Bài 1. Sơ lược về môn Lịch sử

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lưu Văn Hiệp
Ngày gửi: 21h:37' 02-09-2023
Dung lượng: 961.5 KB
Số lượt tải: 47
Nguồn:
Người gửi: Lưu Văn Hiệp
Ngày gửi: 21h:37' 02-09-2023
Dung lượng: 961.5 KB
Số lượt tải: 47
Số lượt thích:
0 người
Quá trình tiến hóa của loài
người
• Quá trình tiến hóa của loài người trải qua 04 giai đoạn chính:
vượn người hóa thạch,
người vượn hóa thạch (người tối cổ),
người cổ
người hiện đại.
• Quá trình tiến hóa của loài người cho ta biết quá trình tiến hóa, lịch
sử phát triển hình thái của chi Người (Homo). Con người đã thông
qua sự liên kết đa ngành như nhân sinh học, linh trưởng học, khảo
cổ học, ngôn ngữ học và di truyền học để nghiên cứu về sự tiến hóa
của con người.
Quá trình tiến hóa của loài người
• Quá trình tiến hoá từ vượn thành người trải qua các giai đoạn như sau:
- Ở chặng đầu, khoảng 5-6 triệu năm, đã có một loại vượn người sinh
sống.
- Loài vượn người đến khoảng 4 triệu năm đã phát triển lên thành Người
tối cổ.
- Đến khoảng 15 vạn năm thì Người tối cổ biến thành Người tinh khôn.
• Người tối cổ khác người vượn cổ ở những đặc điểm như
sau:
+ Đã thoát li khỏi leo trèo, có khả năng đứng thẳng trên mặt
đất.
+ Đi bằng hai chân, thể tích não lớn hơn, biết ghè đẽo đá làm
công cụ lao đông.
Người tối cổ
tinh khôn
• Điểm khác
nhau giữa người tối cổ vàNgười
người
tinh khôn:
Hầu như có thể đi, đứng bằng hai chân
Dáng đứng thẳng như người ngày nay
Đầu nhỏ, trán thấp và bợt ra sau, hàm nhô
về trước
Thể tích hộp sọ lớn hơn trán cao, hàm không
nhô về phía trước như Người tối cổ
Trên cơ thể bao phủ một lớp lông mỏng
Lông tiêu giảm, còn ít
Sử dụng hòn đá, ghè đẽo thô sơ
Đã biết chế tạo công cụ sắc bén hơn, có cán
Sống theo bầy đàn
Sống theo thị tộc, thành từng nhóm nhỏ, gồm
vài chục gia đình, có quan hệ gần gũi với nhau
Săn bắt, hái lượm
Đã biết trồng trọt, chăn nuôi
Vượn người hóa thạch - Australopithecus
Vượn người Phương Nam là dạng vượn người đầu tiên, sống cách nay ít
nhất 3 – 4 triệu năm. Đại diện là hóa thạch của Lucy, phát hiện năm 1974,
niên đại khoảng 3,85 – 2,95 triệu năm. Họ giống khỉ hơn giống chúng ta.
Vượn người hóa thạch cổ có liên quan đến nguồn gốc loài người là
Dryopithecus africanus (còn có tên gọi là Proconsul). Loài này sống cách đây
khoảng 18 triệu năm.
Đặc điểm của người vượn là đi bằng hai chân nhưng còn khom, có thể tích
não khoảng 450-750cm3.
Sống trên cạn cùng với tư thế thẳng đứng và đi bằng 2 chân cũng như
những thay đổi do lối sống trên cây đã dẫn đến sự thay đổi vượt bậc trong
tiến hóa. Việc di chuyển bằng 2 chân, giúp giải phóng 2 chi trước khỏi chức
năng di chuyển và dùng chúng vào việc khác. Bằng hình thức hái lượm,
người vượn sử dụng thực vật làm nguồn thức ăn chủ yếu, tác động rất ít vào
môi trường.
Người tối cổ:
(Homo habilis)
•Là dạng người vượn sống cách đây 3,0 đến 1,5 triệu năm, khi vượn người biết chế tạo công cụ
được gọi là con người. Nhóm con người đầu tiên được đặt tên Người Khéo léo, không phải vì họ
thực sự khéo léo mà do biết chế tạo công cụ hơn dạng vượn người mà thôi. Người Khéo léo biết
chế tạo công cụ dùng để đập hạt, cắt thịt,…
•Chúng đã chuyển từ lối sống trên cây xuống sống ở mặt đất, đi lại bằng 2 chân, thân hơi khom
về phía trước. Sống thành đàn, khoảng vài chục cá thể hay nhiều hơn, nhưng chưa phải là đời
sống xã hội
•Loài vượn này có chiều cao 120 – 140 cm, nặng 20 – 40 kg, có hộp sọ 450 – 750 cm3. Chúng đã
biết sử dụng cành cây, hòn đá, mảnh xương thú để tự vệ và tấn công.
•Trong cuộc sống dần dần xuất hiện sự phân công lao động sơ khai như cá thể nam đi xa săn
bắt, cá thể nữ ở nhà sinh và nuôi con. Mối quan hệ phức tạp dần dần đòi hỏi sự phát triển ngôn
ngữ giao tiếp. Bắt đầu thích nghi với sự trồng trọt. Gia tăng khả năng tác động vào môi trường.
• Người cổ Homo erectus:
Đã biến mất cách đây khoảng
200.000 – 35.000 năm. Người cổ
Homo erectus đã nhường chỗ cho người Neanderthal (Homo
neanderthalensis). Tuy nhiên, người Neanderthal không phải là tổ
tiên trực tiếp của người hiện đại mà là 1 nhánh phát triển trong chi
Homo cùng tồn tại trong 1 thời gian dài, sau đó biến mất nhường chỗ
cho người hiện đại.
Người Neanderthal có tầm thước trung bình khoảng 1.55 – 1.66m,
hộp sọ 1400 cm3, xương hàm gần giống với người, có lồi cằm (có thể
đã có tiếng nói). Người Neanderthal chủ yếu sống thành đàn khoảng
50 -100 người và sống trong các hang. Điều này dẫn đến nguồn gen
và hệ sinh thái phong phú. Dân số quy mô nhỏ nên các bệnh truyền
nhiễm dễ lan truyền sang những cá thể còn lại.
Họ đã biết dùng lửa thông thạo, sống săn bắn và hái lượm. Công cụ
của họ khá phong phú, chủ yếu được chế tác từ đá silic thành dao
sắc, rìu mũi nhọn.
Ở giai đoạn này, con người sử dụng công cụ ngày càng phức tạp hơn
và biết sử dụng lửa. Bắt đầu sử dụng động vật làm thức ăn và vì vậy
tăng khả năng tác động vào môi trường.
Người hiện đại (Homo sapiens):
•Người Cromanhon sống cách đây 35.000 – 50.000 năm, cao 1,8m, nặng
70kg, hộp sọ 1700 cm3. Hàm dưới rất đặc biệt, có lồi cằm chứng tỏ tiếng nói
đã phát triển. Họ giống hệt người hiện đại ngày nay, chỉ khác là răng to
khỏe.
•Tiếp theo là sự tăng dân số ở thời kỳ đồ đá mới và sự di dân. Chăn nuôi phát
triển với lừa, ngựa, những đàn gia súc đông đến vạn con trên những thảo
nguyên, hình thành lối sống du mục của các bộ lạc chăn nuôi.
•Người Cromanhon đã biết chế tạo và sử dụng nhiều công cụ tinh xảo bằng
đá, xương, sừng như rìu có lỗ để tra cán, lao nhọn có ngạnh, kim khâu và
móc câu bằng xương. Họ sống thành bộ lạc, đã có nền văn hóa phức tạp, có
mầm mống mĩ thuật và tôn giáo.
•Loài người duy nhất hiện nay còn trên toàn cõi địa cầu là Homo sapiens
sapiens -loài người khôn ngoan. Tuy màu da, nét mặt và hình dạng có khác
nhau nhưng tất cả đều chung một loài. Con người trước hết là một sinh vật
và sống là phương thức tồn tại với những thuộc tính đặc biệt của vật chất
trong những điều kiện nhất định của sinh quyển.
•khi nền văn minh hình thành, con người có khả năng điều khiển môi trường,
khả năng sử dụng các nguồn tài nguyên để sản xuất các tài nguyên khác
(bắt đầu cách đây 10.000 năm), bắt đầu tác động vào môi trường. Tiếp theo
là sự văn minh và đô thị hóa (cách đây 6.000 năm), con người bắt đầu làm
thoái hóa môi trường
- Qua quá trình phát triển lâu dài, loài người đã phân hóa thành 1 số
chủng tộc, phân bố khắp các châu lục. Nhưng chúng đều có chung
nguồn gốc và thuộc 1 loài là loài người (Homo sapiens).
+ Chủng tộc da vàng (chủ yếu sống ở châu Á – Việt Nam)
+ Chủng tộc da trắng (chủ yếu sống ở châu Âu)
+ Chủng tộc da đen (chủ yếu sống ở châu Phi)
- Hóa thạch người đầu tiên được tìm thấy ở làm Cromanhon (Pháp)
năm 1868, về sau còn được tìm thấy ở nhiều nơi thuộc châu Âu và châu
Á.
• Dấu tích của Người tối cổ ở Đông Nam Á:
- Người tối cổ xuất hiện khá sớm ở khu vực Đông Nam Á. Hóa thạch
đầu tiên được tìm trên đảo Gia-va.
- Nhiều công cụ bằng đá ghè đẽo thô sơ dùng để đập, chặt của Người
tối cổ cũng được tìm thấy ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam như
Núi Đọ, Quan Yên (Thanh Hóa), Xuân Lộc (Đồng Nai), An Khê (Gia Lai),
…
- Đặc biệt các hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Lạng Sơn), các nhà khoa
học còn phát hiện được những chiếc răng Người tối cổ cách ngày nay
khoảng 400 000 năm.
• Nguyên nhân quyết định đến quá trình tiến hóa của loài
người gồm nhân tố sinh học và nhân tố xã hội:
Các nhân tố sinh học tác động đến quá trình tiến hóa của loài
người gồm biến dị di truyền, chọn lọc tự nhiên. Những biến đổi này
là kết quả của sự tích lũy các đột biến và biến dị tổ hợp dưới tác
dụng của chọn lọc tự nhiên (những thay đổi trên vỏ Trái Đất, hoạt
động của núi lửa, động đất, gia tăng nền phóng xạ, thay đổi lục địa,
…).
Xã hội ngày một phát triển, những sản phẩm có sẵn trong tự nhiên
thì có hạn mà con người ngày một sinh sôi nảy nở. Vì vậy, để có thể
thích nghi với môi trường con người phải lao động sản xuất, cải tạo
hoàn cảnh, cải tiến công cụ lao động, phát triển lực lượng sản xuất.
Hơn nữa, loài người có khả năng thích nghi với mọi điều kiện sinh
thái đa dạng, không phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và cách li địa
lí. Do đó, về mặt sinh học loài người sẽ không biến đổi thành một
loài nào khác nhưng xã hội loài người vẫn không ngừng phát triển
và tiến hóa.
Tóm lại:
Khi nền văn minh hình thành, con người có khả năng điều khiển môi trường, khả
năng sử dụng các nguồn tài nguyên để sản xuất các tài nguyên khác (bắt đầu
cách đây 10.000 năm), bắt đầu tác động vào môi trường. Tiếp theo là sự văn minh
và đô thị hóa (cách đây 6.000 năm), con người bắt đầu làm thoái hóa môi trường.
Quá trình tiến hóa của sinh vật dẫn đến loài sinh vật biết đi thẳng (với những
cấu trúc tương ứng từ yêu cầu này) có não bộ phát triển và hoạt động tư duy. Trải
qua giai đoạn tiến hóa khác nhau mà lịch sử loài người vẫn còn được tranh cãi về
những nấc phát triển tiến hóa của loài người. Loài người duy nhất hiện nay còn
trên toàn cõi địa cầu là Homo sapiens sapiens-loài người khôn ngoan. Tuy màu da,
nét mặt và hình dạng có khác nhau nhưng tất cả đều chung một loài. Con người
trước hết là một sinh vật và sống là phương thức tồn tại với những thuộc tính đặc
biệt của vật chất trong những điều kiện nhất định của sinh quyển.
Trong quá trình xuất hiện, phát triển, tiến hóa sự sống luôn gắn chặt với môi
trường mà nó tồn tại. Không hề có sự sống ngoài môi trường và cũng không hề có
sự sống trong môi trường mà nó không thích hợp, thích ứng được.
Con người có những đặc thù về cấu tạo, chức năng và quan hệ đặc biệt với môi
trường và môi trường sống của con người cũng chứa đựng nhiều đặc thù, khác với
bất kỳ sinh vật nào khác.
LỚP 6G - NHÓM 06
Cám ơn Thầy và các bạn đã lắng
nghe.
người
• Quá trình tiến hóa của loài người trải qua 04 giai đoạn chính:
vượn người hóa thạch,
người vượn hóa thạch (người tối cổ),
người cổ
người hiện đại.
• Quá trình tiến hóa của loài người cho ta biết quá trình tiến hóa, lịch
sử phát triển hình thái của chi Người (Homo). Con người đã thông
qua sự liên kết đa ngành như nhân sinh học, linh trưởng học, khảo
cổ học, ngôn ngữ học và di truyền học để nghiên cứu về sự tiến hóa
của con người.
Quá trình tiến hóa của loài người
• Quá trình tiến hoá từ vượn thành người trải qua các giai đoạn như sau:
- Ở chặng đầu, khoảng 5-6 triệu năm, đã có một loại vượn người sinh
sống.
- Loài vượn người đến khoảng 4 triệu năm đã phát triển lên thành Người
tối cổ.
- Đến khoảng 15 vạn năm thì Người tối cổ biến thành Người tinh khôn.
• Người tối cổ khác người vượn cổ ở những đặc điểm như
sau:
+ Đã thoát li khỏi leo trèo, có khả năng đứng thẳng trên mặt
đất.
+ Đi bằng hai chân, thể tích não lớn hơn, biết ghè đẽo đá làm
công cụ lao đông.
Người tối cổ
tinh khôn
• Điểm khác
nhau giữa người tối cổ vàNgười
người
tinh khôn:
Hầu như có thể đi, đứng bằng hai chân
Dáng đứng thẳng như người ngày nay
Đầu nhỏ, trán thấp và bợt ra sau, hàm nhô
về trước
Thể tích hộp sọ lớn hơn trán cao, hàm không
nhô về phía trước như Người tối cổ
Trên cơ thể bao phủ một lớp lông mỏng
Lông tiêu giảm, còn ít
Sử dụng hòn đá, ghè đẽo thô sơ
Đã biết chế tạo công cụ sắc bén hơn, có cán
Sống theo bầy đàn
Sống theo thị tộc, thành từng nhóm nhỏ, gồm
vài chục gia đình, có quan hệ gần gũi với nhau
Săn bắt, hái lượm
Đã biết trồng trọt, chăn nuôi
Vượn người hóa thạch - Australopithecus
Vượn người Phương Nam là dạng vượn người đầu tiên, sống cách nay ít
nhất 3 – 4 triệu năm. Đại diện là hóa thạch của Lucy, phát hiện năm 1974,
niên đại khoảng 3,85 – 2,95 triệu năm. Họ giống khỉ hơn giống chúng ta.
Vượn người hóa thạch cổ có liên quan đến nguồn gốc loài người là
Dryopithecus africanus (còn có tên gọi là Proconsul). Loài này sống cách đây
khoảng 18 triệu năm.
Đặc điểm của người vượn là đi bằng hai chân nhưng còn khom, có thể tích
não khoảng 450-750cm3.
Sống trên cạn cùng với tư thế thẳng đứng và đi bằng 2 chân cũng như
những thay đổi do lối sống trên cây đã dẫn đến sự thay đổi vượt bậc trong
tiến hóa. Việc di chuyển bằng 2 chân, giúp giải phóng 2 chi trước khỏi chức
năng di chuyển và dùng chúng vào việc khác. Bằng hình thức hái lượm,
người vượn sử dụng thực vật làm nguồn thức ăn chủ yếu, tác động rất ít vào
môi trường.
Người tối cổ:
(Homo habilis)
•Là dạng người vượn sống cách đây 3,0 đến 1,5 triệu năm, khi vượn người biết chế tạo công cụ
được gọi là con người. Nhóm con người đầu tiên được đặt tên Người Khéo léo, không phải vì họ
thực sự khéo léo mà do biết chế tạo công cụ hơn dạng vượn người mà thôi. Người Khéo léo biết
chế tạo công cụ dùng để đập hạt, cắt thịt,…
•Chúng đã chuyển từ lối sống trên cây xuống sống ở mặt đất, đi lại bằng 2 chân, thân hơi khom
về phía trước. Sống thành đàn, khoảng vài chục cá thể hay nhiều hơn, nhưng chưa phải là đời
sống xã hội
•Loài vượn này có chiều cao 120 – 140 cm, nặng 20 – 40 kg, có hộp sọ 450 – 750 cm3. Chúng đã
biết sử dụng cành cây, hòn đá, mảnh xương thú để tự vệ và tấn công.
•Trong cuộc sống dần dần xuất hiện sự phân công lao động sơ khai như cá thể nam đi xa săn
bắt, cá thể nữ ở nhà sinh và nuôi con. Mối quan hệ phức tạp dần dần đòi hỏi sự phát triển ngôn
ngữ giao tiếp. Bắt đầu thích nghi với sự trồng trọt. Gia tăng khả năng tác động vào môi trường.
• Người cổ Homo erectus:
Đã biến mất cách đây khoảng
200.000 – 35.000 năm. Người cổ
Homo erectus đã nhường chỗ cho người Neanderthal (Homo
neanderthalensis). Tuy nhiên, người Neanderthal không phải là tổ
tiên trực tiếp của người hiện đại mà là 1 nhánh phát triển trong chi
Homo cùng tồn tại trong 1 thời gian dài, sau đó biến mất nhường chỗ
cho người hiện đại.
Người Neanderthal có tầm thước trung bình khoảng 1.55 – 1.66m,
hộp sọ 1400 cm3, xương hàm gần giống với người, có lồi cằm (có thể
đã có tiếng nói). Người Neanderthal chủ yếu sống thành đàn khoảng
50 -100 người và sống trong các hang. Điều này dẫn đến nguồn gen
và hệ sinh thái phong phú. Dân số quy mô nhỏ nên các bệnh truyền
nhiễm dễ lan truyền sang những cá thể còn lại.
Họ đã biết dùng lửa thông thạo, sống săn bắn và hái lượm. Công cụ
của họ khá phong phú, chủ yếu được chế tác từ đá silic thành dao
sắc, rìu mũi nhọn.
Ở giai đoạn này, con người sử dụng công cụ ngày càng phức tạp hơn
và biết sử dụng lửa. Bắt đầu sử dụng động vật làm thức ăn và vì vậy
tăng khả năng tác động vào môi trường.
Người hiện đại (Homo sapiens):
•Người Cromanhon sống cách đây 35.000 – 50.000 năm, cao 1,8m, nặng
70kg, hộp sọ 1700 cm3. Hàm dưới rất đặc biệt, có lồi cằm chứng tỏ tiếng nói
đã phát triển. Họ giống hệt người hiện đại ngày nay, chỉ khác là răng to
khỏe.
•Tiếp theo là sự tăng dân số ở thời kỳ đồ đá mới và sự di dân. Chăn nuôi phát
triển với lừa, ngựa, những đàn gia súc đông đến vạn con trên những thảo
nguyên, hình thành lối sống du mục của các bộ lạc chăn nuôi.
•Người Cromanhon đã biết chế tạo và sử dụng nhiều công cụ tinh xảo bằng
đá, xương, sừng như rìu có lỗ để tra cán, lao nhọn có ngạnh, kim khâu và
móc câu bằng xương. Họ sống thành bộ lạc, đã có nền văn hóa phức tạp, có
mầm mống mĩ thuật và tôn giáo.
•Loài người duy nhất hiện nay còn trên toàn cõi địa cầu là Homo sapiens
sapiens -loài người khôn ngoan. Tuy màu da, nét mặt và hình dạng có khác
nhau nhưng tất cả đều chung một loài. Con người trước hết là một sinh vật
và sống là phương thức tồn tại với những thuộc tính đặc biệt của vật chất
trong những điều kiện nhất định của sinh quyển.
•khi nền văn minh hình thành, con người có khả năng điều khiển môi trường,
khả năng sử dụng các nguồn tài nguyên để sản xuất các tài nguyên khác
(bắt đầu cách đây 10.000 năm), bắt đầu tác động vào môi trường. Tiếp theo
là sự văn minh và đô thị hóa (cách đây 6.000 năm), con người bắt đầu làm
thoái hóa môi trường
- Qua quá trình phát triển lâu dài, loài người đã phân hóa thành 1 số
chủng tộc, phân bố khắp các châu lục. Nhưng chúng đều có chung
nguồn gốc và thuộc 1 loài là loài người (Homo sapiens).
+ Chủng tộc da vàng (chủ yếu sống ở châu Á – Việt Nam)
+ Chủng tộc da trắng (chủ yếu sống ở châu Âu)
+ Chủng tộc da đen (chủ yếu sống ở châu Phi)
- Hóa thạch người đầu tiên được tìm thấy ở làm Cromanhon (Pháp)
năm 1868, về sau còn được tìm thấy ở nhiều nơi thuộc châu Âu và châu
Á.
• Dấu tích của Người tối cổ ở Đông Nam Á:
- Người tối cổ xuất hiện khá sớm ở khu vực Đông Nam Á. Hóa thạch
đầu tiên được tìm trên đảo Gia-va.
- Nhiều công cụ bằng đá ghè đẽo thô sơ dùng để đập, chặt của Người
tối cổ cũng được tìm thấy ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam như
Núi Đọ, Quan Yên (Thanh Hóa), Xuân Lộc (Đồng Nai), An Khê (Gia Lai),
…
- Đặc biệt các hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Lạng Sơn), các nhà khoa
học còn phát hiện được những chiếc răng Người tối cổ cách ngày nay
khoảng 400 000 năm.
• Nguyên nhân quyết định đến quá trình tiến hóa của loài
người gồm nhân tố sinh học và nhân tố xã hội:
Các nhân tố sinh học tác động đến quá trình tiến hóa của loài
người gồm biến dị di truyền, chọn lọc tự nhiên. Những biến đổi này
là kết quả của sự tích lũy các đột biến và biến dị tổ hợp dưới tác
dụng của chọn lọc tự nhiên (những thay đổi trên vỏ Trái Đất, hoạt
động của núi lửa, động đất, gia tăng nền phóng xạ, thay đổi lục địa,
…).
Xã hội ngày một phát triển, những sản phẩm có sẵn trong tự nhiên
thì có hạn mà con người ngày một sinh sôi nảy nở. Vì vậy, để có thể
thích nghi với môi trường con người phải lao động sản xuất, cải tạo
hoàn cảnh, cải tiến công cụ lao động, phát triển lực lượng sản xuất.
Hơn nữa, loài người có khả năng thích nghi với mọi điều kiện sinh
thái đa dạng, không phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và cách li địa
lí. Do đó, về mặt sinh học loài người sẽ không biến đổi thành một
loài nào khác nhưng xã hội loài người vẫn không ngừng phát triển
và tiến hóa.
Tóm lại:
Khi nền văn minh hình thành, con người có khả năng điều khiển môi trường, khả
năng sử dụng các nguồn tài nguyên để sản xuất các tài nguyên khác (bắt đầu
cách đây 10.000 năm), bắt đầu tác động vào môi trường. Tiếp theo là sự văn minh
và đô thị hóa (cách đây 6.000 năm), con người bắt đầu làm thoái hóa môi trường.
Quá trình tiến hóa của sinh vật dẫn đến loài sinh vật biết đi thẳng (với những
cấu trúc tương ứng từ yêu cầu này) có não bộ phát triển và hoạt động tư duy. Trải
qua giai đoạn tiến hóa khác nhau mà lịch sử loài người vẫn còn được tranh cãi về
những nấc phát triển tiến hóa của loài người. Loài người duy nhất hiện nay còn
trên toàn cõi địa cầu là Homo sapiens sapiens-loài người khôn ngoan. Tuy màu da,
nét mặt và hình dạng có khác nhau nhưng tất cả đều chung một loài. Con người
trước hết là một sinh vật và sống là phương thức tồn tại với những thuộc tính đặc
biệt của vật chất trong những điều kiện nhất định của sinh quyển.
Trong quá trình xuất hiện, phát triển, tiến hóa sự sống luôn gắn chặt với môi
trường mà nó tồn tại. Không hề có sự sống ngoài môi trường và cũng không hề có
sự sống trong môi trường mà nó không thích hợp, thích ứng được.
Con người có những đặc thù về cấu tạo, chức năng và quan hệ đặc biệt với môi
trường và môi trường sống của con người cũng chứa đựng nhiều đặc thù, khác với
bất kỳ sinh vật nào khác.
LỚP 6G - NHÓM 06
Cám ơn Thầy và các bạn đã lắng
nghe.
 







Các ý kiến mới nhất