Bài 13. Đề văn thuyết minh và cách làm bài văn thuyết minh

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Ngọc Hà
Ngày gửi: 23h:16' 21-02-2023
Dung lượng: 46.4 MB
Số lượt tải: 16
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Ngọc Hà
Ngày gửi: 23h:16' 21-02-2023
Dung lượng: 46.4 MB
Số lượt tải: 16
Số lượt thích:
0 người
TÍCH
ĐỀN
HÙNG
I.Lịch sử
hình thành
Ꞝ Đền được xây dựng vào thế kỷ XVIII, theo
hướng Đông Nam, kiến trúc kiểu chữ công, gồm
nhà tiền bái (3 gian), hậu cung (3 gian), 1 chuôi
vồ và 2 nhà oản (4 gian), có phương đình nối
tiền bái với hậu cung. Cổng Đền Giếng được xây
vào thế kỷ XVIII, kiểu dáng gần giống cổng chính
nhưng nhỏ và thấp hơn.
Là nơi vua Hùng chọn để đóng đô.
II.Đặc
điểm
1.Vị tri
-Nằm trên núi Nghĩa Lĩnh, giữa đất
Phong Châu, ngày nay là xã Hy
Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú
Thọ.
Các
di
tích
chính
2.
.
Đền
Giếng
Đền
hạ
Đền
trung
Đền
thượn
g
01
02
03
04
Điểm bắt đầu của Khu di tích là Đại Môn, xây năm 1917 theo kiểu vòm
uốn.
Giữa cột trụ và cổng đắp
nổi phù điêu hai võ sỹ, một
người cầm giáo, một người
cầm rìu chiến, mặc áo giáp,
ngực trang trí hổ phù. Giữa
tầng một có đề bức đại tự:
“Cao sơn cảnh hành” (lên
núi cao nhìn xa rộng). Còn
có người dịch là “Cao sơn
cảnh hạnh” (Đức lớn như
núi cao). Mặt sau cổng đắp
hai con hổ là hiện thân vật
canh giữ thần.
ĐỀN
GIẾNG
Trước đây,giếng Ngọc chỉ là một vũng nước rất trong xanh
được nhiều người yêu thích. Vua cùng các đại thần thường
tới núi Nghĩa Lĩnh làm lễ tế trời tế đất còn các công chúa của
vua thì đi dạo ngắm cảnh thiên nhiên.
Khi tới với Giếng Ngọc này, 2 công chúa Ngọc Hoa và Tiên
Dung lấy làm thích thú bởi nước của giếng trong vắt. Họ cùng
ngắm dung nhan của mình trong giếng nước, rồi lấy nước trong
giếng uống khen ngọt, mát lành. Từ đó về sau, nơi đây trở
thành điểm đến để hai cô công chúa soi mặt, thưởng ngoạn
phong cảnh thiên nhiên.
Đền được xây dựng vào thế kỷ XVIII, theo hướng Đông Nam,
kiến trúc kiểu chữ công, gồm nhà tiền bái (3 gian), hậu cung (3
gian), 1 chuôi vồ và 2 nhà oản (4 gian), có phương đình nối tiền
bái với hậu cung.
Đền Giếng là nơi có thắng cảnh vô cùng đẹp, phía trước có hồ
sen, một bên là giếng Ngọc. Đến với Đền Giếng, du khách nên
múc nước ở giếng lên mời uống, để mang về hoặc cũng có thể
để rửa mặt. Nước trong giếng được đánh giá vô cùng mát lạnh,
ngọt ngào và thích thú. Chính việc uống nước ở Giếng Ngọc
này, du khách sẽ bớt được nhiều bệnh tật, giữ bỏ được nhiều
phiền muộn. Soi mặt xuống giếng, ngắm nhìn quang cảnh xung
quanh, nhìn thấy cổng đền cổ kính, tìm chỗ nghỉ mát rợp bóng
cây giúp cho tâm hồn con người trở nên thanh tịnh hơn bao giờ
hết.
ĐỀN HẠ
Tương truyền là nơi Âu Cơ sinh bọc trăm trứng,nở thành một trăm người
con.
Đền Hạ được xây dựng lại trên nền đất cũ vào thế kỷ XVII - XVIII. Kiến trúc kiểu chữ
“nhị” gồm hai toà tiền bái và hậu cung, mỗi toà ba gian, cách nhau 1,5m. Kiến trúc đơn
sơ kèo cầu suốt, bẩy gối vào đầu kèo làm cho mái sau dài hơn mái trước. Đốc xây liền
tường với đốc Hậu cung, hai bên đắp phù điêu, một bên voi, một bên ngựa. Bờ nóc
phẳng, không trang trí mỹ thuật. Mái lợp ngói mũi, địa phương gọi là ngói mũi lợn.
Ngay chân Đền Hạ là Nhà bia với kiến trúc hình lục giác, có 6 mái. Trên đỉnh có đắp hình
nậm rượu, 6 mái được lợp bằng gạch bìa bên trong, bên ngoài láng xi măng, có 6 cột
bằng gạch xây tròn, dưới chân có lan can. Trong nhà bia trước đây đặt tấm bia ghi lại
việc tu sửa đường lên núi Hùng, hiện nay đặt bia đá, nội dung ghi lời dặn của Chủ tịch
Hồ Chí Minh khi Người về thăm Đền Hùng ngày 19/9/1945:
“Các Vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”
Chùa Thiên Quang(Thiên quang thiền tự), được xây theo kiểu nội công ngoại quốc,
gồm các nhà: tiền đường (5 gian), thiêu hương (2 gian), tam bảo (3 gian) ở phía trước,
dãy hành lang, nhà Tổ ở phía sau. Các toà được làm theo kiểu cột trụ, quá giang gối
đầu vào cột xây, kèo suốt. Mái chùa được lập ngói mũi, đầu đao cong. Bờ nóc tiền
đường đắp lưỡng long chầu nguyệt. Chùa thờ Phật theo phái Đại thừa.
Trước cửa chùa có cây thiên tuế là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chuyện với cán bộ
và chiến sĩ Đại đoàn quân tiên phong trước khi về tiếp quản thủ đô Hà Nội. Trước sân
chùa có 2 tháp sư hình trụ 4 tầng. Trên nóc đắp hình hoa sen. Lòng tháp xây rỗng, cửa
vòm nhỏ. Trong tháp có bát nhang và tấm bia đá khắc tên các vị hoà thượng đã tu
hành và viên tịch tại chùa.
ĐỀN TRUNG
(Hùng Vương Tổ miếu)
Tương truyền là nơi các Vua Hùng cùng các Lạc hầu, Lạc tướng du ngoạn ngắm cảnh
thiên nhiên và họp bàn việc nước. Nơi đây vua Hùng thứ 6 đã nhường ngôi cho
Lang Liêu – người con hiếu thảo vì đã có công làm ra bánh chưng, bánh dày.
Đền được xây theo kiểu hình chữ nhất, có 3 gian quay về hướng nam, dài 7,2m, rộng
3,7m. Mái hiên cao 1,8m, không có cột kèo, cầu quá giang gối vào tường, bít đốc
tường hậu, phía trước mở 3 cửa.
Đền Thượng
(Kính thiên lĩnh điện)
Đền Thượng được đặt trên đỉnh núi Hùng. Tương truyền rằng thời Hùng Vương, Vua
Hùng thường lên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh để tiến hành nghi lễ tín ngưỡng của cư dân nông
nghiệp thờ trời đất, thờ thần lúa, cầu mong mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt,
nhân khang vật thịnh.
Tục truyền đây còn là nơi vua Hùng thứ 6 lập đàn cầu trời ban cho người tài ra giúp
nước đánh giặc Ân. Sau khi Thánh Gióng đánh tan giặc và bay về trời, vua Hùng cho
lập đền thờ vọng trên đỉnh núi, về sau, nhân dân đặt thêm bài vị vua Hùng vào thờ
cúng.
Trong Đền Thượng có bức đại tự đề “Nam Việt triệu tổ” (Tổ khai sáng
nước Việt Nam). Đền được làm kiểu chữ Vương, kiến trúc đơn giản, kèo
cầu, không có chạm trổ, được xây dựng qua bốn cấp khác nhau gồm:
nhà chuông trống (cấp I), đại bái (cấp II), tiền tế (cấp III) và hậu cung
Bên phía tay trái Đền có một cột đá thề, tương
truyền do Thục Phán dựng lên khi được Vua
Hùng thứ 18 truyền ngôi để thề nguyện bảo vệ
non sông đất nước mà Hùng Vương trao lại và
đời đời hương khói trông nom miếu vũ họ
Vương. Cột đá cao 1,3m, rộng 0,3m, hình vuông.
Đến năm 1968, Ty Văn hoá Vĩnh Phú tôn tạo lên
bệ như hiện nay.
3.Ngoài ra còn có các di
tích
Đền Tổ Mẫu Âu Cơ
Được bắt đầu xây dựng vào năm 2001 và
khánh thành tháng 12/2004. Đền được
xây dựng trên núi ốc Sơn (núi Vặn) theo
kiến trúc truyền thống với cột, xà, hoành,
dui bằng gỗ lim, mái được lợp bằng ngói
mũi hài, tường bằng gạch bát. Đền chính
có diện tích 137m2, làm theo kiểu chữ
Đinh. Bên cạnh đền chính có nhà Tả vũ,
nhà Hữu vũ, nhà Bia, Trụ biểu, Tứ trụ, cổng
Tam quan, nhà tiếp khách và hoa viên.
Trong đền có tượng thờ Mẹ Âu Cơ và hai Lạc hầu, Lạc
tướng. Đường đi lên đền được xây bằng 553 bậc đá Hải
Lăng Vua
Tương truyền là mộ
của Vua Hùng thứ 6. Lăng mộ nằm
Hùng
ở phía đông Đền Thượng, có vị trí đầu đội sơn, chân
đạp thủy, mặt quay theo hướng Đông Nam.Xưa là mộ
đất, thời Tự Đức năm thứ 27 (1870) cho xây mộ dựng
lăng.Thời Khải Định tháng 7 (1922) trùng tu lại. Lăng
hình vuông, cột liền tường, có đao cong 8 góc, tạo
thành 2 tầng mái. Tầng dưới 4 góc đắp 4 con rồng tư
thế bò, tầng trên đắp rồng uốn ngược, đỉnh lăng đắp
hình “quả ngọc” theo tích “cửu long tranh châu”. Mái
đắpngói ống, cổ diêm, 3 phía đều đắp mặt hổ phù. Ba
mặt Tây, Đông, Nam đều có cửa vòm, 2 bên cửa đều
đắp kỳ lân, xung quanh có tường bao quanh, trang trí
hoa, chất liệu bằng đá.
Trong lăng có mộ Vua Hùng. Mộ xây hình hộp chữnhật dài 1,3m, rộng 1,8m, cao 1,0m.
Mộ có mái mui luyện. Phía trong lăng có bia đá ghi: Biểu chính (lăng chính). Phía trên
ba mặt lăng đều có đề: Hùng Vương lăng (Lăng Hùng Vương).
Bảo tàng Vua Hùng
Bảo tàng Hùng Vương được khởi công xây dựng vào
năm 1996 và được khánh thành đúng ngày khai hội
Đền Hùng năm Quý Mùi (2003) do Tổng Bí thư Đỗ
Mười cắt băng khánh thành. Với gần 700 hiện vật
gốc trên tổng số hơn 4.000 hiện vật có trong Bảo
tàng, 162 bức ảnh, 4 bức tranh gốm, 5 bức tranh
sơn mài, 9 bức gò đồng, 5 hộp hình, một nhóm
tượng lớn và nhiều hiện vật khác được trưng bày đã
khắc hoạ chủ đề tổng quát: “Các Vua Hùng dựng
nước Văn Lang trên mảnh đất Phong Châu lịch sử”.
ĐỀN
HÙNG
I.Lịch sử
hình thành
Ꞝ Đền được xây dựng vào thế kỷ XVIII, theo
hướng Đông Nam, kiến trúc kiểu chữ công, gồm
nhà tiền bái (3 gian), hậu cung (3 gian), 1 chuôi
vồ và 2 nhà oản (4 gian), có phương đình nối
tiền bái với hậu cung. Cổng Đền Giếng được xây
vào thế kỷ XVIII, kiểu dáng gần giống cổng chính
nhưng nhỏ và thấp hơn.
Là nơi vua Hùng chọn để đóng đô.
II.Đặc
điểm
1.Vị tri
-Nằm trên núi Nghĩa Lĩnh, giữa đất
Phong Châu, ngày nay là xã Hy
Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú
Thọ.
Các
di
tích
chính
2.
.
Đền
Giếng
Đền
hạ
Đền
trung
Đền
thượn
g
01
02
03
04
Điểm bắt đầu của Khu di tích là Đại Môn, xây năm 1917 theo kiểu vòm
uốn.
Giữa cột trụ và cổng đắp
nổi phù điêu hai võ sỹ, một
người cầm giáo, một người
cầm rìu chiến, mặc áo giáp,
ngực trang trí hổ phù. Giữa
tầng một có đề bức đại tự:
“Cao sơn cảnh hành” (lên
núi cao nhìn xa rộng). Còn
có người dịch là “Cao sơn
cảnh hạnh” (Đức lớn như
núi cao). Mặt sau cổng đắp
hai con hổ là hiện thân vật
canh giữ thần.
ĐỀN
GIẾNG
Trước đây,giếng Ngọc chỉ là một vũng nước rất trong xanh
được nhiều người yêu thích. Vua cùng các đại thần thường
tới núi Nghĩa Lĩnh làm lễ tế trời tế đất còn các công chúa của
vua thì đi dạo ngắm cảnh thiên nhiên.
Khi tới với Giếng Ngọc này, 2 công chúa Ngọc Hoa và Tiên
Dung lấy làm thích thú bởi nước của giếng trong vắt. Họ cùng
ngắm dung nhan của mình trong giếng nước, rồi lấy nước trong
giếng uống khen ngọt, mát lành. Từ đó về sau, nơi đây trở
thành điểm đến để hai cô công chúa soi mặt, thưởng ngoạn
phong cảnh thiên nhiên.
Đền được xây dựng vào thế kỷ XVIII, theo hướng Đông Nam,
kiến trúc kiểu chữ công, gồm nhà tiền bái (3 gian), hậu cung (3
gian), 1 chuôi vồ và 2 nhà oản (4 gian), có phương đình nối tiền
bái với hậu cung.
Đền Giếng là nơi có thắng cảnh vô cùng đẹp, phía trước có hồ
sen, một bên là giếng Ngọc. Đến với Đền Giếng, du khách nên
múc nước ở giếng lên mời uống, để mang về hoặc cũng có thể
để rửa mặt. Nước trong giếng được đánh giá vô cùng mát lạnh,
ngọt ngào và thích thú. Chính việc uống nước ở Giếng Ngọc
này, du khách sẽ bớt được nhiều bệnh tật, giữ bỏ được nhiều
phiền muộn. Soi mặt xuống giếng, ngắm nhìn quang cảnh xung
quanh, nhìn thấy cổng đền cổ kính, tìm chỗ nghỉ mát rợp bóng
cây giúp cho tâm hồn con người trở nên thanh tịnh hơn bao giờ
hết.
ĐỀN HẠ
Tương truyền là nơi Âu Cơ sinh bọc trăm trứng,nở thành một trăm người
con.
Đền Hạ được xây dựng lại trên nền đất cũ vào thế kỷ XVII - XVIII. Kiến trúc kiểu chữ
“nhị” gồm hai toà tiền bái và hậu cung, mỗi toà ba gian, cách nhau 1,5m. Kiến trúc đơn
sơ kèo cầu suốt, bẩy gối vào đầu kèo làm cho mái sau dài hơn mái trước. Đốc xây liền
tường với đốc Hậu cung, hai bên đắp phù điêu, một bên voi, một bên ngựa. Bờ nóc
phẳng, không trang trí mỹ thuật. Mái lợp ngói mũi, địa phương gọi là ngói mũi lợn.
Ngay chân Đền Hạ là Nhà bia với kiến trúc hình lục giác, có 6 mái. Trên đỉnh có đắp hình
nậm rượu, 6 mái được lợp bằng gạch bìa bên trong, bên ngoài láng xi măng, có 6 cột
bằng gạch xây tròn, dưới chân có lan can. Trong nhà bia trước đây đặt tấm bia ghi lại
việc tu sửa đường lên núi Hùng, hiện nay đặt bia đá, nội dung ghi lời dặn của Chủ tịch
Hồ Chí Minh khi Người về thăm Đền Hùng ngày 19/9/1945:
“Các Vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”
Chùa Thiên Quang(Thiên quang thiền tự), được xây theo kiểu nội công ngoại quốc,
gồm các nhà: tiền đường (5 gian), thiêu hương (2 gian), tam bảo (3 gian) ở phía trước,
dãy hành lang, nhà Tổ ở phía sau. Các toà được làm theo kiểu cột trụ, quá giang gối
đầu vào cột xây, kèo suốt. Mái chùa được lập ngói mũi, đầu đao cong. Bờ nóc tiền
đường đắp lưỡng long chầu nguyệt. Chùa thờ Phật theo phái Đại thừa.
Trước cửa chùa có cây thiên tuế là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chuyện với cán bộ
và chiến sĩ Đại đoàn quân tiên phong trước khi về tiếp quản thủ đô Hà Nội. Trước sân
chùa có 2 tháp sư hình trụ 4 tầng. Trên nóc đắp hình hoa sen. Lòng tháp xây rỗng, cửa
vòm nhỏ. Trong tháp có bát nhang và tấm bia đá khắc tên các vị hoà thượng đã tu
hành và viên tịch tại chùa.
ĐỀN TRUNG
(Hùng Vương Tổ miếu)
Tương truyền là nơi các Vua Hùng cùng các Lạc hầu, Lạc tướng du ngoạn ngắm cảnh
thiên nhiên và họp bàn việc nước. Nơi đây vua Hùng thứ 6 đã nhường ngôi cho
Lang Liêu – người con hiếu thảo vì đã có công làm ra bánh chưng, bánh dày.
Đền được xây theo kiểu hình chữ nhất, có 3 gian quay về hướng nam, dài 7,2m, rộng
3,7m. Mái hiên cao 1,8m, không có cột kèo, cầu quá giang gối vào tường, bít đốc
tường hậu, phía trước mở 3 cửa.
Đền Thượng
(Kính thiên lĩnh điện)
Đền Thượng được đặt trên đỉnh núi Hùng. Tương truyền rằng thời Hùng Vương, Vua
Hùng thường lên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh để tiến hành nghi lễ tín ngưỡng của cư dân nông
nghiệp thờ trời đất, thờ thần lúa, cầu mong mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt,
nhân khang vật thịnh.
Tục truyền đây còn là nơi vua Hùng thứ 6 lập đàn cầu trời ban cho người tài ra giúp
nước đánh giặc Ân. Sau khi Thánh Gióng đánh tan giặc và bay về trời, vua Hùng cho
lập đền thờ vọng trên đỉnh núi, về sau, nhân dân đặt thêm bài vị vua Hùng vào thờ
cúng.
Trong Đền Thượng có bức đại tự đề “Nam Việt triệu tổ” (Tổ khai sáng
nước Việt Nam). Đền được làm kiểu chữ Vương, kiến trúc đơn giản, kèo
cầu, không có chạm trổ, được xây dựng qua bốn cấp khác nhau gồm:
nhà chuông trống (cấp I), đại bái (cấp II), tiền tế (cấp III) và hậu cung
Bên phía tay trái Đền có một cột đá thề, tương
truyền do Thục Phán dựng lên khi được Vua
Hùng thứ 18 truyền ngôi để thề nguyện bảo vệ
non sông đất nước mà Hùng Vương trao lại và
đời đời hương khói trông nom miếu vũ họ
Vương. Cột đá cao 1,3m, rộng 0,3m, hình vuông.
Đến năm 1968, Ty Văn hoá Vĩnh Phú tôn tạo lên
bệ như hiện nay.
3.Ngoài ra còn có các di
tích
Đền Tổ Mẫu Âu Cơ
Được bắt đầu xây dựng vào năm 2001 và
khánh thành tháng 12/2004. Đền được
xây dựng trên núi ốc Sơn (núi Vặn) theo
kiến trúc truyền thống với cột, xà, hoành,
dui bằng gỗ lim, mái được lợp bằng ngói
mũi hài, tường bằng gạch bát. Đền chính
có diện tích 137m2, làm theo kiểu chữ
Đinh. Bên cạnh đền chính có nhà Tả vũ,
nhà Hữu vũ, nhà Bia, Trụ biểu, Tứ trụ, cổng
Tam quan, nhà tiếp khách và hoa viên.
Trong đền có tượng thờ Mẹ Âu Cơ và hai Lạc hầu, Lạc
tướng. Đường đi lên đền được xây bằng 553 bậc đá Hải
Lăng Vua
Tương truyền là mộ
của Vua Hùng thứ 6. Lăng mộ nằm
Hùng
ở phía đông Đền Thượng, có vị trí đầu đội sơn, chân
đạp thủy, mặt quay theo hướng Đông Nam.Xưa là mộ
đất, thời Tự Đức năm thứ 27 (1870) cho xây mộ dựng
lăng.Thời Khải Định tháng 7 (1922) trùng tu lại. Lăng
hình vuông, cột liền tường, có đao cong 8 góc, tạo
thành 2 tầng mái. Tầng dưới 4 góc đắp 4 con rồng tư
thế bò, tầng trên đắp rồng uốn ngược, đỉnh lăng đắp
hình “quả ngọc” theo tích “cửu long tranh châu”. Mái
đắpngói ống, cổ diêm, 3 phía đều đắp mặt hổ phù. Ba
mặt Tây, Đông, Nam đều có cửa vòm, 2 bên cửa đều
đắp kỳ lân, xung quanh có tường bao quanh, trang trí
hoa, chất liệu bằng đá.
Trong lăng có mộ Vua Hùng. Mộ xây hình hộp chữnhật dài 1,3m, rộng 1,8m, cao 1,0m.
Mộ có mái mui luyện. Phía trong lăng có bia đá ghi: Biểu chính (lăng chính). Phía trên
ba mặt lăng đều có đề: Hùng Vương lăng (Lăng Hùng Vương).
Bảo tàng Vua Hùng
Bảo tàng Hùng Vương được khởi công xây dựng vào
năm 1996 và được khánh thành đúng ngày khai hội
Đền Hùng năm Quý Mùi (2003) do Tổng Bí thư Đỗ
Mười cắt băng khánh thành. Với gần 700 hiện vật
gốc trên tổng số hơn 4.000 hiện vật có trong Bảo
tàng, 162 bức ảnh, 4 bức tranh gốm, 5 bức tranh
sơn mài, 9 bức gò đồng, 5 hộp hình, một nhóm
tượng lớn và nhiều hiện vật khác được trưng bày đã
khắc hoạ chủ đề tổng quát: “Các Vua Hùng dựng
nước Văn Lang trên mảnh đất Phong Châu lịch sử”.
 








Các ý kiến mới nhất