Bài 25. Hệ thống bôi trơn

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phan Thị Thảo Uyên
Ngày gửi: 00h:27' 19-02-2013
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 121
Nguồn:
Người gửi: Phan Thị Thảo Uyên
Ngày gửi: 00h:27' 19-02-2013
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 121
Số lượt thích:
0 người
Chào Mừng Thầy Và Các Bạn Đến Với
Bài Thuyết Trình Của Nhóm 5
BÀI 25:
HỆ THỐNG
BÔI TRƠN
I- Nhiệm vụ và phân loại
1. Nhiệm vụ.
Hệ thống bôi trơn có nhiệm vụ đưa dầu bôi trơn đến các bề mặt ma sát của các chi tiết để đảm bảo điều kiện làm việc bình thường của động cơ và tăng tuổi thọ các chi tiết
2. Phân loại.
Hệ thống phân loại theo phương pháp bôi trơn, có các loại như sau:
Bôi trơn bằng vung té.
Bôi trơn cưỡng bức.
Bôi trơn bằng pha dầu bôi trơn vào nhiên liệu.
II- Hệ thống bôi trơn cưỡng bức.
1. Cấu tạo.
Gồm các bộ phận chính:
Cacte.
Chứa dầu.
Bầu lọc dầu.
Các đường ống dẫn dầu.
Ngoài ra còn có:
Các van an toàn.
Van khống chế.
Két làm mát dầu.
Đồng hồ báo áp suất dầu,…
2. Nguyên lí làm việc
Trường hợp làm việc bình thường:
Khi động cơ làm việc, dầu bôi trơn được bơm 3 hút từ cacte 1 và được lọc sạch ở bầu lọc 5, qua van 6 tới đường dầu chính 9, theo đường 10, 11, 12 để đến bôi trơn các bề mặt ma sát của động cơ, sau đó trở về cacte.
( Bộ lọc dầu 5 la loại lọc dầu li tâm, một phần dầu trong bầu lọc được dùng để tạo momem quay cho bầu lọc, sau đó chảy về cacte.)
Các trường hợp khác
Nếu áp suất dầu trên các đường vượt quá giá trị cho phép, van 4 sẽ mở để một phần dầu chảy ngược về trước bơm.
Nếu nhiệt độ dầu cao quá giới hạn định trước, van 6 đóng lại, dầu đi qua két làm mát 7, được làm mát trước khi chảy vào đường dầu chính 9.
THÔNG TIN BỔ SUNG
1. Tác dụng dầu bôi trơn: không chỉ có tác dụng bôi trơn các bề mặt ma sát mà còn có tác dụng phụ như: làm mát, tẩy rửa, bao kín và chống rỉ.
2. Bề mặt ma sát: là bề mặt tiếp xúc giữa hai chi tiết co chuyển động tương đối nhau.
3. Phương pháp bôi trơn bằng pha dầu bôi trơn: ở động cơ 2 kì, do cacte phải dùng để nén hòa khi nên không thể chứa dầu bôi trơn. Do vậy người ta ha một lượng dầu bôi trơn vào xăng theo tỉ lệ nhất định(1/20 ÷ 1/30). Khi vào trong cacte, các hạt bôi trơn có trong hòa khí sẽ đọng bám vào bề mặt các chi tiết cần bôi trơn hoặc lỗ hứng dầu rồi chảy vào bề mặt ma sát.
4. Phương pháp bôi trơn băng vung té: Phương pháp bôi trơn vung té là lợi dụng chuyển động quay của các chi tiết như má khuỷu, đầu to thanh truyền, bánh răng,… để múc dầu trong cacte té lên các chi tiết. Dầu động bám vào bề mặt các chi tiết hoặc lỗ hứng dầu rồi chảy vao các bề mặt ma sát
Bài Thuyết Trình Của Nhóm 5
BÀI 25:
HỆ THỐNG
BÔI TRƠN
I- Nhiệm vụ và phân loại
1. Nhiệm vụ.
Hệ thống bôi trơn có nhiệm vụ đưa dầu bôi trơn đến các bề mặt ma sát của các chi tiết để đảm bảo điều kiện làm việc bình thường của động cơ và tăng tuổi thọ các chi tiết
2. Phân loại.
Hệ thống phân loại theo phương pháp bôi trơn, có các loại như sau:
Bôi trơn bằng vung té.
Bôi trơn cưỡng bức.
Bôi trơn bằng pha dầu bôi trơn vào nhiên liệu.
II- Hệ thống bôi trơn cưỡng bức.
1. Cấu tạo.
Gồm các bộ phận chính:
Cacte.
Chứa dầu.
Bầu lọc dầu.
Các đường ống dẫn dầu.
Ngoài ra còn có:
Các van an toàn.
Van khống chế.
Két làm mát dầu.
Đồng hồ báo áp suất dầu,…
2. Nguyên lí làm việc
Trường hợp làm việc bình thường:
Khi động cơ làm việc, dầu bôi trơn được bơm 3 hút từ cacte 1 và được lọc sạch ở bầu lọc 5, qua van 6 tới đường dầu chính 9, theo đường 10, 11, 12 để đến bôi trơn các bề mặt ma sát của động cơ, sau đó trở về cacte.
( Bộ lọc dầu 5 la loại lọc dầu li tâm, một phần dầu trong bầu lọc được dùng để tạo momem quay cho bầu lọc, sau đó chảy về cacte.)
Các trường hợp khác
Nếu áp suất dầu trên các đường vượt quá giá trị cho phép, van 4 sẽ mở để một phần dầu chảy ngược về trước bơm.
Nếu nhiệt độ dầu cao quá giới hạn định trước, van 6 đóng lại, dầu đi qua két làm mát 7, được làm mát trước khi chảy vào đường dầu chính 9.
THÔNG TIN BỔ SUNG
1. Tác dụng dầu bôi trơn: không chỉ có tác dụng bôi trơn các bề mặt ma sát mà còn có tác dụng phụ như: làm mát, tẩy rửa, bao kín và chống rỉ.
2. Bề mặt ma sát: là bề mặt tiếp xúc giữa hai chi tiết co chuyển động tương đối nhau.
3. Phương pháp bôi trơn bằng pha dầu bôi trơn: ở động cơ 2 kì, do cacte phải dùng để nén hòa khi nên không thể chứa dầu bôi trơn. Do vậy người ta ha một lượng dầu bôi trơn vào xăng theo tỉ lệ nhất định(1/20 ÷ 1/30). Khi vào trong cacte, các hạt bôi trơn có trong hòa khí sẽ đọng bám vào bề mặt các chi tiết cần bôi trơn hoặc lỗ hứng dầu rồi chảy vào bề mặt ma sát.
4. Phương pháp bôi trơn băng vung té: Phương pháp bôi trơn vung té là lợi dụng chuyển động quay của các chi tiết như má khuỷu, đầu to thanh truyền, bánh răng,… để múc dầu trong cacte té lên các chi tiết. Dầu động bám vào bề mặt các chi tiết hoặc lỗ hứng dầu rồi chảy vao các bề mặt ma sát
 







Các ý kiến mới nhất