỉ cảm xúc.
* Tác giả đã thành công trong việc xây dựng hình ảnh người chinh phụ mang suy tư rối bời, tâm trạng héo mòn và chạm đến trái tim người đọc. Qua tâm trạng cô đơn buồn khổ ấy, nhà thơ đã gián tiếp lên án chiến tranh phong kiến phi nghĩa, lên tiếng đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho con người. Đó chính là giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc của đoạn trích nói riêng và tác phẩm nói chung.
VD: Chỉ với 8 câu thơ, tác giả đã gieo vào lòng người đọc những cảm xúc sâu lắng về nỗi buồn, sự cô đơn của người chinh phụ trong cảnh chờ đợi mỏi mòn. Qua đó, ta thấy được trái tim nhân đạo của người nghệ sĩ. Chính điều đó đã góp phần tạo nên sức sống cho tác phẩm. Và “Chinh phụ ngâm” xứng đáng với lời nhận xét “Thời gian có thể phủ bụi một số thứ. Nhưng cũng có những thứ càng rời xa thời gian, càng sáng, càng đẹp”. (Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên).
3. Kết bài
Khái quát nội dung, nghệ thuật của 8 câu đầu và đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”.


Đề 2: Cảm nhận về đoạn thơ
“Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa
Hương gượng đốt, hồn đà mê mải,
Gương gượng soi, lệ lại chứa chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích và 8 câu thơ của Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.
2. Thân bài:
Khái quát tg, tp, đoạn trích
Phân tích
-Tâm trạng của người chinh phụ không chỉ gợi được lên qua những bước chân, động tác, cử chỉ, qua gương mặt buồn rầu, qua dáng ngồi bất động trước ngọn đèn khuya mà còn nổi bật lên trên nền của không gian và thời gian:
“Gà eo óc gáy sương năm trống
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên”
-Hình ảnh “bóng hòe phất phơ” trong đêm tối cùng biện pháp lấy động tả tĩnh qua sự xuất hiện âm thanh tiếng gà eo óc đã tô đậm nỗi cô đơn, triền miên của nhân vật trữ tình trong đêm khuya vắng.
“Eo óc” là âm thanh thưa thớt trong một không gian rộng lớn, hiu quạnh có cảm giác tang tóc, tang thương.Từ láy “phất phơ” đã biểu đạt một cách tinh tế hình ảnh cây hòe trong đêm cũng là dáng điệu võ vàng của người chinh phụ.
- Tác giả đã biến thời gian thành thời gian tâm lí, không gian thành không gian cảm xúc bằng bút pháp ước lệ và nghệ thuật so sánh trong hai câu thơ:
“Khắc giờ đằng đẵng như niên
Mối sầu dằng dặc tự miền biển xa”
Câu thơ theo đúng nguyên tác của Đặng Trần Côn:
“Sầu tựa hải
Khắc như niên”
- Chỉ thêm hai từ láy “dằng dặc” và “đằng đẵng” nhưng sự chán chường, mệt mỏi kéo dài vô vọng của người chinh phụ trở nên thật cụ thể, hữu hình và có cả chiều sâu. Kể từ khi người chồng ra đi, với người chinh phụ, một khắc giờ trở nên dài lê thê như cả một năm và những mối lo toan, nỗi buồn sầu như đông đặc, tích tụ đè nặng lên tâm hồn người phụ nữ đáng thương.
Từng ngày, từng giờ, từng phút người chinh phụ vẫn đang chống chọi với nỗi cô đơn:
“Hương gượng đốt hồn đà mê mải
Gương gượng soi lệ lại châu chan
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng”
Điệp từ “gượng” được điệp đi điệp lại ba lần trong bốn câu thơ tiếp theo đã thể hiện sự nỗ lực vượt thoát nỗi cô đơn của người chinh phụ. Nàng gượng đốt hương để kiếm tìm sự thanh thản thì lại rơi sâu hơn vào cơn mê man. Nàng gượng soi gương để chỉnh trang nhan sắc thì lại chỉ thấy những giọt sầu. Nàng gượng tìm đến với âm nhạc để giải tỏa thì nỗi âu lo về duyên cầm sắt và tình loan phượng lại hiện hình. Dường như nàng đang mang trong mình quá nhiều những nỗi lo sợ, lo lắng, bởi thế, người chinh phụ không những không thể giải tỏa được nỗi niềm bản thân mà còn như chìm sâu hơn vào nỗi bi thương xót xa

c. Nghệ thuật: Nỗi cơ đơn, lẻ loi của người chinh phụ được đã đặc tả bằng bút pháp trữ tình : Nhạc điệu vần thơ song thất lục bát réo rắt, triền miên như nỗi buồn cô đơn da diết, dằng dặc, đằng đẵng trong lòng người chinh phụ. Các từ láy, các so sánh được sử dụng tài tình để khắc hoạ nội tâm nàng chinh phụ. Lời thơ đẹp, ngôn ngữ trau chuốt. Ngoại cảnh như thấm nỗi buồn cô đơn, đau khổ của lòng người.
- Giá trị hiện thực, nhân đạo.
3. Kết bài
Khái quát nội dung, nghệ thuật của 8 câu thơ và đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”.


Đề 3: Cảm nhận về đoạn thơ
Lòng này gửi gió đông có tiện?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.
Non Yên dù chẳng tới miền
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu ,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong
Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.





1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích và 8 câu thơ của Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.
2. Thân bài:
Khái quát tg, tp, đoạn trích
Phân tích
Nếu như ở 16 câu đầu người chinh phụ một mình trong căn phòng quạnh vắng với tâm trạng cô đơn, lẻ loi, nỗi trống trải trong lòng thì đến 8 câu cuối, nỗi nhớ và nỗi khát khao hạnh phúc lứa đôi bỗng trào dâng trong lòng và trở nên khắc khoải hơn bao giờ hết. Mượn gió đông để gửi yêu thương cho chồng . Đó là ước muốn , là khát khao được biết tin tức về chồng mình:
“Lòng này gửi gió đông có tiện?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.”

Tác giả sử dụng câu hỏi tu từ, kết hợp với điển cố ( non Yên) để diễn tả nỗi nhớ của nhân vật. “Lòng này” là sự thương nhớ khôn nguôi, vì đã trải qua nhiều đợi chờ .Gió đông là gió mùa xuân.Trong cô đơn, người chinh phụ chỉ biết hỏi gió,nhờ gió đưa tin tới người chồng yêu thương nơi chiến địa xa xôi,nguy hiểm,nơi non Yên nghìn trùng. Thế nhưng hiện thực thật phũ phàng , đau xót :
“Non Yên dù chẳng tới miền
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời”


Việc sử dụng từ láy ‘thăm thẳm’ đã nói lên được nỗi nhớ da diết của người chinh phụ .Mỗi nhớ thương ấy đè nặng trong lòng,triền miên theo thời gian, “đằng đẵng” không thể nguôi ngoai. Nỗi nhớ ấy được cụ thể hóa bằng độ dài của không gian “đường lên bằng trời. Nỗi nhớ thương ấy,tiếng lòng thiết tha ấy lại được diễn tả qua âm điệu triền miên của vần thơ song thất lục bát với thủ pháp nghệ thuật liên hoàn-điệp ngữ.
Sau khi hỏi “gió đông”để bày tỏ niềm thương nỗi nhớ chồng , cuối cùng đọng lại trong nàng là nỗi đau , sự tủi thân:
“Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu ,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong”
Ý của câu như muốn nói lên sự xa cách nghìn trùng , với biển trời rộng lớn , xa “thăm thẳm” không hiểu cho “nỗi nhớ chàng”của người vợ trẻ.Nỗi nhớ “đau đáu” trong lòng.Đau đáu nghĩa là áy náy,lo lắng,day dứt khôn nguôi.Có thể nói qua cặp từ láy:”đằng đẵng” và “đau đáu”,dịch giả đã thành công trong việc miêu tả những thương nhớ, đau buồn,lo lắng của người chinh phụ một cách cụ thể,tinh tế,sống động.
Ở hai câu cuối,nhà thơ lấy ngoại cảnh để thể hiện tâm cảnh :
“Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.”
Người chinh phụ thấy cảnh vật vô hồn, thê lương . Niềm thương nỗi nhớ cứ kéo dài từ ngày này sang ngày nọ . Nhìn cành cây ướt dẫm sương đêm mà lòng nàng lạnh lẽo . Nghe tiếng trùng, tiếng mưa mà thêm nhói lòng, buồn nhớ. Âm thanh ấy,cảnh sắc ấy vừa lạnh lẽo vừa buồn,càng khơi gợi trong lòng người vợ trẻ nỗi cô đơn lo lắng,buồn rầu.

c. Nghệ thuật
Với thể thơ song thất lục bát , cách dùng từ tinh tế, hình ảnh ước lệ , điệp từ điệp ngữ , nghệ thuật miêu tả nội tâm , đoạn thơ đã thể hiện 1 cách tinh tế những cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau của nỗi cô đơn buồn khổ ở nàng khao khát được sống trong hạnh phúc , tình yêu lứa đôi . Đoạn trích còn thể hiện tấm lòng yêu thương , cảm thong sâu sắc của tác giả với những khát khao hạnh phúc chính đáng của người thiếu phụ , cất lên tiếng kêu nhân đạo , phản đối chiến tranh phi nghĩa

3. Kết bài
Khái quát nội dung, nghệ thuật của 8 câu thơ và đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”.


 
Gửi ý kiến